1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN TÚ
DẠY NGHĨA CỦA TỪ VÀ CÁC LỚP TỪ CÓ
QUAN HỆ VỀ NGỮ NGHĨA CHO HỌC SINH LỚP 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, 2011
HÀ NỘI, 2011
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu viết luận văn tại
trường ĐHSP Hà nội 2, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm tận tình dạy bảo
của các thầy cô trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu viết luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô, đặc biệt là bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất đến TS. Phạm Thị Hòa - người đã dành rất nhiều thời gian và
tâm huyết để hướng dẫn, nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy cô và học
sinh của hai trường tiểu học Khám Lạng, và tiểu học Thị Trấn Đồi Ngô huyện
Lục Nam đã tạo điều kiện giúp tôi tham gia điều tra, khảo sát và tổ chức dạy
thực nghiệm. Đồng thời cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên tiểu học
Phòng GD&ĐT huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang đã chỉ đạo, chia sẻ giúp tôi
thực hiện luận văn này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của quý thầy cô và
đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2011
Học viên thực hiện
Nguyễn Văn Tú
5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
…………………………………………… … …… T 1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên c
ứu
4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Giả thuyết khoa học 4
7.Bố cục luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG
6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
……… …… 6
1.1. Cơ sở lý thuyết
… …………………………….….…… ……… 6
1.1.1. Khái quát về nghĩa của từ
……………………… …… …….… 6
1.1.1.1. Các thành phần nghĩa của từ…………………………… ….……. 7
1.1.1.2. Hiện tượng nhiều nghĩa của từ………………… …… ….…… 12
1.1.2. Các quan hệ ngữ nghĩa trong từ
…………………….…… …… 16
1.1.2.1. Quan hệ đồng nghĩa và hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt 16
Tiểu kết chương 1
45
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP DẠY NGHĨA CỦA TỪ VÀ CÁC
LỚP TỪ CÓ QUAN HỆ VỀ NGỮ NGHĨA CHO HỌC SINH LỚP 5 47
2.1. Dạy nghĩa của từ cho học sinh lớp 5
47
2.1.1. Các biện pháp giải nghĩa từ cho học sinh lớp 5
48
2.1.1.1. Giải nghĩa bằng định nghĩa 49
2.1.1.2. Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái
nghĩa
58
2.1.1.3. Giải nghĩa theo cách miêu tả 61
2.1.1.4. Giải nghĩa theo cách phân tích từ ra từng tiếng và giải nghĩa từng
tiếng này
62
2.1.2. Các biện pháp tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ có giá trị nghệ
thuật trong văn bản Tập đọc 62
2.1.2.1. Nhận diện các từ ngữ nghệ thuật 63
2.1.2.2. Đặt từ cần tìm hiểu trong hệ thống để phân tích 64
2.1.2.3. Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa chính và nghĩa chuyển của từ
nhiều nghĩa
3.2. Thiết kế và tổ chức thực nghiệm
90
3.2.1. Giáo án thực nghiệm. 90
3.2.2. Giáo án thực nghiệm…………………… ……….… ………… 96
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm
…………………………….………… 101
3.3.1. Kết quả thực nghiệm………………………… …….……………. 101
3.3.2. Nhận xét kết quả thực nghiệm…………………… …………… 102
3.3.2.1. Nhận xét giờ dạy thực nghiệm……………… …… …………… 102
3.3.2.2. Nhận xét kết quả bài làm của học sinh……… …… ….………… 107
KẾT LUẬN
111
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
8
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTB Dưới trung bình
ĐC Đối chứng
dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Việc dạy từ ngữ ở tiểu học sẽ
tạo cho học sinh có năng lực từ ngữ, giúp cho học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ,
có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn diện. Vốn từ của học sinh càng
giàu bao nhiêu thì khả năng chọn từ càng lớn, càng chính xác, hoạt động giao
tiếp sẽ thể hiện rõ ràng và đặc sắc hơn.
Quyết định số 43/BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ giáo dục và đào
tạo đã nêu rõ Mục tiêu của môn Tiếng Việt đó là:
(1) Hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học các kỹ năng sử dụng
tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản, gắn trực
tiếp với việc học tiếng Việt, nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt
để học tập ở cấp tiểu học và cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi
trường hoạt động lứa tuổi. Thông qua việc dạy tiếng Việt, góp phần rèn luyện
cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán )
(2) Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,
về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài để từ đó.
(3) Góp phần bồi dưỡng tình yêu, cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực,
lòng tốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và
thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, và hình thành nhân
cách con người Việt Nam hiện đại. Có tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và có
khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.
Với mục tiêu như trên, môn Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quan trọng,
giúp trẻ chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành và phát triển năng lực sử dụng
10
tiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp. Ngay từ bậc tiểu học, học sinh
được chú trọng dạy từ, trong đó dạy giải nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ
về ngữ nghĩa là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Mặc dù vấn đề nghĩa của từ, các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa và việc
dạy vấn đề này ở trường tiểu học không gây nhiều tranh cãi như việc dạy nội
Thiều - Lê Hữu Tỉnh trong “Dạy học ngôn ngữ ở tiểu học” đã đưa ra một số
biện pháp giải nghĩa của từ, một số bài tập dạy học sinh tìm từ đồng nghĩa,
trái nghĩa. Nhưng phạm vi nghiên cứu của các tác giả là hoạt động dạy và học
các nội dung trên theo chương trình và sách giáo khoa trước năm 2000. Luận
văn của chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình đi
trước và đi sâu hơn đến việc dạy nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ
nghĩa cho học sinh lớp 5 theo chương trình tiếng Việt hiện hành. Đây là nội
dung mà các công trình đi trước chưa xem xét một cách hệ thống và cụ thể.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm nâng cao năng lực hiểu nghĩa của từ và kĩ năng sử dụng các lớp
từ có quan hệ về nghĩa trong hoạt động lĩnh hội, hoạt động sản sinh văn bản
cho học sinh lớp 5.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích trên luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Tổng hợp những vấn đề lý thuyết và thực tiễn để xây dựng được cơ sở
lý luận cho đề tài.
- Tìm các biện pháp dạy nghĩa của từ và xây dựng được hệ thống bài tập
rèn kĩ năng sử dụng các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa cho học sinh lớp 5.
- Tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của những đề
xuất mà luận văn đã đưa ra.
12
4. ĐÔI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động dạy học nghĩa của từ
và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa cho học sinh lớp 5.
4.2. Phạm vi nghiên cứu hoạt động dạy học nghĩa của từ được giới hạn
theo chuẩn kiến thức cần đạt được cho học sinh lớp 5 và hoạt động dạy học
các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa chỉ được tiến hành ở phạm vi các lớp từ
đồng nghĩa, trái nghĩa.
14
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Khái quát về nghĩa của từ
Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ (hay một ngữ cố
định) gợi ra khi chúng ta tiếp xúc với từ đó. Nhờ nghĩa của từ mà chúng ta kết
hợp từ với từ để tạo nên nghĩa của câu và nhờ nghĩa của từ trong một câu mà
chúng ta hiểu được câu đó.
Khi nghiên cứu vấn đề nghĩa của từ, người ta thấy có khá nhiều nhân
tố liên quan tới việc hình thành nghĩa của từ như: hình thức ngữ âm của từ, sự
vật hiện tượng được gọi tên, khái niệm được từ biểu thị, những yếu tố thuộc
hệ thống ngôn ngữ chi phối liên quan đến nghĩa của từ; tình cảm, thái độ, ý
thức tư tưởng, cách cảm nghĩ của người sử dụng ngôn ngữ; văn cảnh mà từ
xuất hiện….Trong các nhân tố nói trên, những nhân tố được coi là quan trọng
nhất liên quan đến việc hình thành nghĩa từ vựng của từ là sự vật, hiện tượng
được gọi tên, khái niệm được từ biểu thị là những yếu tố thuộc hệ thống ngôn
ngữ. Có thể hình dung quá trình hình thành nghĩa của từ như sau: sự vật, hiện
tượng trong thực tế khách quan phản ánh vào tư duy con người thành các khái
trong từ, trong ngôn ngữ. Cũng cần biết thêm rằng: sự vật, hiện tượng, tính
chất…tồn tại trong thực tế khách quan mang tính cụ thể, cá thể, đơn lẻ, phong
phú, đa dạng…nhưng nghĩa biểu vật lại mang tính khái quát. Nó chỉ cả chủng
loại sự vật, hiện tượng chứ không nhằm chỉ riêng một sự vật, hiện tượng nào
(trừ các danh từ riêng trong ngôn ngữ) thì nghĩa biểu vật tương ứng với một
sự vật cá biệt.
16
Nghĩa biểu vật của từ còn là phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng.
Nghĩa biểu vật của từ “sủa” là các loài chó. Gà, vịt không phải là nghĩa biểu
vật của “sủa” (trong thực tế nếu chúng ta dùng từ “sủa” cho người thì đã vật
hóa thậm chí là chó hóa người được nói tới. Nghĩa biểu vật của từ chăm chỉ,
hiền lành, thông minh, cần cù…là người; động vật, đồ vật, cây cỏ…không
phải là nghĩa biểu vật của những động từ này. Còn khi ta nói chú mèo thông
minh, chị chổi chăm chỉ thì ta đã nhân hóa, đưa phạm vi biểu vật của từ
chăm chỉ, thông minh sang phạm vi biểu vật mới.
Khi dạy Luyện từ và câu, sự hiểu biết về thành phần nghĩa biểu vật rất
cần thiết cho giáo viên trong hoạt động dạy nghĩa từ. Biện pháp giải nghĩa từ
theo lối trực quan đưa ra tranh, ảnh, hoặc là vật thật để cho học sinh hình
dung ra sự vật, hiện tượng mà từ gọi tên chính là giải nghĩa thành phần nghĩa
biểu vật. Nghĩa biểu vật của từ được người bản ngữ nhận biết từ rất sớm là
loại nghĩa mà trẻ em làm quen tiếp xúc đầu tiên. Khi có ý niệm phân biệt sự
vật này và sự vật kia, hoạt động này với hoạt động khác các em sẽ có cơ sở
tiến tới phân biệt các thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật hiện
tượng và mới hiểu sự vật hiện tượng ấy là gì.
Như vậy có thể kết luận: nghĩa biểu vật là một phạm trù của ngôn ngữ,
là kết quả của sự ngôn ngữ hóa các sự vật ngoài ngôn ngữ.
b, Nghĩa biểu niệm
Có thể nói một cách khái quát nghĩa biểu niệm của từ là thành phần
nghĩa chứa đựng những hiểu biết của con người về những thuộc tính bản chất
nghĩa biểu niệm cụ thể của từng từ.
Ví dụ: Nét nghĩa (sự vật), (đồ dùng học tập) có mặt trong tất cả các từ
sách vở, bút, êke, thước kẻ. Hoặc nét nghĩa (hoạt động), (di chuyển, dời chỗ)
là nét nghĩa chung của các từ đi, chạy, nhảy, lăn, lê, bò… có thể khái quát lại:
18
ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái
quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự, một quan hệ nhất định.
c, Nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái là thành phần nghĩa biểu thị tình cảm, thái độ đánh giá
xấu tốt đi kèm với nghĩa biểu niệm. Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ
là các nhân tố: nhân tố cảm xúc dễ chịu, khó chịu, sợ hãi; nhân tố thái độ như
trọng khinh, yêu, ghét và những nhân tố đánh giá như: to, nhỏ, nặng, yếu, tốt,
xấu…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe cảm nhận được.
Nghĩa biểu thái phản ánh quan hệ của người sử dụng ngôn ngữ đối với từ.
Ví dụ: Hai từ “ ngoan cố, ngoan cường” có cùng nghĩa biểu vật, biểu
niệm nhưng khác nhau về nghĩa biểu niệm. Ngoan cố có nghĩa xấu còn ngoan
cường có nghĩa tốt tán dương.
Ba thành phần nghĩa trên nghĩa biểu vật, biểu niệm được gọi gộp chung
là nghĩa từ vựng. Nó phản ánh ba góc nhìn về các quan hệ khác nhau của từ:
quan hệ giữa từ với sự vật hiện tượng thực tế khách quan, quan hệ giữa từ với
khái niệm, và quan hệ giữa từ với người sử dụng. Vì từ là môt thể thống nhất
cho nên mỗi thành phần ý nghĩa là một trong những phương diện khác nhau
của thể thống nhất đó. Sự hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của từ là hiểu biết thấu
đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối
liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng.
Dạy nghĩa của từ cho học sinh tiểu học, mặc dù khó nhưng vẫn phải
giảng như thế nào đó để cho học sinh hiểu một cách cơ bản các thành phần ý
nghĩa trên.
Ví dụ: Khi giải nghĩa có thể Gv cho học sinh quan sát tranh, nhìn thấy
20
chỗ/….Trong hai câu: Anh trinh sát lăn một vòng tránh đạn và Người công
nhân lăn chiếc thùng.
Như thế, chúng ta thấy nghĩa ngữ pháp là một bộ phận trong nghĩa biểu
niệm của từ, quyết định khả năng kết hợp các từ với nhau.
1.1.1.2. Hiện tượng nhiều nghĩa của từ
a, Từ nhiều nghĩa là gì ?
Sự vật hiện tương trong đời sống xã hội thì nhiều vô tận. Xã hội càng
phát triển thì sự vật mới càng nảy sinh. Số lượng các từ đã có, số lượng các từ
mới được tạo ra, kể cả vay mượn, dù nhiều đến đâu cũng không đáp ứng nổi
nhu cầu gọi tên các sự vật mới đó. Ngôn ngữ phải dùng đến biện pháp dùng
các tên gọi đã có (tức các từ) để gọi tên sự vật mới. Cộng thêm nhiều nguyên
nhân khác, hiện tượng nhiều nghĩa ra đời.
Từ nhiều nghĩa là từ ngoài nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm đầu tiên
còn được dùng để biểu thị nhiều nghĩa biểu vật và nhiều nghĩa biểu niệm khác
nữa.
Sau đây là một số ví dụ (các ví dụ sẽ không phải giải thích giữa các
nghĩa mà chỉ nêu các sự vật tiêu biểu cho một nghĩa biểu vật nào đó).
Chân: 1: chân người, chân con vật
2: chân giường, chân tủ, chân ghế
3: chân tường, chân đồi, chân trời
4: chân răng, chân tóc
5: chân trong đội bóng, chân tổ tôm
6: thơ mười hai chân (mười hai âm tiết – nghĩa này vay mượn từ thi
luật tiếng Pháp).
Chậm: 1: đi chậm, làm chậm
2: đến chậm, chậm chân
Phất phơ: 1: tà áo phất phơ
+ Chỉ tuổi trẻ, sức trẻ (tuổi xuân, sức xuân…)
+ Một năm ( xuân này kháng chiến đã năm xuân)
(3) Từ thẻ
+ Vật chứng nhận địa vị xã hội của một người ( thẻ ngà: Quan lại phong kiến
dùng đeo trước ngực, trên có ghi chức tước, phẩm hàm…)
+ Giấy chứng nhận (thẻ thuế thân, thẻ đảng viên, thẻ học sinh, thẻ nhà báo…)
b.2. Phân loại theo quan điểm đồng đại
Đối tượng của sự phân loại ở đây là tất cả các nghĩa hiện dùng của từ
đa nghĩa. Tiêu chí phân loại là dựa vào những đặc trưng, tính chất nghĩa của
từ về các mặt: khả năng hoạt động tự do hay lệ thuộc, khả năng kết hợp cao
hay thấp, phạm vi sử dụng rộng hay hẹp. Từ đó, người ta phân các nghĩa khác
nhau của từ đa nghĩa thành ba loại: nghĩa chính, nghĩa phụ, nghĩa tu từ.
- Nghĩa chính: là nghĩa cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển nghĩa của
từ, là nghĩa hoạt động tự do, có tính chất độc lập, không hoặc ít phụ thuộc vào
văn cảnh, có khả năng kết hợp rộng nhất, là nghĩa được sử dụng nhiều nhất
trong một thời đại nhất định.
Một số ví dụ:
(1) chân: chỉ chi dưới của người, động vật
(2) càng: kim loại quý bền vững
(3) chạy: dời chỗ bằng chân với tốc độ cao
(4) chín: chỉ trạng thái phát triển cao nhất của quả, cây
- Nghĩa phụ: là loại nghĩa cũng đã được cố định hóa nên nó là loại
nghĩa trong ngôn ngữ, trong hệ thống. Nghĩa phụ còn được gọi là “nghĩa
bóng”.
Ví dụ:
(1) Từ chân có các nghĩa phụ:
+ Bộ phận dưới của đồ vật: chân bàn, chân ghế, chân tủ,…
23
+ Vị trí dưới cùng của sự vật: chân đồi, chân núi, chân trời, chân
Việt
a, Khái quát về hiện tượng đồng nghĩa
Đồng nghĩa trước hết là một loại quan hệ giữa các từ trong trường
nghĩa như quan hệ cấp loại, quan hệ toàn bộ - bộ phận. Các đơn vị từ vựng
trong một trường nghĩa có những nét nghĩa đồng nhất, chủ yếu là nét nghĩa
biểu niệm, thì có quan hệ đồng nghĩa với nhau.
Nghĩa biểu niệm của các từ là một cấu trúc gồm nhiều nét nghĩa. Quan
hệ đồng nghĩa giữa các đơn vị từ vựng chỉ xuất hiện khi: các nét nghĩa đầu
trong nghĩa biểu niệm của các từ đồng nhất với nhau. Những nét nghĩa đồng
nhất này phải kế tiếp nhau theo cùng một cách sắp xếp (một trật tự) như nhau
ở các đơn vị từ vựng đang được xem là có quan hệ đồng nghĩa với nhau.
- Về số lượng, số lượng các nét nghĩa đồng nhất càng lớn thì các đơn vị từ
vựng càng đồng nghĩa.
- Trong nghĩa biểu niệm của các đơn vị từ vựng không xuất hiện những nét
nghĩa trái ngược, loại trừ nhau.
So sánh từ cắt với từ thái và từ chặt thì thấy:
a,1. Các từ này đều có những nét nghĩa đồng nhất: /tác động đến một
vật x/, /làm cho x chia ra từng phần rời nhau/, /bằng một dụng cụ có lưỡi sắc/.
Như vậy có thể kết luận, giữa các từ này có quan hệ đồng nghĩa.
a,2. Cắt và thái cả hai có nét nghĩa cách thức tác động giống nhau: /
đặt dụng cụ có lưỡi sắc lên trên x rồi tạo ra lực đẩy theo chiều ngang/. Nét
nghĩa cách thức này không xuất hiện ở từ chặt: khi chặt một cái gì đồng thời
ta phải/đặt dụng cụ ở một khoảng cách đủ lớn để tạo ra đủ lực tác động theo
chiều thẳng góc với x làm cho x chia thành từng phần/. Mặt khác, nếu khi
25
chặt, x có một độ cứng hay độ dài khó tách rời thì ta cắt hay thái không có
đặc tính này. Do đó cắt và thái đồng nghĩa với nhau nhiều hơn là chặt. Tuy
nhiên, cắt và thái không đồng nghĩa hoàn toàn vì động từ thái có hạn chế biểu
vật ở chỗ nó thường chỉ dùng với x là loại thịt, cá, rau…trong khi chúng ta có