A. Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài.
Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội dặc thù luôn
vận động, biến chuyển. Tiến trình văn học như một hệ thống với sự hình thành, tồn
tại phát triển qua các thời kì lịch sử. Hoạt động nổi bật của tiến trình văn học là các
trào lưu văn học.Trào lưu văn học là một hoạt động có tính chất lịch sử, ra đời và
mất đi trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là một phong trào sáng tác tập hợp
các tác giả, tác phẩm gần gũi nhau về cảm hứng, tư tưởng, nguyên tắc miêu hiện
thực, tạo thành một “dòng sông lớn” có bề thế trong đời sống văn học của một dân
tộc hoặc một thời đại.
Trong các trào lưu văn học lớn trên thế giới, không thể không nhắc đến trào
lưu chủ nghĩa lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học, vừa là phương
pháp sáng tác, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 với
các tác gia tiêu biểu như: Victor Hugo, George Sand, William Blake, Samuel Taylor
Coleridge, Alexander Pushkin …
Chọn đề tài tìm hiểu “Đặc trưng thi pháp Chủ nghĩa lãng mạn qua tiểu thuyết
NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ và NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS của Victor Hugo”, tôi
muốn hiểu biết thêm về thi pháp chủ nghĩa lãng mạn và đại văn hào Victor Hugo-
một tác gia mà tôi yêu thích. Qua đó đưa ra những ý kiến riêng của bản thân cũng
như thực hành những kiến thức thu nhận được qua học phần Tiến trình văn học, góp
phần nhỏ bé của mình vào kho tàng tri thức văn học nói chung.
2. Mục tiêu đạt được.
2.1. Về lí luận.
- Có sự nhìn nhận đúng đắn tổng quát về “ Chủ nghĩa lãng mạn”.
- Nắm bắt được đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn qua tiểu thuyết
NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ và NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS của Victor
Hugo.
- Từ những lí luận chung rút ra một kết luận xác đáng.
2.2. Về thực tiễn.
- Tập thao tác nghiên cứu khoa học.
1
- “Victo Hugo” của tác giả Phùng Văn Tửu.
2
6. Cấu trúc của bài tiểu luận.
Bài tiểu luận này được sắp xếp thành 3 phần theo thứ tự A, B, C.
A. Mở đầu: Giới thiệu chung, hoàn thành các mục cơ bản của bài tiểu luận.
B. Nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đặc trưng thi pháp Chủ nghĩa lãng mạn qua tiểu thuyết NHỮNG
NGƯỜI KHỐN KHỔ và NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS của Victor Hugo.
C. Kết luận: Hệ thống lại những luận điểm, nội dung chính của bài tiểu luận.
3
B. Nội dung.
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
1.1 Chủ nghĩa lãng mạn.
Cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, đánh đổ chế độ phong kiến, là một bước
ngoặt vĩ đại không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu. Chính sự sụp đổ
của chế độ phong kiến và sự hình thành quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến
tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội.
Đối với lớp người thuộc ý thức hệ quý tộc (lớp người cũ), họ cảm thấy bất mãn với
trật tự xã hội mới, các đặc quyền, đặc lợi của họ trước kia hoàn toàn mất sau cuộc
cách mạng này, lo sợ trước các phong trào quần chúng, hoang mang vì tương lai mờ
mịt đồng thời luyến tiếc thời oanh liệt không còn nữa. Một bộ phận tầng lớp tiểu tư
sản bị phá sản khi cách mạng nổ ra nên họ có tâm trạng bi đát.
Đối với lớp người ủng hộ và đặt hy vọng vào cuộc cách mạng thì họ cảm thấy thất
vọng trước thời cuộc, cái họ chống đối không phải là lý tưởng cách mạng mà là
thành quả thực tế của cuộc cách mạng không như họ mong muốn. Chính những
phản ứng đối với xã hội thực tại của họ đã sản sinh ra chủ nghĩa lãng mạn. Cơ sở ý
thức của chủ nghĩa lãng mạn là nền triết học và mỹ học duy tâm cổ điển Đức, bên
cạnh đó còn có sự tác động của chủ nghĩa xã hội không tưởng và chia làm hai
khuynh hướng:
động, tự do.
1.2 Đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn.
Ðúng như nhận định của Marx, khuynh hướng lãng mạn là sự phản ứng đầu tiên đối
với Cách mạng Pháp và tư tưởng Ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó. Văn
học lãng mạn đã kế thừa các nhân tố như: Chủ nghĩa tình cảm ra đời nhằm cân đối
với tính lý trí của văn học Ánh sáng thế kỷ 18 vốn nặng về lý trí. Về triết học, chủ
nghĩa lãng mạn chủ yếu mang tính duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa lãng mạn chịu ảnh
5
hưởng khá sâu của học thuyết “chủ nghĩa xã hội không tưởng” của Owen và Furier.
Nghệ thuật chủ nghĩa lãng mạn thiên về tính trữ tình yêu thiên nhiên như một
phương thức giải thoát, thư giãn, phản ứng với hiện thực xã hội ngột ngạt bon chen.
Văn học lãng mạn vẫn có chú ý ít nhiều đến hiện thực đau khổ của người lao động.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa chú ý xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn
cảnh điển hình, nó là cá nhân dị biệt, ngẫu nhiên, bất chấp sự vận động của hoàn
cảnh khách quan. Đặc biệt, tính nhân đạo tràn ngập các tác phẩm lãng mạn. Nhìn
một cách tổng quát, đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện rõ nét qua
các phương diện sau:
• Về đề tài
Chủ nghĩa lãng mạn tích cực với chủ tướng là Victor Hugo đã chủ trương mở rộng
đề tài. Không phân biệt đề tài cao cả hay thấp hèn. Nếu trong chủ nghĩa cổ điển đề
tài là cảnh sống giàu có, hành động đấu tranh cho lý tưởng cao cả của những ông
hoàng bà chúa hầu như không đề cập đế những khía cạnh đời sống của những tầng
lớp dưới-những người bình dân thì ở chủ nghĩa lãng mạn mọi vấn đề của cuộc sống,
mọi tầng lớp trong xã hội đều ngang nhau trở thành đề tài cho văn học nghệ thuật.
Chủ nghĩa lãng mạn thể hiện tính dân tộc qua việc chủ trương khai thác đề tài lịch
sử của dân tộc mình ( Nhà thờ Đức bà Paris của Victor Hugo, Aivanho của Walter
Scott…). Ngoài ra, chủ nghĩa lãng mạn còn rất đề cao tính trữ tình trong sáng cũng
như rất coi trọng thiên nhiên, coi trọng văn học dân gian. Nói chung, mọi sự quy
định, ràng buộc của chủ nghĩa cổ điển đến chủ nghĩa lãng mạn đều bị phá vỡ.
• Về nhân vật
văn hô hào nghệ thuật thuần túy và đòi cho được nghệ thuật phải phục vụ chân lý,
phản ánh thực tế. Hugo đề ra nhiệm vụ của nghệ thuật là phải phục vụ lợi ích của
nhân dân, sức mạnh của văn chương là ở mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Chủ
nghĩa lãng mạn của Hugo thấm nhuần tinh thần nhân đạo chủ nghĩa. Nó rất gần chủ
nghĩa hiện thực, Aragông gọi Hugo là “nhà thơ hiện thực”. và nhận xét rằng: “Tác
phẩm của ông ra đời trên đống gạch đổ nát của ngục Baxti và chấm dứt khi những
7
nghiệp đoàn thợ thuyền sắp sửa tuyên bố rằng mùa xuân sẽ thuộc về họ ngày 1
tháng 5 tại Chicago. Victor Hugo là tấm gương phản chiếu cách mạng Pháp”. Các
tác phẩm của Hugo phản ánh đời sống cùng cực của nhân dân dưới chế độ tư bản,
phản ánh tâm địa xấu xa bỉ ổi của bọn quý tộc, bọn tư sản thống trị của thời đại. Tác
phẩm của ông cũng mô tả được những con người lao động vùng dậy làm cách
mạng. Hugo đã tiến từ xu hướng quân chủ đến tư tưởng dân chủ xã hội, từ nghệ
thuật lãng mạn đến xu hướng hiện thực. Cuộc đời và tác phẩm của ông tiêu biểu cho
cuộc phấn đấu không ngừng cho cách mạnh, cho tự do dân chủ, cho hòa bình hữu
nghị các dân tộc. Tác phẩm của ông thấm nhuần tư tưởng nhân văn chân chính.
Ngày nay chúng ta đều công nhận Victor Hugo là một nhà văn tiến bộ không những
của nước Pháp mà còn là của toàn nhân loại.
2.1 Đặc trưng thi pháp Chủ nghĩa lãng mạn qua tiểu thuyết NHỮNG NGƯỜI
KHỐN KHỔ và NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS.
Tình yêu thương con người khốn khổ bị đoạ đày như được gieo mầm khắp các tác
phẩm để kết thành những rung động âm vang qua các hình tượng lớn
trong tiểu thuyết của Hugo. “Những người khốn khổ” và “ Nhà thờ Đức Bà Paris”
là hai bộ tiểu thuyết thành công vang dội của đại văn hào Victor Hugo. Sự kết hợp
tài tình giữa các yếu tố nghệ thuật và giao hoà tình thương cảm của tác phẩm đã
đem lại ấn tượng mạnh mẽ về tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn.
Đọc hai bộ tiểu thuyết nếu như không đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ thì
không thể thấy hết những cái hay, cái đẹp cũng như sự tiến bộ lớn về tư tưởng của
tác phẩm. Tiểu thuyết của Hugo chứa chất nhiều yếu tố quen thuộc của tiểu thuyết
trước và sau giai đoạn lãng mạn. Với tư cách là một cá tính sáng tạo, ông đã giữ
mạng, Hugo đã để cho câu chuyện của mình kết thúc đúng như ý định ban đầu khi
xây dựng “Nhà thờ Đức Bà Paris”: “Một tác phẩm văn học phải là một công trình
của trí tưởng tượng, của các biến đổi và những điều dị thường”. Với cái nhìn mới về
cuộc sống, về văn học-nghệ thuật, Victor Hugo đã thay thế những trật tự, những
cách điệu, sự quân bình của khuynh hướng cổ điển bằng những điều phóng túng, vô
trật tự, thiếu quân bình trong cuộc sống thời đại mình. Ông thiêng về bản ngã, thiên
nhiên và Thượng Đế, khoác vào tâm hồn một mối sầu vạn cổ, thể hiện những dự
định sáng tạo táo bạo, mới mẻ và thầm kín nhất.
Cùng với ngôi nhà thờ thâm nghiêm, huyền bí, những thói tục kỳ quặc, luật lệ man
rợ là đủ các hạng người của một xã hội phong kiến thu nhỏ. Mỗi nhân vật ấy lại là
9
biểu tượng về những giới hạn mà bản thân Hugo đã thể nghiệm, về cá nhân mình và
con người nói chung, bởi thế, những nhân vật của Hugo không phải hoàn toàn chết
cứng, trừu tượng mà đã có được sự sống và phức tạp trong đó. Nhờ vậy mà cho tới
nay, dù trào lưu lãng mạn đã qua, thời Trung cổ của phương Tây càng trở nên xa
xôi hơn bao giờ hết đối với độc giả nhiều nước nhưng “Nhà thờ Đức bà Paris” vẫn
là một cuốn truyện được dịch và đọc nhiều nhất trên thế giới với tất cả vẻ ngây thơ,
tươi mát và tình yêu con người tràn ngập trong đó.
“Những người khốn khổ” là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20
năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó.
Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc
lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ. Bộ tiểu thuyết không chỉ nói tới bản chất của
cái tốt, cái xấu, của luật pháp, mà tác phẩm còn là cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch
sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của
nước Pháp đầu thế kỷ 19. Lấy đề tài là xã hội nước Pháp đầu thế kỷ 19 với đầy đủ
những nhân vật thiện-ác, sang-hèn nhưng xuyên suốt tác phẩm ta có thể thấy rõ sự
ưu ái mà Victor Hugo dành cho những con người bình dân, có địa vị thấp trong xã
hội. Bản thân “Những người khốn khổ” có rất nhiều câu chuyện, nhân vật với những
cuộc đời khác nhau, nhưng sợi dây nối những mảnh đời riêng biệt này lại là câu
chuyện về Jean Valjean, người cựu tù khổ sai, người đang cố gắng sống vì một xã
con chiên của linh mục Myriel, tình yêu tuyệt vọng của Fantine và Éponine, tình
phụ tử của Jean Valjean với Cosette. Bên cạnh đó, “Những người khốn khổ” cũng là
một trong những tác phẩm hay nhất của văn học Pháp khi thể hiện tình yêu tổ quốc.
Trong tâm trạng của một người tị nạn, Victor Hugo đã ghi lại từ trí nhớ và trái tim
mình những cảnh vật nước Pháp mà ông yêu quý, đặc biệt là những hình ảnh về
Paris, phông nền chính cho cả tác phẩm. Tác phẩm đã miêu tả ít nhất ba bức tranh
chân thực của lịch sử nước Pháp, đó là trận Waterloo, cuộc nổi dậy của những
người cộng hòa ở Paris năm 1832 và cuộc chạy trốn trong cống ngầm của Jean
Valjean. Tính sử thi của tiểu thuyết cũng thể hiện qua việc miêu tả những xung đột
bên trong tâm hồn con người, đó là sự xung đột giữa cái thiện và cái ác bên trong
Jean Valjean, đó cũng là sự xung đột trong suy nghĩ của Javert trước sự tôn trọng
luật pháp và sự tôn trọng đạo lý con người.
Bạo lực và ôn hoà, cách mạng và tình thương không còn là một thứ ánh sáng phân
đôi, mà đan chéo, hoà quyện và giằng xé ngay trong lòng một nhân vật lí tưởng như
11
Jean Valjean-nhân vật trung tâm thể hiện những ảo tưởng lãng mạn biến cải thế giới
bằng tình thương, đã có lúc lên chiến luỹ chỉ vì lo hạnh phúc riêng tư của con gái
Cosette, nhưng nhà văn vẫn dẫn con người lí tưởng của mình tới chiến luỹ của
những người Cộng hoà chứ không phải của quân chính phủ. Còn khi Anjonras phải
thay bạn nhằm bắn một tên quốc dân trông giống hệt đứa em trai bạn thì “một dòng
nước mắt long lanh chảy trên gò má lạnh như đá của anh”. Mối băn khoăn giày vò
giữa “ánh sáng đen” và “ánh sáng trắng” từ tác giả thấm vào nhân vật. Hugo hi
vọng giải quyết ba vấn đề “Sự sa đoạ của đàn ông vì bán sức lao động, sự truỵ lạc
của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ thơ vì tối tăm”. Những con người bị vùi
dập hiện ra trong tác phẩm với những vẻ đẹp cao cả. Những rung động đầy chất thơ
và sự suy tưởng khát vọng xoá bỏ nỗi đau khổ của loài người. Nhà văn tin rằng lòng
thương yêu tuyệt đối có khả năng tiêu diệt cái ác và mang lại hạnh phúc cho những
người khốn khổ.
Việc sử dụng ngôn từ một cách hợp lý đã góp phần vào thành công của tác phẩm. Ở
đây do sức chứa rộng lớn của cuốn sách, do đề tài và nhân vật huy động một cách
người khốn khổ” là hai cột mốc tiêu biểu cho hai giai đoạn trước và sau những năm
1848 –1852. Hai bộ tiểu thuyết đã chuyển tải một cách đầy đủ và sâu sắc nội dung
tư tưởng chứa đựng trong nó: lòng thương yêu con người, mong muốn xây dựng xã
hội tốt đẹp bằng giải pháp tình thương… Tác phẩm đã để lại âm vang trong lòng
người đọc không chỉ ở tài năng viết tiểu thuyết độc đáo mà còn ở tấm lòng yêu
thương nhân loại cần lao.
Chủ nghĩa lãng mạn đã thể là một canh tân văn học, được chuẩn bị từ lâu do sự tiến
hóa tư tưởng và cuộc tuần hành liên tục và cấp tiến của các nhà trí thức hướng về
một cái gì mới mẻ xuyên suốt thế kỷ 18. Đó là những tình cảm, đam mê, đặc biệt là
những đam mê của tình yêu, và cũng là những ấn tượng của trí tưởng tượng, nhất là
của sầu muộn. Sầu muộn đó trong văn học gắn liền với những đam mê của tình yêu
cũng như những ấn tượng đến từ những ngoại cảnh thiên nhiên. Tình cảm đó phát
xuất từ tâm niệm cho rằng mọi vật trên đời rồi sẽ qua đi, con người là hữu hạn,
thiên nhiên gò bó, lạc thú hiếm hoi, và những hạnh phúc lớn nhất rồi cũng tan
biến. Suy tư về cái chết gần như luôn luôn đi liền với suy tư về tình yêu. Đam mê và
13
sầu muộn: đó là hai yếu tố chủ yếu mà người ta tìm thấy khắp nơi bên trong nguồn
cảm hứng lãng mạn và được thể hiện đầy đủ qua chủ tướng Victor Hugo. Với đặc
trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn, tiểu thuyết “Nhà thờ Đức bà Paris” và “Những
người khốn khổ” cho chúng ta nhận thức được nhiều yếu tố mới mà trước đó chưa
từng xuất hiện: tình cảm đối với thiên nhiên và mối liên hệ giữa thiên nhiên và cảm
xúc của con người, sự diễn tả sắc bén và mãnh liệt của đam mê làm đảo lộn con
tim, nỗi sầu muộn, nỗi buồn thăm thẳm, ưu tư thầm kín về hư không và về cái chết
pha lẫn với những niềm vui và đau khổ của tình yêu, tính chất trữ tình trong biểu
hiện tình cảm, xúc cảm, đam mê. Tất cả những yếu tố, chủ đề, và kỹ thuật đó đã tạo
nên đặc trưng riêng cho thi pháp chủ nghĩa lãng mạn. Để ngày hôm nay chúng ta có
thể cảm nhận hơi hướng của cả một thời đại trong văn chương - thời đại lên ngôi
của chủ nghĩa lãng mạn, nó sẽ được lưu giữ mãi trong tiến trình văn học và được
đón nhận như một di sản ngàn vàng của nhân loại.
14