dạy học các trích đoạn truyện kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 24

Dạy học các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc
trưng thi pháp thể loại cho học sinh lớp 10 trung
học phổ thông

Đinh Thị Minh Thúy

Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lí luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thúy Hồng
Năm bảo vệ: 2013

Abstract: Vận dụng lí thuyết dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp thể
loại vào dạy các trích đoạn Truyện Kiều cho Học sinh (HS) lớp 10, Trung học phổ thông
(THPT) ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Đề xuất phương pháp, biện
pháp cụ thể vận dụng đặc trưng thể loại vào dạy các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp
10. Thiết kế các giáo án dạy học các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10 theo đặc
trưng thể loại. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.

Keywords: Phương pháp dạy học; Ngữ văn; Thi pháp thể loại; Lớp 10

Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu
1.1. Chương trình đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực sự được chuẩn bị từ những
năm đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau khi ban hành Nghị quyết số 49/2000/QH10,
ngày 19/12/2000 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Xuất phát từ
mục tiêu đổi mới này, các nhà giáo dục cũng xác định rõ: Một trong những trọng tâm của việc
đổi mới đó chính là đổi mới phương pháp dạy học với mục đích tăng cường tính tích cực, chủ
động của HS, hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Với
yêu cầu đổi mới phương pháp, thêm nữa lại có quá nhiều lựa chọn về phương pháp giảng dạy
của các nhà nghiên cứu như Phan Trọng Luận, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Thị

Trước những yêu cầu mới của chương trình Ngữ văn bậc THPT, với hứng thú giảng dạy
tác phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể loại và tình yêu với Truyện Kiều, chúng tôi đã lựa
chọn đề tài: Dạy học các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho học sinh
lớp 10 trung học phổ thông. Đề tài thực sự là một sự hứng thú đối với chúng tôi vì nó đã chạm
đến vấn đề cốt lõi nhất của việc đổi mới dạy học văn từ mục tiêu, cấu trúc và nội dung chương
trình đến phương pháp dạy học. Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi thiết nghĩ việc
nghiên cứu đề tài trong tình hình hiện nay là cần thiết và hữu ích.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn chƣơng theo đặc trƣng thi pháp thể loại
Các tác phẩm Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Phân tích tác
phẩm văn học trong nhà trường của Phan Trọng Luận, Đổi mới phương pháp dạy học Văn -
Tiếng Việt ở trường phổ thông của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn đã cung cấp cho GV
những kiến thức lí luận và phương pháp giảng dạy văn học cơ bản. Với cuốn Những ngả đường
vào văn học, Hoàng Ngọc Hiến đi từ những khái luận đến việc đọc tác phẩm và phân tích tác
phẩm. Trong đó có những bài viết hữu ích cho việc dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
trong nhà trường như: Bàn góp về phương pháp giảng văn, Một ít lí thuyết về trào phúng, Mấy
vấn đề của tiểu thuyết và đặc trưng của thể loại này, Kí và tiểu luận, Đặc điểm của truyện ngắn
hiện đại, Trên cơ sở thi pháp học, tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh trong cuốn Thi pháp học và
vấn đề giảng dạy thi pháp trong nhà trường đã có những khám phá sâu sắc về việc vận dụng một
số thi pháp truyện vào việc giảng dạy truyện. Trong đó, các bài viết Hai đứa trẻ, Về một hướng
tiếp cận tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao có những phát hiện mới mẻ ở bình diện sáng tạo nghệ
thuật, có tính chất định hướng cho việc khai thác vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm truyện được
giảng dạy ở trường phổ thông.
Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp thể loại đã trở thành một xu hướng
và được để cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học. Tiêu biểu như: Vấn đề
giảng dạy văn học theo loại thể của Trần Thanh Đạm, Phương pháp dạy học văn, Phân tích tác
phẩm văn học trong nhà trường của Phan Trọng Luận, Đổi mới phương pháp dạy học Văn -
Tiếng Việt ở trường phổ thông của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn, Những ngả đường vào
văn học của Hoàng Ngọc Hiến, Thi pháp học và vấn đề giảng dạy thi pháp trong nhà trường của
Nguyễn Thị Dư Khánh

đọc – hiểu truyện thơ, hình thành và phát triển ở các em phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn
học, giúp các em trở thành những chủ thể tích cực, sáng tạo trong học tập ngữ văn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng lí thuyết dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp thể loại vào dạy các
trích đoạn Truyện Kiều cho HS lớp 10, THPT ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình.
- Đề xuất phương pháp, biện pháp cụ thể vận dụng đặc trưng thể loại vào dạy các đoạn trích
Truyện Kiều cho HS lớp 10.
- Thiết kế các giáo án dạy học các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10 theo đặc trưng thể loại.
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích
- Phương pháp khái quát, hệ thống hóa. Phân tích, mô tả kết quả thực nghiệm.
8. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: Khẳng định hướng đổi mới đúng đắn của phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo đặc trưng thể loại. Đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy các đoạn trích
Truyện Kiều theo đặc trưng thể loại cho HS lớp 10, THPT.
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng dạy học các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10 nhằm tìm hiểu kết quả
hiện thực hóa tinh thần dạy học theo đặc trưng thể loại của SGK Ngữ văn 10.
+ Đánh giá tính khả thi của việc dạy học những trích đoạn Truyện Kiều, góp phần hoàn thiện mô
hình giờ dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại, đóng góp thêm tư liệu tham khảo soạn
giảng, góp phẩn nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 10.
9. Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho học
sinh lớp 10 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Truyện Nôm là thể loại truyện vừa trung đại, có xu hướng tiểu thuyết hóa. Thi pháp
Truyện Kiều từ góc nhìn thể loại được nghiên cứu trên các phương diện: Tư tưởng nghệ thuật,
mô hình tự sự của Truyện Kiều; Cái nhìn nghệ thuật về con người; Không gian nghệ thuật của
Truyện Kiều; Thời gian nghệ thuật của Truyện Kiều. Qua nghiên cứu cho thấy: xét về nội dung,
Truyện Kiều tiếp tục những vấn đề của ngâm khúc và truyện Nôm trước đó để thực sự đạt được
đỉnh cao của thể loại này; xét về hình thức, Truyện Kiều đã phát triển những nét mới trong thi
pháp truyện Nôm và ngâm khúc lên một trình độ cao chưa từng có biến văn học trung đại thành
văn học nghệ thuật, biến tiếng Việt thành tiếng Việt văn học đích thực, biến truyện Nôm thành
thể loại mang tính “hàn lâm” hơn.
1.1.1.2. Ý nghĩa của vấn đề thi pháp thể loại với việc dạy – học văn học trong nhà trường nói
chung và Truyện Kiều nói riêng
1.1.1.2.1. Ý nghĩa của thi pháp học đối với việc đổi mới cách tiếp nhận, phân tích văn học ở Việt
Nam
Thi pháp học mặc dù mới được áp dụng những đã nhanh chóng khẳng định những ưu
điểm và ý nghĩa to lớn của mình trong việc hiện đại hóa nền lí luận văn học nước nhà. Với một
loại công trình nghiên cứu về thi pháp trong đó đi đầu là GS Trần Đình Sử đã thực sự khẳng định
vai trò to lớn của thi pháp học trong việc đổi mới cách tiếp nhận, phê bình văn học ở Việt Nam,
khai thông những bế tắc trong nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam về vấn đề hình thức.
Nhờ có một hệ thống khái niệm đã được hình thức hóa, một hệ thống lí luận phong phú,
toàn diện, thi pháp học đã trả lời được một loạt những câu hỏi về văn bản, hình thức hóa được
những nội dung vốn trừu tượng, khám phá được những mối quan hệ nội tại trong chiều sâu văn
bản. Tiếp cận bằng thi pháp học đã đưa nền lí luận văn học nước nhà vào quỹ đạo hiện đại hóa,
bắt kịp sự phát triển hiện đại của thế giới.
1.1.1.2.2. Ý nghĩa của vấn đề thi pháp thể loại với việc dạy – học các trích đoạn Truyện Kiều
trong trường THPT
Bằng việc hướng dẫn HS khai thác đối đa các yếu tố cấu thành văn bản, khai thác vẻ đẹp,
giá trị về nội dung và nghệ thuật GV sẽ hình thành cho HS những năng lực cảm thụ văn chương,
biết áp dụng những hiểu biết về ngôn ngữ học vào tiếp nhận văn chương. Xuất phát từ quan niệm
dạy học dựa trên những hiểu biết của HS về văn hóa, văn học và ngôn ngữ vào những tình huống
cụ thể để vận dụng từ văn học vào cuộc sống và từ đó hình thành những giá trị về nhân cách cho

thẩm mĩ, kích thích hứng thú của HS để các em chủ động, tích cực trong việc tiếp nhận Truyện
Kiều một cách hiệu quả.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vấn đề tích cực hóa hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương của học sinh THPT
1.2.1.1. Tích cực và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh THPT
Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác
nói chung trong nhà trường phổ thông hiện nay là tích cực hóa hoạt động học tập của HS và các
hoạt động dạy của GV.
“Tích cực hóa hoạt động học tập của người học được hiểu là PPDH lấy HS làm trung
tâm, trong đó thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của HS, mỗi HS đều được hoạt
động, mỗi HS đều được bộc lộ mình và phát triển”. (Nguyễn Minh Thuyết chủ biên, SGV Tiếng
Việt 5, tập 1, NXBGD, Tr11)
1.2.1.2. Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh THPT trong giờ học Ngữ văn
Trong PPDH truyền thống, quan hệ GV – HS chủ yếu là quan hệ một chiều: GV thuyết
trình, diễn giảng, - HS lắng nghe. Còn trong PPDH hiện đại, quan hệ GV – HS là quan hệ tương
tác: GV giữ vai trò chủ đạo (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS); HS có
vai trò chủ động (tích cực, sáng tạo, tiếp thu tri thức). Vận dụng PPDH theo hướng đổi mới, GV
phải thực sự là nhà sư phạm mới tạo ra được quan hệ tương tác hai chiều với nỗ lực hợp tác từ
phía HS, và chỉ có như vậy GV mới hoàn thành được mục tiêu dạy học.
1.2.1.3. Tích cực hóa hoạt động của học sinh THPT trong giờ học các trích đoạn Truyện Kiều
Trong giờ học các đoạn trích Truyện Kiều, để tích cực hóa hoạt động của người học, GV
không đóng vai trò thuyết trình, diễn giảng, GV không làm thay cho HS mà tổ chức cho HS tác
động vào đối tượng học tập nhằm chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng.
Để dạy các đoạn trích Truyện Kiều theo đặc trưng thể loại, các biện pháp “đọc” văn bản
cần được vận dụng đúng mức trong mỗi công đoạn của quy trình dạy học.
Tích cực hóa hoạt động của HS trong giờ dạy Truyện Kiều nhằm hướng cho HS chủ
động, tích cực tìm hiểu văn bản dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV. GV phải biết khích thích
hứng thú, khơi dậy những điểm ì trong tiếp nhận của HS để khắc phục khoảng cách thẩm mĩ giữa
bạn đọc HS và văn bản truyện thơ Nôm, giữa thế hệ hiện đại với văn bản từ thời trung đại.
1.2.2. Thực trạng dạy các trích đoạn Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn 10

Từ những yêu cầu trên, có thể khái quát cấp độ của năng lực đọc hiểu được đánh giá theo 5
mức cụ thể:
- Lấy thông tin
- Hình thành một sự hiểu biết chung về văn bản
- Phân tích, giải thích văn bản
- Phản ánh và đánh giá nội dung của văn bản
- Phản ánh và đánh giá hình thức của văn bản
2.1.2. Những nguyên tắc của việc dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi
pháp thể loại
Dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp học không chỉ ảnh hưởng sâu rộng làm thay đổi bộ
mặt lí luận của văn học nước nhà, thi pháp học còn đang góp phần to lớn vào việc đổi mới cách
dạy và học văn học trong nhà trường ở nước ta.
Khi tiến hành triển khai dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp học, phải tuân theo những
nguyên tắc như sau:
- Nguyên tắc thứ nhất là: Dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải đi từ văn bản
- Nguyên tắc thứ hai là: dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải tuân theo các
đặc trưng thể loại.
- Nguyên tắc thứ ba là: Dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải đặt HS vào
trung tâm của quá trình dạy học
- Nguyên tắc thứ tư là: dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học phải tích hợp các cách
tiếp cận, các phương pháp, biện pháp và công cụ dạy học một cách thích hợp.
2.2. Một số giải pháp dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trƣng thi pháp thể
loại
2.2.1. Biện pháp đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều từ đặc trưng ngôn ngữ thể loại
2.2.1.1. Ngôn ngữ thể loại của Truyện Kiều
Ngôn ngữ trong Truyện Kiều là một thành tựu vô tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học
dân tộc. Trong môi trường đặc thù là học đường, chúng tôi không nhằm nghiên cứu trên bình
diện khái quát những thành công về ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm cũng như cấu trúc ngôn
ngữ tác phẩm mà xuất phát từ những chỗ HS còn vướng khi tiếp nhận tác phẩm.
Trong Truyện Kiều có hai thành phần ngôn ngữ với hai nguồn gốc khác nhau là từ ngữ

nhà nghiên cứu đã khẳng định hết sức đúng đắn rằng đây không phải là hiện tượng dịch văn học
mà là sự sáng tạo mới, đây là hiện tượng hoán cốt đoạt thai để tạo thành một tác phẩm hoàn toàn
mới. Ngoài ra, Nguyễn Du đã thêm bớt và xử lý khác cốt truyện của nguyên truyện ở các phương
diện: hệ thống nhân vật, thứ tự trình bày các sự kiện, những vấn đề luân lý, triết lý và đôi khi cả
các chi tiết.
Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết trường thiên, trong đó lại chứa đựng rất nhiều câu
chuyện nhỏ. Mỗi trích đoạn Truyện Kiều được coi là một lát cắt chứa đựng một cốt truyện nhỏ
nằm trong cốt truyện lớn của tiểu thuyết trường thiên ấy. Có thể nói, Nguyễn Du đã rất khéo léo
sắp xếp các sự kiện để chúng vừa có thể đóng vai trò chính trong cốt truyện nhỏ lại vừa giữ
những vai trò khác nhau trong cốt truyện lớn khiến người đọc dễ dàng tìm hiểu văn bản qua từng
trích đoạn. Do vậy, muốn tìm hiểu các trích đoạn từ đặc trưng thi pháp cốt truyện, chúng ta cần
đặt cốt truyện nhỏ của mỗi trích đoạn trong quan hệ với cốt truyện lớn để từ đó có các biện pháp
tiếp nhận văn bản hiệu quả.
2.2.2.2. Quy trình đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều từ đặc trưng thi pháp cốt truyện
* Bước 1: GV cung cấp tài liệu và hướng dẫn cho HS tìm hiểu cốt truyện lớn.
- GV cung cấp nguồn tài liệu để HS tìm hiểu, thấy rõ điểm chênh giữa cốt truyện của tiểu thuyết
chương hồi Kim Vân Kiều truyện và Truyện Kiều.
- HS chứng minh được sự sáng tạo của Nguyễn Du khi viết Đoạn trường tân thanh.
* Bước 2: GV hướng dẫn HS tìm hiểu vị trí của đoạn trích trong tác phẩm.
- HS tìm những sự kiện, chi tiết tiết biểu trước và sau đoạn trích.
- Xác định vị trí của đoạn trích trong tác phẩm.
* Bước 3: GV hướng dẫn HS tìm hiểu cốt truyện của đoạn trích từ sự sắp xếp các sự việc, sự
kiện trong văn bản.
- GV yêu cầu HS đọc lại và kể lại được cốt truyện với những sự kiện, tình tiết cơ bản.
- GV tích hợp nội dung kiến thức phân môn Làm văn về thể loại văn tự sự để nhập vai nhân vật
trong tác phẩm kể lại câu chuyện.
- GV yêu cầu HS phát hiện những sự kiện có ý nghĩa quan trọng được coi như những tình huống
truyện có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện tính cách, số phận nhân vật.
- Bước 4: GV huớng dẫn HS lí giải trình tự sắp xếp các sự việc, sự kiện trong văn bản. Trong
Truyện Kiều, các dòng, sự kiện, sự việc được sắp xếp linh hoạt phụ thuộc vào mục đích phản

văn, HS đọc qua thường ít khi chú ý. GV yêu cầu HS đọc kĩ văn bản, tìm và tập hợp các chi tiết
tiêu biểu miêu tả về nhân vật về tất cả các phương diện như nguồn gốc, hành động, tính cách,
tâm trạng,
Nhiệm vụ này nhằm hướng HS đến kĩ năng lấy thông tin của HS từ văn bản để - hình thành
một sự hiểu biết chung về văn bản: Nhận ra được đặc điểm nổi bật của nhân vật và hiểu biết về
văn bản. Kết hợp thông tin trong văn bản đang tìm hiểu với những thông tin có liên quan về nhân
vật ở các trích đoạn văn bản khác, thông tin giữa hai văn bản không liền mạch với nhau.
* Bước 2: GV hướng dẫn HS phát hiện, lựa chọn và cắt nghĩa các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp phân
loại chung theo trình tự hợp lí nhằm làm sáng tỏ tính cách nhân vật
Trong tác phẩm, cần phát hiện và lựa chọn những chi tiết tiêu biểu, có ý nghĩa nhất, có
tác dụng làm sáng tỏ nhân vật. Khi phân tích các nhân vật đó, chúng ta phải sắp xếp, phân loại
các chi tiết về họ theo từng mặt một để có một nhận thức và đánh giá đúng đắn, sâu sắc về họ.
Tùy theo việc miêu tả và tự sự về nhân vật của tác phẩm như thế nào mà ta có thể nêu ra một số
mặt cần phân tích. Đi vào từng mặt một, vừa nhắc lại các chi tiết liên quan chúng ta vừa bình
luận các chi tiết đó từ nhiều phía làm sáng tỏ tính cách nhân vật.
Đối với các nhân vật tiêu biểu trong các trích đoạn Truyện Kiều, để hiểu về các nhân vật
chúng ta cũng cần phát hiện và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp, phân loại chúng theo trình
tự hợp lí về các mặt. Trong khi phân tích nhân vật trong đoạn trích, cần có sự kết hợp giữa các
chi tiết có mặt trong đoạn trích và các chi tiết về nhân vật trong tác phẩm để có sự đánh giá toàn
diện.
* Bước 3: Tổng hợp các mặt phân tích về nhân vật thành một nhận định khái quát, nêu bật được
ý nghĩa và tác dụng nhận thức cũng như giáo dục của nhân vật, gợi ra những vẫn đề liên hệ, suy
nghĩa, thảo luận, tranh luận về nhân vật
Sau khi đã phát hiện, lựa chọn và phân tích những chi tiết có liên quan đến các mặt của
nhân vật, GV cần hướng cho HS đưa ra suy nghĩ, nhận xét về các nhân vật đó. Việc liên hệ, thảo
luận, tranh luận về nhân vật có thể thông qua hình thức vấn đáp hoặc thảo luận nhóm.
Ở mỗi giải pháp chúng tôi đã đưa ra những biện pháp với quy trình thực hiện để cụ thể
hóa cho giải pháp dạy các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thể loại. Chúng tôi đã thiết kế
giáo án thử nghiệm dạy trích đoạn “Trao duyên” cho HS lớp 10, THPT.


đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thể loại. Kết quả thực nghiệm sẽ xác nhận giá trị khoa học và
thực tiễn của những đè xuất đổi mới cách khai thác tác phẩm và phương pháp dạy học Truyện
Kiều trong chương trình Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại.
- Kiếm chứng, xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đề xuất: việc tổ chức hoạt
động học tập tác phẩm văn học trung đại như Truyện Kiều cho HS lớp 10 trên cơ sở vận dụng
những hiểu biết về đặc trưng thi pháp thể loại sẽ hình thành và phát triển ở HS phương pháp tiếp
nhận tác phẩm văn học trung đại nói chung và Truyện Kiều nói riêng; giúp các em trở thành
những chủ thể tích cực, sáng tạo trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tác
phẩm văn học trong nhà trường.
- Tiếp thu ý kiến phản hồi từ phía GV và HS trong quá trình thực nghiệm để điều chỉnh, sửa
chữa, bổ sung, hoàn thiện những đề xuất đổi mới về cách khai thác tác phẩm, cách tổ chức hoạt
động dạy học cho HS.
- Đi đến những kết luận có căn cứ về kết quả nghiên cứu, là gợi ý để người nghiên cứu có thể
tiếp tục suy nghĩ về phương pháp dạy học các tác phẩm thuộc những thể loại khác theo đặc trưng
thi pháp thể loại.
3.1.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
* Đối tượng và địa bàn thực nghiệm: HS lớp 10, GV dạy Ngữ văn 10 ở trường THPT Gia Viễn
A, huyện Gia Viễn, Ninh Bình.
* Thời gian thực nghiệm:
- 1/8/2012-25/8/2012: Biên soạn tài liệu
- 10/9/2012-20/9/2012: Tổ chức dạy thực nghiệm
- 25/9/2-12-10/10/2012: Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.1.3. Nội dung thực nghiệm
– Nội dung thực nghiệm là hoạt động dạy và học Truyện Kiều qua trích đoạn Trao duyên,
chương trình Ngữ văn 10.
– Việc thực hiện các giáo án đi đến những mục tiêu chung như sau:
Giúp HS:
* Về kiến thức:
- Hiểu được nội dung và ý nghĩa của trích đoạn Trao duyên nói riêng và Truyện Kiều nói chung.
- Hiểu được đặc sắc ngôn ngữ Truyện Kiều và ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tài tình của

để kiểm tram đánh giá kết quả học tập của HS sau bài học.
- Mô tả và phân tích kết quả giờ dạy trên lớp, dùng phương pháp thống kê toán học, các phương
pháp so sánh, đối chiếu để xử lí số liệu thu thập được qua thực nghiệm, đi tới những kết luận
đánh giá kết quả học tập của HS, xác nhận tính khả thi và hiệu quả của giờ dạy.
3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.1. Tiến hành kiểm tra
Sau khi GV và HS hoàn thành việc dạy học trích đoạn Trao duyên, chúng tôi tiến hành
hai giờ kiểm tra (kiểm tra 15 phút theo hình thức trắc nghiệm khách quan và kiểm tra 60 phút
theo hình thức tự luận) ở cả hai lớp đối chứng và lớp thực nghiệm với cùng một đề bài.
3.3.2. Kết quả kiểm tra
Kết quả kiểm tra được thống kê và lập bảng số liệu tính ra phần trăm và lập biểu đồ so
sánh giữa hai lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
3.3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm
Sau khi dạy thực nghiệm và kiểm tra kết quả học tập của HS, chúng tôi có những đánh
giá như sau:
- HS qua các giờ học thực nghiệm đã nắm được kiến thức thể loại của Truyện Kiều, rèn luyện kĩ
năng đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại.
- Việc tổ chức dạy học theo tinh thần tích cực hóa hoạt động của người học, sự đa dạng hóa các
hình thức tổ chức dạy học, các kiểu bài học đã tạo cơ hội cho HS trở thành những chủ thể tích
cực, sáng tạo. Các em tỏ ra hứng thú, chủ động hơn trong học tập, mạnh dạn hơn khi phát biểu ý
kiến, trình bày những phát hiện, suy nghĩ, cảm nhận của bản thân, khi trao đổi, đổi thoại, thảo
luận giữa các nhóm, tạo không khí học tập tích cực, sôi nổi trong lớp học.
- Dạy trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thể loại có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục về
nhận thức, tư tưởng, thái độ cho HS.
- Kết quả dạy thực nghiệm cho thấy, dạy tác phẩm văn học văn chương nói chung, dạy trích đoạn
Truyện Kiều nói riêng theo đặc trưng thể loại là một hướng dạy học tiến bộ, hiệu quả, đáp ứng
được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.

thấy việc dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại hoàn toàn có thể thực hiện được.
Kết quả khảo sát trrong quá trình thực nghiệm đã khẳng định tính khả thi của cách dạy học này
cũng như những phương pháp, biện pháp dạy học theo hướng học sinh là bạn đọc sáng tạo.
Hoàn thành luận văn này, chúng tôi mong muốn đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ được
đưa vào áp dụng trong nhà trường phổ thông để giáo viên được tiếp cận với một hướng giảng dạy
mới đổi với những tác phẩm văn chương nói chung và Truyện Kiều nói riêng.
Một số kiến nghị và đề xuất:
Để việc vận dụng phương pháp dạy dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi
pháp thể loại phát huy tối đa hiệu quả, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất:
1. Tiếp thục tiến hành cải cách chương trình, đổi mới phương pháp theo từng cấp học. Mục tiêu
đề ra là phải tiến hành cải cách nhằm mục đích phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo
của HS, đào tạo ra những người chủ tương lai thực sự của đất nước.
2. Tăng cường hơn nữa công tác tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên cho GV. Cung cấp nguồn
thông tin đầy đủ, thường xuyên, tạo điều kiện cho GV được học hỏi, trao đổi với các chuyên gia
và đồng nghiệp về công tác đổi mới phương pháp giảng dạy.
3. GV cần nhận thức việc dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một trong
những hướng khoa học nhất, hiệu quả nhất, vừa có ý nghĩa khoa học cơ bản, vừa thiết thực về
khoa học sư phạm. Nắm vững thi pháp thể loại, người dạy không chỉ hiểu đúng, hiểu sâu hơn tác
phẩm văn học mà còn có khả năng thiết kế có hiệu quả hệ thống hoạt động, thao tác để hướng
dẫn HS cách thức đọc – hiểu tác phẩm.
4. HS cần nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong học tập, đặc biệt là trong tiếp nhận văn bản văn
học. Tăng cường thực hành, nâng cao vai trò người học sẽ giúp HS tiếp nhận kiến thức hứng thú
và hiệu quả.

References
1. Đào Duy Anh (1955): Khảo luận Truyện Kiều, NXB Văn hóa.
2. Đào Duy Anh (1992): Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội.
3. Dƣ Quán Anh (1990): Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1; NXB ĐHTHCN.
4. Nguyễn Viết Chữ (2004): Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể,
NXB ĐHQG Hà Nội.

23. Nguyễn Thái Hòa (2000): Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục.
24. Nguyễn Trung Hiếu (1986): Truyện Kiều trong yêu cầu đổi mới của khoa nghiên cứu
văn học, TC Văn học.
25. Nguyễn Bách Khoa (1951): Văn chương Truyện Kiều, Hàn Thuyên.
26. Lê Đình Kị (1967): Tính khái quát của việc thể hiện nhân vật trong Truyện Kiều, TC
Văn học.
27. Đinh Gia Khánh (1977), Điển cố văn học, NXB Khoa học xã hội.
28. Phan Trọng Luận (2007) Ngữ văn 10 (tập 2), NXB Giáo dục.
29. Đặng Thanh Lê (1979): Truyện Kiều và thể loại truyện nôm, NXB Khoa học xã hội.
30. Đặng Thanh Lê (1977): Về ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều; TCVH, số 3.
31. Trần Đình Sử (2003): Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục.
32. Trần Đình Sử (1998): Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
33. Trần Đình Sử (2001): Giảng văn đoạn trích Truyện Kiều. Trong sách Đọc văn văn học,
NXB Giáo dục.
34. Trần Đình Sử (1995): Mấy chặng đuờng nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều. Trong sách
Những thế giới nghệ thuật thơ. NXB Giáo dục.
35. Trần Đình Sử (1995): Không gian nghệ thuật trong Truyện Kiều. Trong sách Những thế
giới nghệ thuật thơ. NXB Giáo dục.
36. Trần Đình Sử (2001), Điển cố trong Truyện Kiều. TC Văn học, số 5.
37. Bùi Duy Tân (1992: Mối quan hệ về thể loại giữa văn học Trung Quốc và văn học Việt
Nam trung đại: tiếp nhận, cách tân, sáng tạo; TCVH, số 4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status