DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Viết đầy đủ
CT Chương trình
GV Giáo viên
HS Học sinh
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
SGV Sách giáo viên
SGK Sách giáo khoa
TN Thực nghiệm
THPT Trung học phổ thông
Tr. Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các trích đoạn Truyện Kiềutrong chương trình Ngữ văn………………(trang)
1
Bảng 1.2. Bảng kết quả điều tra thực trạng tiếp nhận……………………………….
Bảng 2.1. Từ khó trong các trích đoạn Truyện Kiềutrong chương trình Ngữ văn 10
Bảng 2.2. Diễn biến của Kim Vân Kiều truyện
Bảng 2.3. Sự kiện trước và sau các trích đoạn Truyện Kiềutrong chương trình Ngữ văn 10
Bảng 2.4. Đặc điểm của các nhân vật chính trong các trích đoạn Truyện Kiều trong
chương trình Ngữ văn 10
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng……………
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2
Biểu đổ 1.1. Biểu đồ thể hiện thực trạng tiếp nhận các đoạn trích Truyện Kiều theo đặc
trưng thi pháp thể loại của HS lớp 10……………………………………………(TRANG)
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 15 phút……………………………
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 60 phút…………………………………….
MỤC LỤC
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
3.1.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
3.1.3. Nội dung thực nghiệm
3.2. Tiến trình và kết quả thực nghiệm
3.2.1. Tiến trình thực nghiệm
3.2.2. Kết quả thực nghiệm
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
5
1. Lí do nghiên cứu
1.1. Chương trình đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực sự được chuẩn bị từ
những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau khi ban hành Nghị quyết số
49/2000/QH10, ngày 19/12/2000 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục
phổ thông. Xuất phát từ mục tiêu đổi mới này, các nhà giáo dục cũng xác định rõ: Một
trong những trọng tâm của việc đổi mới đó chính là đổi mới phương pháp dạy học với
mục đích tăng cường tính tích cực, chủ động của HS, hướng tới hoạt động học tập chủ
động, chống lại thói quen học tập thụ động. Với yêu cầu đổi mới phương pháp, thêm nữa
lại có quá nhiều lựa chọn về phương pháp giảng dạy của các nhà nghiên cứu như Phan
Trọng Luận, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Thị Hồng Hà , GV đang đứng
trước những khó khăn trong việc lựa chọn cho mình một phương pháp thích hợp và vận
dụng vào công việc dạy học của mình một cách có hiệu quả.
1.2. Văn học là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, có nhiệm vụ cung
cấp cho HS những kiến thức về văn học, hình thành và phát triển ở HS năng lực tiếp nhận
văn học. Văn học còn đem lại những tri thức phong phú, bổ ích về văn hóa, xã hội, lịch
sử, đời sống nội tâm, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, giáo dục thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh,
góp phần hình thành và phát triển nhân cách người học. Cùng với hệ thống các môn học ở
bậc phổ thông, môn Ngữ văn chiếm vị trí, vai trò quan trọng. Muốn đạt hiệu quả giáo dục
cao nhất, việc giảng dạy Ngữ văn phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn,
vừa mang bản chất xã hội, vừa là một hiện tượng thẩm mĩ, hiện tượng nghệ thuật. Nâng
Truyện Kiều – Việt Nam với Kim Vân Kiều truyện – Trung Quốc sẽ là đối tượng trích
giảng của phương pháp này.
Trước những yêu cầu mới của chương trình Ngữ văn bậc THPT, với hứng thú
giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể loại và tình yêu với Truyện Kiều,
chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Dạy học các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi
pháp thể loại cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông. Đề tài thực sự là một sự hứng
thú đối với chúng tôi vì nó đã chạm đến vấn đề cốt lõi nhất của việc đổi mới dạy học văn
từ mục tiêu, cấu trúc và nội dung chương trình đến phương pháp dạy học. Xuất phát từ
7
những lí do trên đây, chúng tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu đề tài trong tình hình hiện nay
là cần thiết và hữu ích.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp thể loại
Các tác giả biên soạn tài liệu nghiên cứu về loại thể chia một cách quy ước có ba
loại thể văn học gồm: tự sự, trữ tình, kịch. Một số giáo trình, bài viết vận dụng những
kiến thức cơ bản về loại thể của Aristotes để phát triển thành phương pháp luận giảng dạy
văn học theo loại thể, phân tích ứng dụng các tác phẩm được dạy trong nhà trường phổ
thông. Những công trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc hệ thống, liên kết các vấn
đề lí luận với thực tiễn dạy học văn theo loại thể. Từ đó đề xuất một số hướng phân tích
tác phẩm. Trong Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể, Trần Thanh Đạm viết: “Mỗi tác
phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp,
một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó. Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong
thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ
yếu còn là một vấn đề phương pháp” [10, tr48]. Tác phẩm này đã giới thiệu nhiều kiến
thức cơ bản về các loại, thể văn học chủ yếu có liên quan đến chương trình cấp III, từ đó
giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tác phẩm
trong chương trình phổ thông. Cuốn sách vừa giải quyết được các vấn đề có tính chất
quan niệm vừa trình bày một số kinh nghiệm vận dụng cụ thể. Nhiều thế hệ thầy cô giáo
vẫn xem cuốn sách như một cẩm nang khi soạn giảng. Trong đó Trần Thanh Đạm, với bài
viết Truyện và giảng dạy truyện đã xác định: “ Truyện là một khái niệm rộng bao gồm các
phương pháp dạy học văn học sử, phương pháp dạy học môn làm văn, phương pháp dạy
học lí luận văn học. Trong phần phương pháp dạy học tác phẩm văn chương, các nhà
phương pháp phân chia thành các phương pháp chung như: phương pháp đọc diễn cảm,
phương pháp so sánh trong phân tích văn học, phương pháp phân tích nêu vấn đề, phương
pháp gợi mở, phương pháp giảng bình. Có thể coi đây là phương pháp chung trong việc
giảng dạy các thể loại văn học trong đó có truyện, thơ, tiểu thuyết
Trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương pháp giảng dạy tác
phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể loại như cuốn Vấn đề giảng dạy văn học theo
9
loại thể do Trần Thanh Đạm chủ biên, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung
học phổ thông, Tập bài giảng phương pháp dạy học ngữ văn của Khoa Sư phạm, Trường
Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương (theo thể loại) của Nguyễn Viết Chữ tuy có đề cập đến phương pháp giảng dạy
thể loại truyện song mới chỉ là những lí thuyết chung còn khá sơ lược và Truyện Kiều
chưa được quan tâm một cách thích đáng trong việc đề ra phương pháp dạy học theo đặc
trưng thi pháp thể loại.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong sách Đọc văn văn học có bài viết Giảng văn đoạn
trích Truyện Kiều. Trong đó, tác giả chỉ ra hạn chế của việc dạy các trích đoạn Truyện
Kiều theo hướng giảng bình và đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc thay đổi phương pháp
dạy học theo loại thể. Trong bài nghiên cứu có dung lượng tương đối ngắn, tác giả chứng
tỏ khả năng bao quát vấn đề và đặt ra yêu cầu mới cho việc dạy học các trích đoạn Truyện
Kiều, tuy nhiên đó mới chỉ là những hướng đi khái quát.
Phạm Thu Thảo trong khóa luận tốt nghiệp Phương pháp dạy học truyện thơ Nôm
(Đại học Sư phạm Hà Nội) đã trình bày thực trạng giảng dạy truyện thơ Nôm trong đó
tiêu biểu là Truyện Kiều từ đó định ra phương pháp dạy truyện thơ Nôm. Tuy nhiên, trong
khóa luận, phương pháp dạy học truyện thơ Nôm trong đó có Truyện Kiều theo đặc trưng
thi pháp thể loại chỉ là một phương pháp trong nhóm phương pháp tác giả đề ra.
Cùng phương pháp dạy học Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại, luận văn
của chúng tôi sẽ đi từ đặc trưng thi pháp thể loại của tác phẩm để đề ra quy trình dạy đọc
hiểu đồng thời ứng dụng vào giảng dạy trích đoạn trong SGK phổ thông Ngữ văn hiện
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn là:
- Tổng quan những vấn đề lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi
pháp thể loại.
- Vận dụng lí thuyết dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp thể loại vào
dạy các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10, THPT ở một số trường THPT trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình.
11
- Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tiếp nhận tác phẩm văn học theo đặc trưng
thi pháp thể loại ở HS lớp 10.
- Đề xuất phương pháp, biện pháp cụ thể vận dụng đặc trưng thi pháp thể loại vào dạy các
đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10.
- Thiết kế các giáo án dạy học các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10 theo đặc trưng
thi pháp thể loại. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
7. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học bộ môn Ngữ văn bậc THPT.
- Nghiên cứu chương trình, SGK Ngữ văn lơp 10 bậc THPT, các tài liệu định hướng đổi
mới về PPDH.
- Nghiên cứu tài liệu lí luận về tâm sinh lí lứa tuổi HS THPT.
* Phương pháp quan sát, điều tra
- Điều tra thực trạng dạy và học tác phẩm văn chương, cụ thể là các trích đoạn Truyện
Kiều trong nhà trường THPT.
* Phương pháp thực nghiệm
- Thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của một số biện pháp dạy học
các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại.
8. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: Khẳng định hướng đổi mới đúng đắn của phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo đặc trưng thi pháp thể loại. Đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy các
đoạn trích Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho HS lớp 10, THPT.
là phép tắc, là phương pháp, là cách thức sáng tạo. Nghệ thuật thi ca của Aistole là bộ
sách đầu tiên trong lịch sử văn học và mĩ học thế giới nghiên cứu sâu chức năng của văn
học nghệ thuật. Trong nền văn hóa phương Tây, thuật ngữ thi pháp học theo Aistole là chỉ
lí luận văn học, đến trung thế kỉ, thuật ngữ này chỉ kĩ nghệ, kĩ xảo sáng tác thơ ca; từ thế
kỉ XIX trở đi, do sự nỗ lực của các nhà hình thức chủ nghĩa, thuật ngữ này được dùng như
lí luận văn học với nghĩa rộng, nó bao gồm sự tổng kết lí luận và nghiên cứu tất cả các thể
tài văn học. Thi pháp học thực sự đã chỉ đạo lại ngành văn học và kĩ thuật tu từ thay thế
nó bằng phê bình mĩ học xuất phát từ sự phân tích hình thức.
Ở phương Đông, nếu hiểu thi pháp như một nghệ thuật thì Văn tâm điêu long của
Lưu Hiệp là công trình thi pháp học sớm nhất bởi nó dạy cho người ta những tinh túy của
phép làm văn. Sau Lưu Hiệp, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình, nhà lí
luận của Trung Hoa cổ, trung đại đã cho ra đời những tác phẩm lí giải sâu sắc về mĩ học,
về nghệ thuật văn chương, tiêu biểu là: Thi phẩm của Chung Vinh (thế kỉ VII), Văn tuyển
14
của Tiêu Thống (thế kỉ VII), Thư gửi Nguyên Chuẩn của Bạch Cư Dị (722 – 486), Tùy
viên thi thoại của Viên Mai (1716 -1797)…
Đến nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thi pháp học hiện đại chính thức được dấy
lên, hàng loạt các trường phái thi pháp học hiện đại theo sau xuất hiện. Như vậy, có thể
thấy có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về thi pháp học. Có thể định nghĩa một
cách tổng quát như nhà phê bình văn học Nga V.Girmunxki: “Thi pháp học là khoa học
nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là nghệ thuật” [20, tr.15].
Trần Đình Sử cũng đưa ra nhận định: “Thi pháp học là bộ môn khoa học có nhiệm
vụ đặc thù trong lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học. Khi phê bình, phân
tích tác phẩm văn học, nó hướng tới khám phá sự vận động, tiến hóa của các phương
thức, phương tiện và hình thức nghệ thuật. Khi nghiên cứu lí luận văn học, nó tập trung
khám phá các cấu trúc thể hiện bản chất của nghệ thuật văn học” [31, tr.45].
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi
pháp, tức hệ thống các phương thức biểu hiện đời sống bằng nghệ thuật trong sáng tác
văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản
nghệ thuật tham gia và sự tạo thành của thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu
Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững
bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường
xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn vừa cũ, vừa mới, vừa biến
đổi, vừa định hình.
Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và
thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Bất kì tác phẩm nào
cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó. Nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch trong đó mỗi loại bao gồm một số
thể.
Bất kì tác phẩm nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định. Đó là sự
thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương thức biểu đạt và
hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn. Thể loại văn học chính là sự phân chia loại
16
hình tác phẩm theo những căn cứ nêu trên. Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một
loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống.
Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệm thể loại văn
học như sau: Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn
bản. Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tái hiện đời sống,
hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng.
Từ cách hiểu trên, có thể chia tác phẩm văn học làm ba loại chính: Tự sự, trữ tình
và kịch. Tác phẩm sự sự là loại tác phẩm dùng lời kể tái hiện lại những việc làm biến cố
nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ra một cách khách quan, qua đó bày tỏ một
cách hiểu và một thái độ nhất định. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có lời kể, lời miêu tả với
một giọng điệu nhất định; có cốt truyện chính là cái biến cố xảy ra liên tiếp, sau cái này
làm nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giải quyết, giải quyết xong
thì truyện kết thúc; có nhân vật và có rất nhiều loại hình thức ngôn ngữ như trần thuật, đối
thoại, độc thoại… Tác phẩm trữ tình là loại tác phẩm qua lời lẽ thể hiện nỗi niềm, tâm
trạng, những ảnh tượng trông thấy mà thể hiện các cảm xúc, tháo độ chủ quan của con
người với thế giới. Tác phẩm kịch là loại tác phẩm qua việc tái hiện những hành động
xung đột kịch để làm tái hiện lên bản chất đời sống và bày tỏ thái độ. Mỗi loại tác phẩm
tác giả cũng đề cao chữ tâm, tấm lòng. Chữ tài và chữ tâm là một nguyên tắc ứng xử có
tính phổ quát trong truyện. Tài ở đây là biểu hiện của phẩm chất nhân vật và cá tính đóng
vai trò là cái cớ để nhân vật bị cuốn vào tai vạ cho phù hợp với tư tưởng tài mệnh tương
đố còn chữ tâm đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cốt truyện, thúc đẩy sự kiện phát
triển. Toàn bộ sáng tạo của Nguyễn Du chủ yếu là làm cho chữ tâm của nhân vật chính
được bộc lộ trọn vẹn và sâu sắc. Bên cạnh đó, chữ thân cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc bộc lộ tư tưởng của tác giả. Nhân vật chính luôn có ý thức về thân, về phần cá
nhân riêng tư nhất, thực tại nhất của con người và tác phẩm được xây dựng sao cho nhân
vật tự cảm thấy được cái thân đau đớn, ê chề, nhục nhã của mình. Chữ thân là tư tưởng
phổ quát nhất và nó làm Truyện Kiều tuột khỏi mệnh đề tài mệnh tương đố để chuyển
sang mệnh đề con người nói chung. Tài mệnh tương đố là trường hợp riêng của thân
18
mệnh mà muốn vượt lên con người chỉ có thể dựa vào chữ tâm. Như vậy, chủ đề cơ bản
của Truyện Kiều là thân mệnh tương đố.
Sáng tạo Truyện Kiều nghĩa là phải nhào nặn lại Kim Vân Kiều truyện để thể hiện
một tư tưởng mới. Để làm điều đó, Nguyễn Du có quan niệm mới về nhân vật và cách kể.
Nhân vật vay mượn có thể được miêu tả theo những trọng tâm, điểm nhấn khác và trở
thành nhân vật khác, cốt truyện được vay mượn nhưng kể theo cách khác cũng tạo thành
truyện khác. Vay mượn hệ thống nhân vật và sự kiện của Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn
Du không tránh khỏi tiếp thu các thi pháp vốn có của văn học Trung Quốc nhưng ông
không chạy theo và phát huy các thi pháp ấy mà sáng tạo lại. Nguyễn Du không đặt trọng
tâm ở việc, ông tước bỏ các chi tiết, biến con người đạo lí thành con người tâm lí dẫn tới
việc ông thay đổi điểm nhìn trần thuật, kể theo cái nhìn và tâm trạng nhân vật. Ông khai
thác cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở phương diện tâm lí, biến nó thành cốt truyện
tâm lí bằng việc đổi mới hình tượng người kể chuyện. Người kể chuyện Truyện Kiều
đồng thời là một nhà thơ trữ tình. Do thay đổi trọng tâm trần thuật sang thế giới tấm lòng
của nhân vật chứ không phải sự kiện bên ngoài nên ông đã huy động tối đa các thủ pháp
trữ tình để miêu tả tình cảm nhân vật; lời trần thuật là lời mang chất thơ hòa vào lời nhân
vật tạo thành lời nửa trực tiếp khiến người đọc thâm nhập vào tâm hồn nhân vật bằng sự
chỉ dẫn của người kể chuyện.
bạc mệnh cũng là lời chung”, “Một cơn mưa gió nặng nề; Thương gì đến ngọc, tiếc gì
đến hương”.
Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc loại người biết hết và biết trước mọi
chuyện nhưng lại ít khi thông báo những cái biết trước và có sẵn trong ý định của mình.
Mọi vật trong truyện đều hiện ra dần dần qua cảm giác, suy đoán của con người như
những phát hiện lần đầu trong cuộc sống: “Trông chường thấy một văn nhân”; “Bóng
hồng nhác thấy nẻo xa”; “Dưới đào dường có bóng người thướt tha”… Như vậy, nhân vật
Truyện Kiều, và qua đó là người trần thuật luôn thấy, cảm, nghĩ một cách hiện thực, luôn
luôn tính tới quy luật phát triển tuần tự của đời sống.
Một phương diện khác rất quan trọng trong thi pháp Truyện Kiều là cái nhìn nghệ
thuật nhiều chiều đối với các hiện tượng đời sống được miêu tả. Tác giả khéo bố trí sao
20
cho phần lớn các sự kiện trong đời Kiều được nhìn nhận và bình luận từ các góc độ khác
nhau. Trong nhiều trường hợp như việc Kiều bán mình chuộc cha, chuyện nhờ Vân trả
nghĩa, chuyện Kiều đi tu…; các quan điểm chuẩn mực, duy lí đối chiều sóng đôi với quan
điểm cá nhân chẳng những không cho phép lí giải các sự kiện của truyện như một hiện
tượng đơn nghĩa mà còn mở ra một chiều sâu cuộc sống mà phần lớn các truyện Nôm
khác chưa biết đến. Cách cảm nhận chủ quan của nhà thơ là thái độ hàm chứa rất nhiều
bình diện giá trị khác loại của đời sống, thể hiện đặc điểm của nhà văn lớn và luôn nhìn
sự vật trong một phạm vi giá trị rộng lớn, đa dạng và gần gũi với con người, khắc hẳn cái
nhìn hạn hẹp một chiều mang tính chất giáo huấn.
*Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tiểu thuyết lưu lạc nên có sự xuất hiện của
nhiều không gian xa lạ. Sau mỗi biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới
nhiều hiểm họa. Trong mười lăm năm, Kiều lưu lạc qua rất nhiều địa điểm không gian.
Mỗi địa danh tạo nên không gian lưu lạc mênh mông, mịt mù, một không gian Trung
Quốc xa lạ và xa xôi. Đối với con người trung đại, gia đình, nguồn cội, quê hương là
những cái đảm bảo cho sự yên ổn, giá trị mà một khi rời bỏ thì con người trở nên yếu
đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình. Không gian sống của con người chia làm hai nửa:
quê mình và quê người; quê người là không gian xa lạ, đau khổ, bơ vơ cho bất cứ ai. Quê
ở Việt Nam
“Thi pháp thể loại là tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật
mà các tác phẩm thuộc cùng một thể loại đều thống nhất sử dụng” [33, Tr4). Theo Đỗ
Bình Trị, những yếu tố này gồm: thể văn, kết cấu, thủ pháp nghệ thuật. Nhà nghiên cứu
người Nga V.Ia.Prop cho rằng: “Chừng nào những đặc trưng của một thể loại chưa được
nghiên cứu hoặc chưa được chí ít là mô tả trên những nét đại cương thì không thể tìm
hiểu được những tác phẩm cụ thể thuộc thể loại ấy” [21; Tr54].
Như vậy, muốn tìm hiểu các tác phẩm văn học theo thi pháp thể loại chúng ta phải
xem xét thổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật mà những tác
phẩm cùng thể loại đều thống nhất sử dụng. Còn nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỉ
XX, khi GS Trần Đình Sử chính thức giới thiệu thi pháp học hiện đại vào Việt Nam,
22
nhiều người còn khá ngỡ ngàng thậm chí hoài nghi. Trần Đình Sử với một loại công trình
nghiên cứu như Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp
Truyện Kiều… đã thực sự đưa thi pháp học vào đời sống phê bình văn học Việt Nam, xua
đi mọi nghi ngờ, thậm chí định kiến của nhiều người trước lí thuyết mới mẻ này.
Sau đó, một loạt các công trình nghiên cứu thi pháp học ra đời của Nguyễn Kim
Đính, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Phan Cảnh… đã thực sự khẳng định vai trò to
lớn của thi pháp học trong việc đổi mới cách tiếp nhận, phê bình văn học ở Việt Nam,
khai thông những bế tắc trong nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam về vấn đề hình
thức. Khi cách phân tích, phê bình chỉ hướng vào nội dung, không chú ý đến hình thức,
tách rời nội dung và hình thức đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế.
Thi pháp học đặt lại vấn đề hình thức, “cái lí” của hình thức, mối quan hệ biện
chứng qua lại giữa nội dung và hình thức. Nhờ có một hệ thống khái niệm đã được hình
thức hóa, một hệ thống lí luận phong phú, toàn diện, thi pháo học đã trả lời được một loạt
những câu hỏi về văn bản, hình thức hóa được những nội dung vốn trừu tượng, khám phá
được những mối quan hệ nội tại trong chiều sâu văn bản. Tiếp cận bằng thi pháp học –
một cách tiếp cận tổng thể, coi tác phẩm như một cấu trúc nghệ thuật, một hệ thống các
thủ pháp nghệ thuật đã góp phần đóng góp quan trọng cho sự đổi mới nền phê bình, lí
luận văn học Việt Nam, đưa nền lí luận văn học nước nhà vào quỹ đạo hiện đại hóa, bắt
thác vẻ đẹp, giá trị về nội dung và nghệ thuật GV sẽ hình thành cho HS những năng lực
cảm thụ văn chương, biết áp dụng những hiểu biết về ngôn ngữ học vào tiếp nhận văn
chương. Xuất phát từ quan niệm dạy học dựa trên những hiểu biết của HS về văn hóa, văn
học và ngôn ngữ vào những tình huống cụ thể để vận dụng từ văn học vào cuộc sống và
từ đó hình thành những giá trị về nhân cách cho HS.
1.1.2. Khả năng tiếp nhận Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại của học sinh
lớp 10 THPT
1.1.2.1. Tâm lí lứa tuổi của học sinh THPT
Tâm lí học lứa tuổi xác định lứa tuổi HS THPT là tuổi đang bước vào giai đoạn
dậy thì, cần được nghiên cứu một cách phức hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lí học xã
24
hội với việc tính đến những quy luật bên trong của sự phát triển. Hoạt động của HS trong
độ tuổi thanh niên này ngày càng phong phú và phức tạp nên vai trò xã hội và hứng thú xã
hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi cả về chất
lượng. Hoạt động học tập đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều,
đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phát triển
tư duy lí luận.
Tâm lí HS ngày nay có sự thay đổi đáng kể, chủ động, mạnh mẽ và quyết liệt hơn
thế hệ trước. Do điều kiện sống thay đổi, do được tiếp xúc với rất nhiều kênh thông tin,
các em linh hoạt hơn, thực tế hơn, có vốn hiểu biết khá phong phú. Các em có sự phát
triển tâm lí khá mạnh nên dạy học phải coi trọng vấn đề phát triển tiền năng trí tuệ thuộc
về chức năng bán cầu não, nơi giữ vai trò tạo cảm xúc, trực giác, sáng tạo của con người.
Một thực tế là: hoạt động học tập của HS THPT khác biệt rất lớn so với HS THCS. Các
em bắt đầu xác định được động cơ học tập, xác định được cho mình hứng thú tương đối
ổn định đối với mỗi môn học, vì thế các em có thái độ học tập tích cực hơn. Đây là cơ sở
quan trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo của HS ở các môn nói chung và môn Ngữ văn nói
riêng.
Thực tế cho thấy, HS càng trưởng thành, kinh nghiệm cuộc sống càng phong phú,
các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do đó, thái độ
có ý thức của các em đối với học tập khá rõ nét, mức độ tập trung đối với các môn học trở