BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II
TRẦN THỊ THANH THUỶ
THI PHÁP NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT ĂN MÀY DĨ
VÃNG VÀ KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG CỦA CHU LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÍ LUẬN VĂN HỌC
HÀ NỘI, 5 – 2012
1
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất đến PGS.TS Hà
Công Tài- người đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
của thời đại mới. Nếu ở giai đoạn trước 75, nhân vật tiểu thuyết thường mang
tính sử thi, cao cả, thì từ sau 75, do hiện thực và quan niệm về con người đã
có nhiều thay đổi, con người được nhận thức với tất cả sự phức tạp, đa chiều,
vừa vĩ đại vừa đời thường, con người luôn tự đấu tranh để vươn tới sự hoàn
thiện bản thân… thì nhân vật tiểu thuyết cũng mang những nét mới.
Khi văn học nước nhà đang có những đổi mới quan trọng thì nghiên
cứu thi pháp nhân vật có một ý nghĩa đặc biệt. Bởi lẽ nói như nhà văn Tô
Hoài “nhân vật là nội dung duy nhất, tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy
trong một sáng tác”, “ Nhân vật là trụ cột sáng tác, phải chuẩn bị cho nhân vật
trước tiên”[31]. Hơn nữa tiểu thuyết của Chu Lai có những nét tiêu biểu cho
dòng tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, vì thế chúng tôi chọn tiểu thuyết của ông để
hình thành đề tài luận văn.
1.2. Chu Lai là nhà văn từng trực tiếp chiến đấu ở chiến trường. Vốn
sống, tài năng, niềm khát khao luôn tự làm mới mình khiến văn Chu Lai
không lẫn vào bất cứ phong cách văn nào khác. Nhiều tác phẩm của ông đã
khắc thành công những tính cách được tôi luyện trong lò lửa chiến tranh,
những số phận.
3
Như nhiều nhà văn cùng thời, Chu Lai thay đổi điểm nhìn hiện thực từ
điểm nhìn dân tộc sang điểm nhìn thế sự, đời tư. Nhân vật vì thế được xem
xét ở nhiều góc độ, cụ thể và toàn diện hơn. Thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết Chu Lai phong phú đa dạng, nhiều tầng lớp, nhiều hạng người, nhiều
kiểu loại: Kẻ phản bội, người anh hùng, con người ngoan cường, dũng cảm,
cao thượng trong chiến tranh, con người bị tha hoá, con người phải đấu tranh
để tránh những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của những cám dỗ vật
chất hiện tại…Con người luôn ở ranh giới của tốt - xấu, thiện – ác…
1.3. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết bàn về tác phẩm
của Chu Lai và những vấn đề đặt ra. Phần lớn khẳng định những thành công
của nhà văn. Ý kiến của một số nhà văn, nhà nghiên cứu như: Hồng Diệu,
Phạm Thị Hằng, Nguyễn Hoà, Bùi Việt Thắng, Xuân Trường… chủ yếu đề
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thi pháp nhân vật tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng
cuối cùng của Chu Lai làm nổi bật nét đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai. Đồng thời góp phần tìm
hiểu lĩnh vực khoa học thi pháp nhân vật tiểu thuyết.
Khẳng định thành công và chỉ ra những hạn chế của Chu Lai trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật, góp phần đánh giá vị trí của Chu Lai trong nền
văn học đương đại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tập trung tìm hiểu Thi pháp nhân vật tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và
Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai. Luận văn chỉ khảo sát chủ yếu ở hai
tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng cuối cùng, các tác phẩm khác
của nhà văn chỉ sử dụng làm tài liệu hỗ trợ và so sánh để làm rõ vấn đề khi
cần thiết.
5
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Luận văn Thi pháp nhân vật tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và
Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là phương pháp nghiên cứu thi pháp học, tập trung làm sáng tỏ lý luận thi
pháp nhân vật tiểu thuyết.
4.2. Nghiên cứu vấn đề từ hai chiều đồng đại và lịch đại, có những đối
chiếu, so sánh và đánh giá. Nhìn nhận vấn đề trên cơ sở lý luận thi pháp học
hiện đại, đối chiếu với lý luận thi pháp học truyền thống. Bám sát lý luận về
tiểu thuyết, nhân vật tiểu thuyết và đặc trưng thể loại tiểu thuyết.
4.3. Phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác, chủ yếu là phương
pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Nhân vật tiểu thuyết và hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết
khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho
những đặc điểm giống con người”. [22; tr.1254]
Theo giáo trình Lý luận văn học- Phương Lựu (chủ biên) “ Nhân vật
văn học là con người được miêu tả thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện
văn học.” [63; tr.277]
Căn cứ theo những quan niệm trên về nhân vật văn học, có thể hiểu
rộng nhân vật trong tác phẩm văn học bao gồm: nhân vật có tên hoặc không
7
có tên, được miêu tả đầy đặn về ngoại hình, nội tâm, tính cách và tiểu sử(
thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch); hoặc có những nhân vật không được
miêu tả những nét trên nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn(nhân vật
trần thuật) hoặc nhân vật chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận( nhân
vật trữ tình trong thơ trữ tình). Khái niệm nhân vật có khi còn được sử dụng
một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể mà chỉ một hiện tượng nổi
bật trong tác phẩm.( Ví dụ: nhân vật chính trong Chiến tranh và hòa bình của
L.Tônxtoi là nhân dân.)
Chức năng quan trọng nhất của nhân vật văn học là phản ánh hiện thực.
Bởi nhân vật được miêu tả hướng tới xây dựng hình tượng để phản ánh hiện
thực, cắt nghĩa đời sống.
Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về
con người. Vì vậy nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật mang tính ước
lệ, không thể bị đồng nhất với con người thật ngay cả khi tác giả xây dựng
nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật.
Nhân vật văn học khác nhân vật trong hội họa, điêu khắc ở chỗ nó bộc
lộ mình trong “hành động” và “ quá trình”. Nhân vật văn học luôn hứa hẹn
những điều sẽ xảy ra và những điều chưa biết trong quá trình giao tiếp. Nhân
vật văn học mang tính chất “hồi cố” vì mỗi bước phát triển đều làm nhớ lại
công thức nhận biết ban đầu, làm cho nó sâu thêm hoặc điều chỉnh cho nó xác
đáng nhưng không bao giờ bỏ quên hoặc xa rời chuẩn ban đầu.
Khi nói đến nhân vật văn học người ta còn đề cập đến khái niệm vai
vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ
vị trí then chốt của cốt truyện hay tuyến cốt truyện. Đó là con người liên quan
9
đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ
bản của mình. Trong nhân vật chính của tác phẩm nổi lên những nhân vật
xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa, đó là nhân vật trung tâm.
Nhân vật trung tâm là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể
hiện các vấn đề trung tâm của tác phẩm.
Nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ.
Chúng là bộ phận không thể thiếu, hàm chứa những tư tưởng quan trọng của
tác phẩm.
Ngoài ra, có thể căn cứ vào phương diện hệ tư tưởng, quan hệ với lý
tưởng, nhân vật được chia làm nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. Sự
phân biệt này gắn với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội.
Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm, tư tưởng đạo đức tốt đẹp
của tác giả, cũng có khi của dân tộc, thời đại. Thường là, nhân vật chính diện
thời nào cũng tập trung lí tưởng xã hội và lí tưởng thẩm mỹ thời đại mình.
Nhân vật phản diện mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lí và lí
tưởng, đáng lên án, đáng phủ định.
Ngày nay, các nhà văn hiện thực đã đổi mới khái niệm nhân vật chính
diện. Họ khẳng định nội dung, lí tưởng của nó, nhưng giải phóng nó khỏi sự lí
tưởng hóa. Các phẩm chất chính diện ở đây phản ánh các phẩm chất chính
diện của con người hiện thực, bộc lộ trong thực tế, được nhà văn khái quát
nâng cao chứ không tưởng tượng ra. Trong nhân vật hiện thực, không dễ tách
bạch nhân vật chính diện và phản diện, việc phân biệt này có khi chỉ mang
tính chất tương đối, ước lệ. Khi liệt nhân vật vào phạm trù nào, chủ yếu là xét
khuynh hướng xã hội và phẩm chất cơ bản của nó.
Ngoài ra, còn một số kiểu cấu trúc nhân vật khác như: nhân vật chức
năng, nhân vật “loại hình”, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
môi trường, đồ vật xung quanh con người. Tất cả những chi tiết đa dạng ấy,
11
khi sử dụng để xây dựng nhân vật, bao giờ cũng đồng nhất với một loại người
nào đó để mang lại cho nhân vật hình thức của một chỉnh thể và không có chi
tiết thừa. Vì vậy mỗi nhân vật văn học chỉ phản ánh được một phạm vi, một
phương diện của hiện thực đời sống phù hợp với vai văn học mà nó đảm
nhiệm, đó là những biểu hiện mọi mặt của con người mà người ta có thể căn
cứ để cảm biết về nó.
Nhân vật được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Mâu thuẫn,
xung đột, sự kiện bao giờ cũng có tác dụng làm nhân vật bộc lộ các phần bản
chất sâu kín của nó.
Nhân vật văn học có thể được miêu tả trực tiếp qua hành động, ý nghĩ,
nhưng cũng có thể miêu tả gián tiếp qua sự cảm nhận của mọi người xung
quanh nhân vật, qua đồ vật, môi trường nhân vật sống. Nhân vật còn được thể
hiện bằng các phương tiện kết cấu, phương tiện ngôn ngữ, phương thức miêu
tả riêng của thể loại.
Sự thể hiện nhân vật văn học bao giờ cũng nhằm khái quát một nội
dung đời sống xã hội và một quan niệm sâu sắc, một cảm hứng tình yêu tha
thiết với cuộc đời. Vì vậy, sự thể hiện nhân vật phải được xem xét trong sự
phù hợp với nội dung nhân vật và kiểu loại nhân vật. Không nên hiểu sự phù
hợp giữa nội dung và kiểu loại nhân vật theo lối một chiều. Bởi vậy, từ góc độ
thi pháp học, ta có thể thấy nhân vật văn học vừa là con người cụ thể được
miêu tả bằng các phương tiện văn học, lại vừa là một cấu trúc chức năng.
1.1.4. Nhân vật như vậy là hình thức văn học để phản ánh hiện thực.
Nhân vật văn học nói chung, nhân vật tiểu thuyết nói riêng có hình thức rất đa
dạng nhằm thể hiện các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống. Việc
hình dung sự đa dạng đặc biệt của nhân vật tiểu thuyết là quan trọng và cần
thiết để tiếp cận tìm hiểu thi pháp nhân vật tiểu thuyết Chu Lai.
12
Tiểu thuyết là thành tựu to lớn của văn học thế giới nói chung. Theo
và con người trong đời thực sợ hãi không dám vượt qua.
Tiểu thuyết là thể loại đầu tiên quan tâm tới số phận con người với tư
cách một thực thể xã hội, được xã hội nuôi dưỡng và nhào nặn. Con người
trong tiểu thuyết là con người cá nhân, cá thể, tồn tại tự do và sống động như
bản chất xã hội của nó. Đi sâu khám phá số phận con người với những chiều
kích sâu xa, những “ ngóc ngách” của tâm hồn và cuộc đời là một trong
những ưu thế mạnh, là phẩm chất tiêu biểu của tiểu thuyết.
Tiểu thuyết luôn chứng tỏ ưu thế của mình trong việc tái hiện con
người chân thực và sống động, thậm chí sống động hơn cả con người thực,
trên cơ sở khai thác khía cạnh đời tư con người. Bởi trước hết một trong
những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết là nó nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư.
Đời sống riêng tư là tiêu điểm miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết. Yếu tố
đời tư càng phát triển, chất tiểu thuyết càng tăng. Tiểu thuyết gần gũi cuộc
sống hơn các thể loại văn chương khác chính bởi nó nhìn cuộc sống từ góc độ
đời tư với yêu cầu tái hiện cuộc sống như một thực tại sinh thành. Nhân vật
tiểu thuyết được miêu tả đan chéo và quan hệ mật thiết với hoàn cảnh lịch sử
xã hội. Nhân vật tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết hiện đại, được xây dựng đầy
đặn từ ngoại hình đến nội tâm, được xây dựng sống động trong quá khứ, hiện
tại và tương lai. Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải- những con người
sống và hoạt động trong những môi trường, hoàn cảnh cụ thể, có tiểu sử, có
những nét đặc trưng riêng về ngoại hình, nội tâm… Những con người đó có
số phận cụ thể và số phận thường tỏ ra khắc nghiệt với họ. Cả tác phẩm thể
hiện sự vận động của nhân vật nhằm cải tạo, thay đổi hoàn cảnh và thay đổi
bản thân.
14
Chỉ ở tiểu thuyết, thể loại dung nạp trong nó mọi yếu tố bề bộn của
cuộc đời bao gồm cái cao cả và cái tầm thường, cái nghiêm túc và cái buồn
cười, cái bi và hài, cái to lớn lẫn cái nhỏ bé… nhân vật mới được tái hiện một
cách đời nhất. Nhân vật tiểu thuyết bị ném ra giữa cuộc đời, vật lộn với cuộc
đời, với những giằng xé nội tâm để biến chuyển. Nhân vật tiểu thuyết giống
dựng nhân vật, nhà văn có thể tùy thích lựa chọn để tạo dựng cho mình một
thế giới nhân vật phong phú, đa dạng, phù hợp với sở thích, cá tính của mình
để miêu tả thể hiện. Mối quan hệ nhà văn- nhân vật trong tiểu thuyết hết sức
phức tạp. Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm của vốn sống trực tiếp
của nhà văn. Nhưng không phải lúc nào nhà văn cũng kiểm soát được những
vận động biến đổi trong nhân vật của mình. Chính trong quá trình xây dựng
nhân vật, sáng tác ra tác phẩm nhà văn cũng dần khám phá bản thân mình qua
từng trang viết.
Nhà văn Pháp Georges Simenon (1903- 1989) quan niệm có hai loại
nhân vật tiểu thuyết “ nhân vật mặc quần áo” và nhân vật “nu” (“nu”- tiếng
Pháp là khỏa thân). “Nhân vật mặc quần áo” là những nhân vật mà dưới
những bộ trang phục xã hội của họ khi quá chật, khi quá rộng, có khi lại là
những con người tự nhiên èo uột, còm cõi. “ Nhân vật nu” là những nhân vật
được tác giả miêu tả ở phần con người tự nhiên bên dưới những trang phục xã
hội, hoàn toàn không có sự ngụy tạo.
So với các thể tự sự khác, đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết, đặc biệt là
tiểu thuyết hiện đại rất phong phú đa dạng. Tính phong phú, đa dạng đó còn
thể hiện rõ hơn khi tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết của các nhà văn cụ thể.
16
1.2. Hệ thống nhân vật- Chức năng miêu tả hoàn cảnh của nhân vật
trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng cuối cùng.
1.2.1. Hệ thống nhân vật là sự tổ chức các quan hệ nhân vật cụ thể góp
phần tạo ra không gian nghệ thuật của tác phẩm, thể hiện chức năng miêu tả
hoàn cảnh của nhân vật. Mối quan hệ thường thấy của các nhân vật là mối
quan hệ đối lập, đối chiếu, tương phản, bổ sung.
Sự phản ánh hiện thực trong các mâu thuẫn, xung đột và sự vận động,
trước hết dẫn đến việc tổ chức các nhân vật đối lập. Đó là sự đối lập thiện- ác,
tốt- xấu, thống trị- bị trị; xâm lược – chống xâm lược… Quan hệ nhân vật đối
lập không chỉ là một phạm trù xã hội học, mà nó còn gắn liền với sự đối lập
cá nhân về phương diện địa vị, cá tính, phẩm chất như dũng cảm- hèn nhát;
cách chính là tính lịch sử xã hội. Nhân vật trong tác phẩm ngoài việc thực
hiện vai trò văn học còn thực hiện vai trò xã hội. Qua hệ thống nhân vật, ta
phần nào thấy được mối quan hệ nội tại trong phẩm và những vấn đề hiện
thực cùng nội dung tư tưởng mà nhà văn gửi gắm.
Chu Lai tổ chức, cấu trúc nhân vật của mình trong từng tiểu thuyết để
tạo hiệu quả nghệ thuật.
1.2.3. Ăn mày dĩ vãng, các nhân vật thể hiện cả quan hệ đối lập và bổ
sung. Quan hệ đối lập thể hiện giữa Hai Hùng, Ba Sương, Hai Hợi, Tường với
Địch. Mối quan hệ đó phản ánh mâu thuẫn lớn giữa những người lính cách
mạng, nhân dân ta với kẻ thù, với những kẻ phản bội, tay sai cho địch. Cuộc
đấu tranh cách mạng chống lại kẻ thù đó lâu dài, cam go, quyết liệt. Đến thời
bình, Địch là hiện thân của loại người xấu, kẻ cản trở sự phát triển của xã hội,
tiếp tục giày xéo lên cuộc sống của người lương thiện, biến của công thành
của tư, dùng vũ lực và hăm doạ để uy hiếp người khác…đó là loại người tiêu
18
cực của xã hội. Nhà văn muốn nói cuộc đấu tranh cách mạng để xây dựng xã
hội tốt đẹp lúc nào cũng cam go quyết liệt, cũng phải đánh đổi bằng máu và
nước mắt. Đi tìm dĩ vãng để không quên một thời, cũng không quên hiện tại.
Quan hệ bổ sung giữa những người đồng đội với Hai Hùng cũng biểu
hiện rất phong phú. Nhờ có những lời nói hành động của những người lính
trong các tình huống chiến trận cũng như giờ phút đời thường mà hai Hùng
hiện lên nổi bật, cao lớn, mạnh mẽ, quyết đoán, thông minh, uy lực…Quan hệ
bổ sung giữa Hai Hùng, Hai Hợi với Ba Sương, làm nổi bật những phẩm chất
tốt đẹp ở Ba Sương như dịu dàng, tinh tế, đa cảm, chung thuỷ, can đảm…
Giữa cuộc chiến quyết liệt, đạn bom không chừa mảnh đất nào, không nhân
nhượng cho bất cứ thứ gì, cho dù đó là tình yêu, thì Ba Sương hiện lên đầy nữ
tính “ Sương đang tắm. Quần kéo cao quá ngực, vai để trần, tóc thả dài trong
nước… Nét tắm của cô gái trong trận mạc, nét tắm tinh khiết, không vẩn đục
mảy may, tắm giữa sự điêu tàn, tắm bên cạnh cái chết, như tắm một lần cho
mãi mãi…Vai mảnh, cổ mảnh, nhỏ và gầy, trắng xanh…”[ 44.tr.67].
và cả người vợ, vừa buồn, vừa thương, vừa…”[44.tr.64]
Chiến tranh đã biến một người đàn bà đầy nữ tính, khao khát cháy bỏng
yêu đương, lòng tràn đầy ao ước, hy vọng vào tương lai, hạnh phúc, trở thành
“người đàn bà i- nốc”, can tràng, dũng cảm, xốc vác mọi việc của đàn ông.
Không có những người như Hai Hợi, cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc không
thể thắng lợi giòn giã và chắc chắn như thế, nhưng cũng nhìn vào cuộc đời
của những người như Hợi lại thấy mặt trái của chiến tranh, nó chỉ đem đến
đau khổ, chia li, biến cái nhìn ngây thơ, trong sáng của biết bao người con gái
thành cái nhìn dữ dội, sắt thép để chống chọi với đạn bom.
20
Tuy nhiên, ngoài quan hệ bổ sung thì chính sự đối lập, tương phản giữa
các nhân vật cũng góp phần làm nổi bản chất, tính cách nhân vật. Đồng thời
mối quan hệ đó còn phản ánh hoàn cảnh xã hội trong chiến tranh. Chiến tranh,
con người sống với nhau bằng tình đồng đội, tình ruột thịt, chiến tranh ác liệt
đến đâu thì người con trai, con gái cách mạng cũng vẫn giữ trọn phẩm cách,
hoàn cảnh khắc nghiệt không làm vơi bớt ở họ niềm tin, niềm khát khao cháy
bỏng tình yêu, hạnh phúc, ngày gặp mặt…
Sau chiến tranh, mọi người trở về với cuộc sống đời thường, không còn
phải đối mặt với chiến tranh nhưng lại phải đối mặt với cuộc sống thời bình
đầy thử thách, đầy nguy cơ, để tồn tại, chen chúc nhau, tranh giành nhau để
sống. Hai Hùng không hòa nhịp được với nhịp sống bon chen ấy, anh vẫn
sống với những ám ảnh về một thời đã qua, ám ảnh về người đàn bà đã một
thời là của mình, đi tìm dĩ vãng xa xôi mà anh ngỡ vẫn đâu đây. Sống nghèo
khó, không màng vật chất và bị bọn người tầm thường ngoài kia coi thường.
Trái hẳn với Hùng, Sương bây giờ là một bà giám đốc với cái tên khác: Tư
Lan. Sương bị cuốn vào những vụ làm ăn nhập nhèm, bị điều khiển bởi thằng
Địch- tên trung úy ngụy, kẻ thù trong chiến tranh. Thằng Địch vẫn giữ nguyên
bản chất trong chiến tranh, độc ác, nham hiểm, luôn tồn tại bằng sự uy hiếp,
mưu mô, thủ đoạn. Địch vừa là kẻ thù vừa là đồng bọn của Ba Sương.
Sự đối lập giữa các nhân vật phản ánh một hiện thực, hiện thực xã hội
dưới quyền của Tuấn, hung ác và mù quáng đi theo một lí tưởng hão huyền,
cuộc đời Hùng là những cuộc săn tìm cộng sản, một thứ tay sai đúng nghĩa,
cứ đi mà không biết mình đi đâu, phục vụ cái gì, vì cái gì. Nhưng rồi cuối
cùng Hùng và Oánh cũng nhận ra nhau, đúng giây phút đó thì họ đều hy sinh.
Dung- con gái Tuấn, làm một điệp viên cừ khôi, trung thành tuyệt đối với
22
cách mạng, trong sáng và dịu dàng như người mẹ của cô. Mỗi nhân vật đều
tôn thờ và trung thành với lí tưởng mình đã chọn, nhưng cuối cùng những kẻ
lầm đường lạc lối cũng nhìn ra sai lầm và quay trở lại.
Mỗi người một con đường, mỗi người một số phận. Giờ phút tưởng gặp
gỡ, đoàn tụ, thì lại là phút giây bi tráng cuối cùng của tình anh em. Mối quan
hệ phức tạp của các nhân vật là hiện thực số phận con người trong chiến
tranh. Những hoàn cảnh éo le, những số phận tội nghiệp, dù ở hai bên chiến
tuyến, họ vẫn là một nhà. Như dự cảm về một ngày thống nhất của đất nước.
Mối quan hệ giữa hai tuyến nhân vật này phản ánh tình hình căng
thẳng, đối đầu, không khoan nhượng giữa ta và địch, sự phức tạp của trận
chiến tâm lý, sự đấu trí cam go giữa hai bên chuẩn bị cho chiến dịch Tây
Nguyên lịch sử.
Tiểu kết
Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng cuối cùng là hình thức tự sự cỡ lớn,
điển hình bởi chất văn xuôi và yếu tố bề bộn của cuộc đời. Nhân vật của hai
tiểu thuyết này được khai thác ở khía cạnh đời tư và đầy nếm trải, từng trải
trong cuộc đời.
Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng
cuối cùng của Chu Lai mang nét chung của hệ thống nhân vật trong tiểu
thuyết hiện thực. Các nhân vật có chức năng miêu tả hoàn cảnh, dẫn ta vào
đời sống của con người trong chiến tranh, đặc biệt ở Ăn mày dĩ vãng nhà văn
còn cho ta trải nghiệm cuộc sống thời bình với bao nhiêu phức tạp, bon chen,
những giằng xé của người lính khi trở về với cuộc sống đời thường. Hai tiểu
nét, phong phú và đa diện nhất vẫn là người lính- những người trực tiếp đối
mặt với kẻ thù, với hiểm nguy, gian khổ và hy sinh.
24
2.1.1. Giữa thời đại cả nước ra trận, toàn dân toàn quân chung sức một
lòng vì nền độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước được đưa lên cao nhất và
khắc sâu vào tư tưởng mỗi người, ai ai cũng vì lợi ích chung của dân tộc, đất
nước thì người lính là hình mẫu đẹp nhất, lí tưởng nhất của thời đại.
Đọc Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, không khí hào hùng của
quân và dân ta ở Tây Nguyên đã đem lại khí thế mạnh mẽ cho mỗi người.
Cuộc chiến cam go, quyết liệt bao nhiêu, vai trò của người lính chỉ huy càng
quan trọng bấy nhiêu. Một Hoàng Lâm, sư đoàn trưởng mặt trận Tây Nguyên,
điềm tĩnh, am hiểu địa hình, thế trận, am hiểu cả kẻ thù. Cả cuộc đời Hoàng
Lâm dành trọn cho kháng chiến. Chiến đấu bí mật, chia xa người yêu, ra
chiến trận mà không hề biết mặt đứa con- kết quả tình yêu với Trang. Cho đến
khi những đứa con lớn lên, cùng tham gia vào cuộc chiến đấu với cha, Hoàng
Lâm đã trở thành người chỉ huy cấp cao đầy kinh nghiệm. Trong hoàn cảnh
ngặt nghèo nhất là đối mặt với sự hy sinh của Oánh- đứa con trai của cô du
kích cứu Hoàng Lâm, ông coi như con ruột, Hoàng Lâm vẫn gắng bình tâm,
nén đau thương để lãnh đạo cuộc phản công thắng lợi. Một già làng Y’Blim,
linh hồn của đồng bào một vùng Tây Nguyên, chỗ dựa vững chắc cho quân
giải phóng. Già tham gia chiến đấu cùng bộ đội, bàn bạc kế sách cùng bộ đội,
đảm nhiệm nhiệm vụ khó khăn mà Đảng và Bộ chính trị giao phó. Già cũng
đã dâng hiến cho Tổ quốc những đứa con, đứa cháu quả cảm, nén đau thương,
mất mát để vì lợi ích dân tộc. Và biết bao sư trưởng, quân đoàn trưởng, chính
ủy viên…đều là những anh hùng trận mạc, linh hồn của anh em chiến sĩ trong
những trận chiến quyết liệt. Không có họ không có người lãnh đạo trực tiếp
cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thắng lợi. Họ là người cán bộ cách
mạng - chỗ dựa tinh thần cho đồng đội.
Hình tượng nhân vật người cán bộ cách mạng trong tiểu thuyết Khúc bi
tráng cuối cùng được xây dựng mang tính sử thi. Nghĩa là từ đầu đến cuối tác