MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu……………………………………………………………………….2
1.1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………2
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………….2
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………3
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...3
2. Nội dung…………………………………………………………………….3
2.1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………..3
2.2. Thực trạng vấn đề……………………………………………………….4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề…………………………5
2.3.1. Nắm chắc kiến thức văn học sử về tác giả………………………………5
2.3.2. Tìm được tiếng nói tri âm- đồng cảm với tác giả………………………..8
2.3.3. Chọn điểm nhấn về cái Tình của Nguyễn Du để tạo hướng khai thác mới
các trích đoạn Truyện Kiều (Ngữ văn10)………………………………. .9
2.3.3.1. Thề nguyền…………………………………………………………….……9
2.3.3.2. Trao duyên………………………………………………………… 11
2.3.3.3. Nỗi thương mình……………………………………………………..14
2.3.3.4. Chí khí anh hùng…………………………………………………….16
2.4. Hiệu quả của SKKN……………………………………………………19
3. Kết luận, kiến nghị…………………………………………………………21
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………….22
Danh mục SKKN đã được giải……………………………………………….....23
1
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Đọc – hiểu văn bản văn học là một trong những nội dung hoạt động cơ bản
nhất của môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Văn học trong nhà trường là một môn
trích đoạn Truyện Kiều (Nguyễn Du) trong chương trình Ngữ Văn 10.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần thay đổi cách dạy, cách cảm Truyện Kiều theo lối mòn bằng con
đường riêng, có sự kế thừa và phát triển đảm bảo chuẩn kiến thức và kĩ năng. Phát
huy chức năng của văn chương, để những viên ngọc quí của cha ông thực sự là
món ăn tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn con người người trẻ hiện nay.
2
- Tạo ra một hướng Đọc - hiểu có chiều sâu, có hệ thống liền mạch trong các
trích đoạn và chất keo là cái Tình lớn của thi nhân.
- Giáo dục, bồi dưỡng nhân cách cho học sinh tiếp nhận những giá trị sống
giàu ý nghĩa đời sống của cha ông từ giờ Đọc - hiểu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối 10 trường THPT4 Thọ Xuân, cụ thể là lớp 10A2 và 10A7
- Các trích đoạn Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn 10 (Cơ bản).
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và
Truyện Kiều.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Ngữ Văn 10, cụ thể là các
trích đoạn Truyện Kiều.
1.4.2. Phương pháp thực tập sư phạm
- Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT 4 Thọ Xuân, tiến hành cụ thể theo
qui trình trong các giờ Đọc – hiểu môn Ngữ Văn.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận
Dạy Đọc – hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường không thể coi nhẹ
phương diện nào, phải chú trọng mục đích toàn diện đúng với đặc trưng của môn
Văn. “Một kết luận khoa học quan trọng và cơ bản đối với người nghiên cứu và
những cảm xúc tốt đẹp, cao thượng của con người. Chính vì vậy, cái Tình của
Nguyễn Du mang đậm tinh thần hiện đại. Mộng Liên Đường đã khái quát toàn diện
và sâu sắc về cái Tình của Nguyễn Du gửi gắm qua Truyện Kiều: “Tố Như tử dụng
tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con
mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút
mực ấy” (Tiên phong Mộng Liên Đường chủ nhân, trang 166 - Nguyễn Du về tác
gia và tác phẩm). Dạy về Nguyễn Du và các trích đoạn Truyện Kiều ở lớp 10, với
số tiết (chương trình cơ bản 6 tiết, chương trình nâng cao 8 tiết - tiếp nối nguồn
mạch ở lớp 9), là một cơ duyên may mắn của người dạy văn trong trường phổ
thông, nhưng nếu không truyền tải được tiếng lòng của thi nhân, dường như ta chưa
làm tròn vai của mình.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Trong thực tế, người giáo viên dạy văn nào cũng ít nhiều tâm đắc với
Truyện Kiều, cũng chọn cho mình những nhân vật để ngưỡng mộ, yêu quí…Nhưng
hầu hết, đều đồng thuận “ăn sẵn”, tận hưởng say sưa những gì tiền nhân để lại,
không cần phải đầu tư nghiên cứu. Chính vấn đề này đã tạo nên một thực tế có
phần đi ngược lại với phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường:
Người dạy giáo điều; người học a dua, phải thích những điều chưa hiểu, yêu Thúy
Kiều mà chưa thực sự cảm được Nguyễn Du…
2.2.1. Đối với người dạy
Người giáo viên dạy văn tiếp cận tác phẩm Truyện Kiều nói chung và cụ thể
là đến với các trích đoạn nói riêng đều mang một cảm xúc vừa hào hứng vừa
choáng ngợp: một tác phẩm văn học nổi tiếng của một tác gia nổi tiếng với hàng
trăm công trình nghiên cứu hơn hai trăm năm qua! Hầu hết, những ai đã từng học
văn, theo đuổi nghiệp văn, ngưỡng mộ văn chương đều yêu Truyện Kiều, yêu Thúy
Kiều, tôn thờ yêu kính Nguyễn Du. Độc giả và người tiếp nhận Truyện Kiều, hầu
như ai cũng hiểu: “Đoạn trường tân thanh” là tiếng kêu đứt ruột mới, nhưng thực sự
“đứt ruột” như thế nào, Sao lại mới? không phải người thầy nào cũng dụng tâm đào
sâu để cảm và hiểu thấu tình thi nhân. Trong thực tế, còn tồn tại những hạn chế dễ
nhận thấy sau đây:
Như vậy, thực tế giảng dạy và học Truyện Kiều hiện nay như ở môi trường
tôi công tác chưa đáp ứng được yêu cầu và mục đích của chương trình. Thậm chí,
những người đứng lớp lâu năm như tôi xuất hiện trong suy nghĩ có phần lo lắng:
những tác phẩm lớn của cha ông có thể dần dần mất đi giá trị tự thân nếu người
thầy không chủ động nhập cuộc để tìm những giải pháp thiết thực và hiệu quả trong
mỗi giờ dạy và trong cả một hành trình đưa đò của mình.
2.3. Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề
2.3.1. Nắm chắc kiến thức văn học sử về tác giả, để vận dụng một cách thích
hợp những hiểu biết ngoài văn bản làm cơ sở cắt nghĩa tác phẩm (trích đoạn)
Văn học nói chung, mỗi tác phẩm văn chương nói riêng luôn ra đời trong
những bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cụ thể: những yếu tố được thẩm thấu, chắt
lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm. Cho nên, muốn khám phá
một tác phẩm văn học, người thầy không thể không tìm hiểu bối cảnh ra đời của nó
và tiểu sử của nhà văn. Với những tác gia lớn - đặc biệt là những tác gia sống ở thời
5
đại có khoảng cách xa chúng ta, càng cần phải nắm vững nguồn kiến thức bổ trợ
quí giá này.
Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Du là tinh thần nhân đạo cao
cả. Tôi đã nhận thức rất rõ: gốc rễ, nguồn cội của vấn đề này phải được lí giải có cơ
sở từ những yếu tố về thời đại, gia đình, bản ngã thi nhân… tạo được sức thuyết
phục tiếp cận tác phẩm nhanh hơn và sâu sắc hơn.
2.3.1.1. Về thời đại
Tôi đã dành nhiều thời gian đọc tài liệu về tác gia, nắm vững và đã cho học
sinh hiểu được: Nguyễn Du (1765- 1820) sống vào thời đại bão táp của phong kiến
Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đầu XIX. Các cuộc nội chiến xảy ra liên miên,
nông dân nổi dậy khắp nơi, vua chúa tranh quyền, đoạt lợi… Quyền sống con
người bị đe dọa. Đây cũng là cơ sở và nền tảng cho cảm hứng nhân đạo trong văn
học được khơi nguồn và phát triển rực rỡ với nhiều gương mặt tiêu biểu xuất hiện
xây đắp từ nền tảng bền vững kia. Cuộc đời đầy phong ba bão táp của một con
người tài hoa đã giúp ông sáng tạo nên nhiều tác phẩm vừa giàu tính nhân văn vừa
tuyệt vời về nghệ thuật.
Một yếu tố quan trọng khiến bản thân tôi rất lưu tâm để hậu sinh càng trân
quí gia tài của Nguyễn Du: Văn chương thời đó chưa phải là một nghề. Hay nói
cách khác, Nguyễn Du hiện hữu với tư cách là một bậc nho gia quan lại phong
kiến, mặc dù người đời sau đều nhớ đến ông với vị trí của Đại thi hào. Nguyễn Du
cầm bút sáng tác không phải để khoe tài, càng không để kiếm sống. Viết thơ chỉ
để dốc bầu tâm sự, viết để phơi trải lòng mình. Nỗi buồn đau của kẻ ý thức rất rõ
về giá trị bản thân khi đặt vào một xã hội ô trọc - cái xã hội mà con người trí thức
tài hoa dễ bị tổn thương, dễ cô đơn, cô độc. Có lẽ, khát vọng giao cảm là một khát
vọng lớn, muôn thuở của nhân loại. Nguyễn Du đâu cần lắm sự mủi lòng của ai
đó với những thương khó đời mình. “Khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc,
bảo người nhà sờ tay chân, họ thưa bảo lạnh cả rồi, ông nói được rồi mất, không
trối lại một điều gì”. (Theo Truyện Kiều, trang 8, Trần Ngọc Hưởng sưu tầm và
giới thiệu). Chi tiết sử sách ghi lại cái im lặng của thi nhân trước khi từ giã trần
gian cho ta thấu cảm sâu sắc điều đó. Cái ông cần là hậu sinh hiểu được những
tâm sự của ông về cuộc đời và đồng tình với ông về một sự bất công lớn của xã
hội mà ông sống.
2.3.2. Tìm được tiếng nói tri âm – đồng cảm với tác giả
Muốn hiểu đúng tư tưởng, tinh thần các trích đoạn Truyện Kiều, chỉ nắm xuất
xứ trong sách giáo khoa chưa đủ. Không đặt các trích đoạn đúng vào mạch tâm sự
lớn chảy qua toàn bộ sáng tác của thi hào, công việc phân tích khó thoát khỏi sự
nông cạn, hời hợt. Thơ Nguyễn Du chứa đựng nỗi khắc khoải nhân sinh mang tầm
nhân loại và nhu cầu tìm đến những liên minh biết nói tiếng nói xót thương các giá
trị tinh thần cao quí của con người.
Với Nguyễn Du, kẻ luôn sẵn mối thương tâm, hầu như trong trang thơ nào
cũng luôn thấy ngay con người nhà thơ, thấy ngay một niềm đau đớn có hình sắc.
Tố chất con người của ông có thể cảm nhận qua thơ chữ Hán, qua Nam Trung tạp
ngâm đầy tâm sự uẩn khúc, u uất. Người đọc cảm nhận được rất rõ nỗi đau vô bờ
Nguyễn Du. Kiều không chỉ là đứa con tinh thần sáng tạo; nói đúng hơn, đích thực
nàng chính là người tình trong mộng của người đàn ông đa tình, đa tài, đa cảm
Nguyễn Du. Thi nhân có đến ba người vợ, và người đàn ông tài hoa này còn có bao
nhiêu mối tình lãng mạn trong sâu thẳm tâm hồn, ta không thể biết. Chỉ biết rằng,
ông yêu nàng Kiều với một tâm thế, một cách ứng xử rất đời, rất cao sang, lịch lãm,
rất văn hóa và hiện đại. Ông nhập cảm vào nhân vật, bởi ông hiểu Kiều như chính
những gì lòng ông đang khát, đang mơ. Kiều là nhân vật lí tưởng của thi pháp trung
đại, nhưng từ khi thấu cảm Nguyễn Du, giở trang Kiều nào tôi cũng thấy bóng dáng
thi nhân bên cạnh nàng: ngắm nhìn nàng, vuốt ve âu yếm nàng, tận hưởng ngưỡng
mộ say sưa tài hoa của nàng, hân hoan hạnh phúc cùng nàng, khổ đau tận cùng thấu
hiểu với nàng… Từ góc nhìn này, tôi soi vào các nhân vật trong đoạn trích, dường
như tất cả được giải mã. Không chỉ với nhân vật chính là Thúy Kiều, chàng Kim
Trọng trong Thề nguyền cũng là bóng dáng Nguyễn Du, Từ Hải trong Chí khí anh
hùng cũng có tâm tình của người đàn ông Nguyễn Du. Thậm chí, với trích đoạn
Nỗi thương mình, dù nàng Kiều là thân phận gái lầu xanh, nhưng soi tự đáy lòng
Nguyễn Du, tôi đã hiểu ra tại sao Kiều vẫn có sức hút của vẻ đẹp sang trọng, mặc
dù nàng vật vã dày vò, đau đớn trong hoàn cảnh đáng thương, bi đát tột cùng!
Để chủ động khai thác các trích đoạn Truyện Kiều, tôi đã đọc nhiều và suy
ngẫm nhiều về Nguyễn Du, bởi hiểu đúng cảm mới đúng, mới tìm được tiếng nói
tri âm. Hơn nữa, để cần một sự đồng cảm thuyết phục, tôi đã lấy trải nghiệm đời
sống cá nhân, biết trân trọng - trân quí những giá trị đời thường, soi vào mới thấy
cái Tình của Nguyễn Du rất đời, rất thực, rất con người, rất thanh xuân đến tận
ngày hôm nay và thanh xuân mãi muôn đời sau. Sự thấu cảm của nhà thơ không chỉ
của một người có vốn sống - vốn hiểu biết sâu sắc, mà là thẳm sâu của một trái tim
trẻ trung, rất mực đa tình, một kiểu đa tình trần thế, cao sang. Đây là điểm đột phá
8
để tôi định hướng cách dạy mới; phá vỡ sự e ngại, vô cảm của học sinh với các tác
phẩm văn học cổ điển, mà các trích đoạn Truyện Kiều trong sách Ngữ văn 10 là
Ấn tượng đặc biệt mà nhà thơ muốn mang đến cho ta là cái dáng xăm xăm
của một người con gái khuê các đang tìm đến nơi hò hẹn trong hoàn cảnh đặc biệt.
Nàng Kiều đến, và nói ngay với người yêu: Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa -…
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao. Người đọc nghĩ ngay đến một lời thanh minh
của một người con gái ý tứ đang đi ngược lại truyền thống cọc đi tìm trâu. Quả chỉ
có tình yêu mới giúp nàng có được sự chủ động tự tin và táo bạo đến thế! Bao năm
giảng Kiều, tôi vẫn bình như vậy. Song ngẫm kĩ, hình như nhà thơ không chỉ bênh
9
vực cho nàng một cách đơn giản và hời hợt theo lẽ thường tình. Với Thúy Kiều,
đây là lần thứ tư Kim Kiều gặp gỡ. Và tình yêu của hai người mới thực sự bắt đầu
chỉ mới ban chiều đấy thôi. Một nàng Kiều rất giữ gìn, thanh cao đã ngăn được cơn
khát ái tình của Kim Trọng Xem trong âu yếm có chiều lả lơi bằng một tâm thế
đường hoàng Ra tuồng trong bộc trên dâu - Thì con người ấy ai cầu làm chi. Sao ta
có thể kết luận vội vàng Kiều tìm đến Kim Trọng vì con tim đang thổn thức nhớ
nhung; sao Kiều lại có thể như con thiêu thân bỏ qua lễ nghĩa đấng sinh thành,
dưỡng dục như một kẻ mù quáng? Đã có nhiều quan điểm trái chiều, thậm chí lên
án bước chân phá rào của Kiều xúi người trẻ nên biết sớm mùi vị của trái cấm. Tôi
đã ngầm so sánh Kiều đến với tình yêu, chấp nhận tình yêu, và đón nhận nó cũng
không kém phần sang trọng, mĩ lệ giống Giuy-li-et với Rô-mê-ô của Xếch-spia qua
trích đoạn Tình yêu và thù hận (Ngữ văn 11), nếu chúng ta thực sự đồng cảm sâu
sắc với Nguyễn Du.
Sức mạnh nào, lí lẽ nào đã giúp Kiều dám vượt cha mẹ, không chỉ đêm nay
tự tìm đến với chàng Kim, mà đã nhận lời yêu Kim Trọng từ trước, thậm chí ngay
từ cái nhìn đầu tiên Tình trong như đã, mặt ngoài còn e? Ta vẫn thấy trong cái bước
chân “xăm xăm” mạnh mẽ, dứt khoát của nàng có cái yếu đuối, nhỏ bé của người
con gái liễu yếu đào tơ một mình đêm khuya khoảng vắng đêm trường rợn ngợp,
hãi hùng. Nguyễn Du cho tôi cảm nhận hành động của Kiều không chỉ là sự bùng
phát mãnh liệt của cảm xúc yêu đương; mà là suy nghĩ sâu sắc, chín chắn của một
khiến cho người đọc cảm nhận sâu sắc tâm trạng bay bổng của chàng Kim trong
không gian tuyệt đối thanh khiết của tình yêu. Một người đàn ông đang trong men
tình ái, lại được người yêu - người tình xuất hiện trong không gian và thời gian đặc
biệt như thế, có lẽ không chàng trai nào có thể kiềm chế được cảm xúc nồng nàn
của hương lửa yêu đương. Với Kim Trọng thì khác, bởi chàng hiểu hơn ai hết,
những lời lẽ của Kiều không phải là trần ngôn sáo ngữ, càng không phải người yêu
phá rào vì lửa tình đang thiêu đốt con tim! Cái vội, cái nghiêm trang, nghiêm trọng
trong lời nói của nàng Kiều đã tác động mạnh đến chàng Kim. Chàng Kim hiểu hơn
ai hết lí do nàng Kiều phải thân gái liều lĩnh dặm trường. Suy ngẫm kĩ, ta lại thấy
Nguyễn Du quả là người đàn ông từng trải: Trong tình yêu, đàn ông chỉ thích tận
hưởng, chỉ muốn thời gian ngưng lại ở hiện tại; còn đàn bà yêu, thường đa cảm lo
xa! Chàng đã đón Kiều Vội mừng làm lễ rước vào trân trọng, tôn trọng và nồng ấm
xiết bao! Không thể có từ nào đắt hơn, hợp tình hơn từ “rước” để chỉ tâm thế của
chàng Kim đối với tình yêu, với người con gái mình yêu. Ta cũng hiểu tại sao
Nguyễn Du không đi sâu miêu tả cảnh thệ ước của cặp tình nhân Kim Kiều. Bởi
quan trọng là mục đích của nghi lễ; điều mà Kiều muốn, chàng Kim đồng thuận và
cả hai cùng đồng tâm gắn bó bằng những lời tóc tơ căn vặn, trăm năm tạc một chữ
đồng đến xương. Một chàng Kim sâu sắc là thế, thấu cảm là thế sao lại bảo chàng
vô tâm hời hợt. Thi hào đã không hề duy lí. Ông cho ta thấy một chàng Kim trân
trọng tình yêu, trân trọng người yêu đến nhường nào. Đồng thời, ta cảm nhận được
chiều sâu thân phận của tình yêu giữa cuộc sống đầy bất trắc. Cái đẹp não nùng của
tình yêu luôn khuấy động niềm đam mê nhưng cũng thường gợi lên niềm e sợ và ý
thức bảo vệ. Đoạn trích đã cho ta học được một thái độ ứng xử đúng đắn với khát
vọng hạnh phúc của con người từ cái Tình rất con người, rất truyền thống mà cũng
rất trí tuệ - hiện đại của Nguyễn Du.
3.3.3.2. Trao duyên
* Xác định yêu cầu và trọng tâm kiến thức
Cảm nhận được tình yêu sâu sắc và nỗi đau đớn cùng cực của Thúy Kiều
trong đêm “trao duyên”: Vì hạnh phúc của người mình yêu, nên dù đã dứt tình phụ
người để bán mình chuộc cha và em, Thúy Kiều vẫn không đành lòng mặc kệ
Tôi đã chủ động tổ chức học sinh đi sâu khai thác đọan trích là tâm trạng của
Kiều sau khi trao gửi duyên tình cho em. Hậu trao duyên! Đây mới là cái Tình mới
mẻ và sâu thẳm của đại thi hào. Yêu mà không được yêu. Đoạn độc thoại nội tâm
của người con gái đang phải trải qua một cơn chấn động dữ dội về tâm lí, khi phải
tự lìa bỏ tình đầu đã dày công vun đắp. Đó là cảm giác đau đớn tột cùng khi bị
trắng tay. Cái đọng lại của đoạn trích không phải là một câu chuyện, một sự việc
mà là nỗi đau khổ của kiếp người hay là bi kịch của con người cá nhân quá giàu nội
tâm và tràn đầy ý thức đang diễn ra tận đáy sâu cõi lòng nàng. Cho nên nỗi đau rất
thực, rất đời của Kiều cho ta một bài học tự nhiên mà thấm thía: Tình yêu là một
thứ tình cảm thiêng liêng và đẹp đẽ. Mất nó, con người ta có cảm giác chới với,
hẫng hụt, thậm chí sống không bằng chết. Nếu người đời có được tình yêu, xin hãy
trân trọng, giữ gìn! Ở thời đại Nguyễn Du - xã hội trọng nam khinh nữ, nhưng
người đàn ông này quả thực đã từng không dưới một lần cảm nhận sâu lắng nỗi
lòng tan nát khi cuộc tình tan vỡ, để có những dòng nội tâm rất con người, rất đáng
thương nhưng cũng rất trân quí những điều ngoài khả năng níu giữ của con người.
Khi duyên đã trao, bản năng con tim trỗi dậy. Kiều tiếc, nên muốn bám víu
tình yêu. Kiều có thể có đủ lí do để không cần phải trao hết cho em như thế, đủ lí
12
do để có quyền được hoài niệm về một tình đầu vừa vuột mất. Nhưng vì người yêu,
nàng không thể. Lần thứ hai, nói chính xác là lần thứ ba - lần trao kỉ vật này, nàng
đã thật sự mất tình yêu! Nếu mất tình yêu vì những yếu tố khách quan thì có thể
dùng lí trí an ủi. Đằng này, nàng hoàn toàn chủ động, quyết liệt rời bỏ tình yêu vừa
đủ chín, khi hương vị ngọt ngào của thuở ban đầu còn đẹp như mơ đang ở rất gần.
Đau xót. Tuyệt Vọng. Cao thượng. Hi sinh. Giàu lòng nhân ái và cũng đầy bản lĩnh.
Biết sống cho người trong khả năng có thể nhưng vẫn không thể quên được bản
thân, không thể quên được men say của hạnh phúc đầu đời! Hiểu thấu nỗi niềm
nàng Kiều với những cảm xúc rất con người, rất hiện đại này ta càng thấy Nguyễn
Du vĩ đại. Một Hồ Xuân Hương Tự tình, nói về mình thật đắng đót cũng là điều dễ
13
nghĩa Nguyễn Du vô tình bỏ qua tâm trạng Thúy Vân - kẻ bị ép duyên mà không
thể mở lời, và cũng không cần mở lời, vì lời của Kiều đã quá rành rẽ!
Nỗi lòng của Nguyễn Du đối với Thúy Vân gửi gắm qua lời kí thác rất văn
hoa nhưng tinh tế và thành thật của Thúy Kiều: Keo loan chắp nối tơ thừa mặc em!
Nhà thơ đã để nhân vật người chị thấu cảm sự thiệt thòi, thậm chí hi sinh quá lớn
của em mình qua hai tiếng “tơ thừa”. Nếu không vì xót tình máu mủ, Vân có lặng lẽ
chấp nhận cái thứ tình cảm không thể trao nhận dễ dàng như tình yêu đôi lứa? Nàng
đang độ “mơn mởn cành tơ”, rất đáng được khao khát một ý trung nhân của cuộc
đời mình. Còn gì tủi cực hơn, khi trái tim của người đàn ông nàng sẽ đầu ấp má kề,
lại chỉ có chị nàng ngự trị? Xét trong dòng chảy tâm lí của người hiện đại, học sinh
đều nhận ra Thúy Vân đáng thương và chịu thiệt thòi, chịu tổn thương sâu sắc. Bởi
khát vọng xuân tình của người đàn bà trong nàngchưa bao giờ được chạm tới. Được
yêu, thà được có những khoảnh khắc hạnh phúc bên người yêu như Kiều rồi đau
khổ, với Thúy Vân cũng không thể có cơ hội trong đời.
Có thể khẳng định, bi kịch trong đoạn trích là bi kịch kép của hai chị em
Thúy Kiều. Cả hai đã chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân vì người mình yêu, vì
người thân yêu. Nguyễn Du đã thể hiện tuyệt vời ở năng lực thấu cảm con người,
không chỉ qua lời đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật Thúy Kiều, mà trong cả
sự im lặng không lời của nhân vật Thúy Vân.
Từ hướng khai thác trên, tôi đã khắc sâu cho học sinh: đoạn trích Trao duyên
thể hiện được sâu sắc tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Đại thi hào.
3.3.3. Nỗi thương mình
* Xác định yêu cầu và trọng tâm kiến thức
Học sinh cảm nhận được thân phận đau đớn, tủi nhục của Kiều ở chốn lầu
xanh và ý thức về nhân phẩm của mình; nỗi đau thân phận, nỗi đau bị thay đổi giá
trị con người, thương thân, tiếc thân.
* Hướng khai thác truyền thống
xanh. Thậm chí, tác giả đã tái hiện khá sinh động, cụ thể cuộc sống mua vui với sự
tái diễn miên man, bất tận. Ngược lại, nhờ có mĩ cảm vững vàng lại cho phép ông
chủ động sử dụng cách diễn tả kia, làm cho ngôn từ thơ vẫn đạt được sự trang nhã
cần thiết, hướng người đọc tới thái độ dị ứng với những cảnh thác loạn.
Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đưa ta tới miền tâm sự của nàng Kiều: Khi tỉnh
rượu, lúc tàn canh - Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Ba từ “mình” xuất
hiện trong câu thơ đã nhân lên trùng trùng sự cô độc đang vây bọc lấy Kiều.
Nguyễn Du đã rưng rưng cùng Kiều vào chính những thời điểm nàng còn lại một
mình một bóng. Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh là thời điểm nàng được trở về với
mình, sống đúng mình nhất.Kiều không thể trốn mình, không thể thoát khỏi sự giày
vò của ý thức về nhân phẩm. Sự hồi nhớ về một thời phong gấm rủ là, về nếp sống
của một tiểu thư khuê các đã làm Kiều vô cùng đau đớn, tủi hổ. Sự đối lập dữ dội
giữa hai cảnh đời dường như vượt quá tầm lí giải của nàng, thấy kinh sợ cho chính
bản thân và muốn nguyền rủa bản thân.
Nguyễn Du đã khai thác sâu cách ứng xử của nàng Kiều giữa chốn ô trọc:
Mặc người mưa Sở mây Tần - Những mình nào biết có xuân là gì. Xuân là sự vui
tươi, mãn nguyện, là hạnh phúc. Cuộc sống của Kiều ở lầu xanh, Kiều hoàn toàn
không có sự nhập cuộc của yếu tố tinh thần. Ngẫm nghĩ về dụng ý của thi nhân cho
ta cảm nhận rất rõ: Thái độ ứng xử của Kiều không hoàn toàn giống những kĩ nữ ở
lầu xanh. Nguyễn Du đã rất đời khi ông đặt nhân vật của mình vào một môi trường
dung tục, mà khách làng chơi là những Tuấn Ngọc, Trường Khanh - những kẻ
phong lưu tài tử ăn chơi có tiếng; Kiều được thưởng ngoạn cùng khách khi xem
hoa nở, khi chờ trăng lên với những cảnh đẹp thiên nhiên bốn mùa thơ mộng hữu
tình phong, hoa, tuyết, nguyệt; với những thú vui khách làng chơi đòi hỏi mà Kiều
được thể hiện tài nghệ kĩ nữ, không phải ai cũng có khả năng thưởng thức cầm, kì,
thi, họa. Kiều chiều khách, tài - sắc của nàng được phát huy triệt để là thế, sao nàng
không vui, sao chỉ thấy xót mình, thương mình? Bởi những hạng đàn ông kia, dù
15
đắc lời bình tài hoa của nhà phê bình Hoài Thanh: “Suốt cả quyển Truyện Kiều,
không có chỗ nào ngòi bút Nguyễn Du hân hoan bằng những khi Từ Hải nói hay
nói tới Từ Hải. Biết đâu Từ Hải chẳng là cái mộng tưởng lớn nhất trong đời
Nguyễn Du…” (Báo Thanh Nghị, số 36, tháng 5-1943)
Tôi đã chọn hướng đi mới để tổ chức học sinh khai thác: Tình huống Từ Hải
tạm biệt Thúy Kiều để lên đường theo đuổi nghiệp lớn; lời chia tay với mĩ nhân
mang đậm cốt cách và hoài bão của Nguyễn Du.
16
- Tình huống Từ Hải tạm biệt Thúy Kiều
Với đoạn trích, Nguyễn Du đã dụng công, dụng tâm tạo dựng một không
gian riêng - không gian mở, không gian bao la - để Từ Hải xuất hiện. Đặc biệt, nhà
thơ đã rất cố ý đến tình huống Từ Hải tạm biệt Thúy Kiều để lên đường theo đuổi
nghiệp lớn; miêu tả sâu sắc cách ứng xử của Từ Hải với mĩ nhân, với hạnh phúc
được sống cùng người đẹp, qua đó làm nổi bật tính cách hơn đời của chàng. Đây là
một lưạ chọn nghệ thuật tuyệt đối phù hợp. Bao giờ mĩ nhân chả là một cửa ải khó
vượt đối với kẻ nam nhi, những bậc anh hùng? Một khi nghiệp lớn chưa thành,
chàng không đành tâm vui hưởng hạnh phúc với mĩ nhân, dù đó là người hồng
nhan tri kỉ. Từ Hải đã quyêt định ra đi giữa lúc khó ra đi nhất, giữa lúc ái tình đang
tỏa hương ngây ngất: Nửa năm hương lửa đương nồng - Trượng phu thoắt đã
động lòng bốn phương.
Từ Hải rất yêu, rất trọng Kiều, nhưng cái chí tung hoành giữa bốn phương
vẫn lớn hơn, giúp chàng vượt qua trạng thái bịn rịn, nhùng nhằng một cách nhẹ
nhàng. Từ Hải là con người biết sống cho tình yêu nhưng cũng là con người của
mênh mang trời bể. Từ Hải chưa thật sự cất bước ra đi, nhưng chí của chàng đã
rong ruổi cùng thanh gươm, yên ngựa. Đây chính là điểm khác biệt trong tâm lí của
Từ Hải khác với những nhân vật đàn ông khác từng yêu Thúy Kiều như Kim Trọng
hay Thúc Sinh.
- Lời Thúy Kiều với Từ Hải
tâm trạng kia của Thúy Kiều? Nguyễn Du đã nhập tâm vào chàng, lấy cái tình của
một người đàn ông có chí lớn để thuyết phục Kiều khi nàng một lòng xin đi. Thoạt
tiên, chàng trách nàng: Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình. Trách đấy nhưng
thực chất là đề cao Kiều đấy, bởi trong suy nghĩ của chàng, nàng là người tâm phúc
tương tri và Từ Hải muốn nàng như vậy. Lời giã biệt dứt khoát của chàng, cũng là
lời Từ muốn thuyết phục Kiều yên lòng ở lại: Làm cho rõ mặt phi thường - Bấy giờ
ta sẽ rước nàng nghi gia, Bằng nay bốn bể không nhà - Theo càng thêm bận, biết
là đi đâu. Đó mới đích thực là chàng Từ Hải của Nguyễn Du: thương yêu, quan
tâm, lo lắng, ân cần chu đáo nhất mực cho người đàn bà của mình. Tôi thầm nghĩ,
sáng tạo những dòng này chắc hẳn Nguyễn Du đã rất hài lòng mãn nguyện; bởi
trong bể trầm luân kia, người đàn bà của thi nhân đã có một bờ vai thật tự hào,
vững chãi và tin cậy. Hơn thế nữa, chàng ra đi có tâm nguyện: Làm cho rõ mặt phi
thường - muốn sự tồn tại của mình giữa cuộc đời phải thật ý nghĩa. Khái niệm hạnh
phúc của chàng có màu sắc đặc biệt của một người đàn ông chung tình, coi trọng
tình cảm lứa đôi: Hạnh phúc của kẻ phải biết làm nên nghiệp lớn, và hạnh phúc của
việc biết đem nghiệp lớn để tặng cho người mình yêu. Từ muốn Kiều được hưởng
những gì nàng xứng đáng được nhận. Nàng hiểu Từ Hải và tin chàng, nhất là trong
thời điểm này. Kiều hoàn toàn yên lòng từ biệt Từ Hải với một niềm hi vọng và tin
tưởng tuyệt đối.
Từ Hải là một giấc mơ đẹp của Nguyễn Du và của biết bao người có hùng
tâm tráng chí. Cách hành xử của Từ Hải cũng sẽ là giấc mơ cho đàn bà muôn đời
sau khát khao về một nửa của cuộc đời mình. Một Từ Hải có cốt cách phong lưu
tràn đầy khí chất anh hùng. Đó mới là sự sáng tạo mang đậm dấu ấn cái Tình
Nguyễn Du về người anh hùng lí tưởng Từ Hải, mặc dù Từ Hải vẫn là nhân vật anh
hùng với tầm vóc phi thường mang thi pháp của văn học trung đại.
* *
*
Trong quá trình nung nấu và thực hiện đề tài này, bản thân tôi rất biết ơn và
thấm thía lời của người xưa: “Đối với thơ văn, cổ nhân ví như khoái chá, ví như gấm
vóc; khoái chá là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là màu rất đẹp trên đời, phàm người
Tôi đã áp dụng cụ thể hướng khai thác trên vào các tiết thao giảng chọn giáo
viên giỏi cấp trường: Thề nguyền (đọc thêm, tiết 86) năm học 2017-2018; Chí khí
anh hùng (tiết 85) năm học 2018-2019. Cả hai giờ được đồng nghiệp trong tổ nhóm
và ban chuyên môn nhà trường đánh giá rất cao, đều đạt loại giỏi.
* Triển khai chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi cấp trường lớp 10 và học sinh
giỏi cấp tỉnh môn Ngữ Văn lớp 11 ở trường Trung học phổ thông 4 Thọ Xuân.
Thông qua sinh hoạt chuyên môn, đi sâu nâng cao chất lượng mũi nhọn từ việc làm
mới và đánh thức cảm quan cảm nhận văn học của học sinh giỏi.
Chuyên đề: Từ góc nhìn hiện đại, khai thác cái Tình của đại thi hào Nguyễn
Du qua các trích đoạn Truyện Kiều trong chương trình Ngữ Văn 10.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
2.4. 1. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường
Mặc dù kinh nghiệm là tâm huyết được dồn chắt của bản thân, nhưng chọn
đề tài về một tác phẩm là tập đại thành của văn học bác học - đỉnh cao của văn học
nước nhà, là một việc làm sẽ khó tìm được tiếng nói chung của đồng nghiệp. Mặt
khác, năng lực của bản thân còn hạn chế nên kết quả chắc chắn chưa phải là tốt
nhất.
19
Các lớp do tôi trực tiếp giảng dạy áp dụng đề tài đều có kết quả cải thiện rõ
rệt trong giờ Đọc – hiểu Truyện Kiều. Cụ thể, trong năm học 2018-2019, để có
nguồn minh chứng thuyết phục cho đề tài, tôi đã tiến hành thực nghiệm ở lớp
10A2, và đối chứng với lớp 10A7, đều là hai lớp học chương trình cơ bản môn Ngữ
văn ở trường THPT 4 Thọ Xuân. Kết quả thu được:
2.4.1. Trong giờ học
* Lớp 10A7: Dạy theo khai thác truyền thống:
- Giờ học trầm, và hầu như chỉ có giáo viên làm việc, học sinh ngại phát
biểu, ngại trình bày, ngại đưa ra ý kiến chủ quan vì sợ sai, vì không nắm được kiến
TL
SL
TL
SL
TL
50
2
4%
15
30%
25
50%
3
6%
48
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.1.1.Đối với học sinh
- Con đường ngắn nhất để học sinh đương đại tiếp nhận, mở lòng đón nhận
tác phẩm văn học cổ điển - di sản văn hóa vô giá của cha ông, người thầy phải tìm
ra con đường đơn giản nhất: từ trái tim đến với trái tim, đó là sự đồng cảm.
- Cần tạo cho học trò tự giác ở khâu chuẩn bị bài và tâm thế chủ động, tự tin
chia sẻ trong giờ học.
3.1.2. Đối với giáo viên
- Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (Nguyễn Du). Đối với giờ Đọc - Văn
người thầy nên chọn góc nhìn hiện đại, tìm được tiếng nói tri âm với tác giả, sẽ có
chìa khóa giải mã tác phẩm.
- Dạy văn học, học văn học là một niềm vui sướng lớn (Tố Hữu). Muốn có
được niềm hạnh phúc này, người thầy phải nỗ lực không ngừng, luôn có ý thức mở
rộng kiến thức - vốn sống và làm giàu cảm xúc - tư duy để có chỗ đứng vững vàng
trên bục giảng, biến giờ Đọc –hiểu thành quan hệ đối thoại với học trò.
3.2. Kiến nghị
Tuyển chọn những SKKN đạt giải cao, có giá trị thực tiễn đưa vào Trường
học kết nối để giáo viên có nhiều cơ hội được trao đổi kinh nghiệm và học hỏi đồng
nghiệp.
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Lê Thị Lương
2.
Cấp đánh giá xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)
Kết quả đánh
giá xếp loại
(A, B, hoặc C)
Kinh nghiệm bồi dưỡng học
Cấp Tỉnh
A
1993-1994
sinh giỏi Văn lớp 5.
Xây dựng hệ thống câu hỏi
Cấp Tỉnh
B
2008-2009
Cấp Tỉnh
C
pháp dạy học mới
Làm thế nào để có chất văn
trong giờ Đọc văn theo tinh
4.
thần dạy học hiện đại
Dạy tác phẩm tự sự ở trường
THPT dưới góc độ tình
5.
huống truyện
Góp phần nâng cao hiệu quả
giờ Đọc –hiểu môn Văn ở
6
trường THPT.
Nâng cao năng lực cảm thụ
tác phẩm tự sự ở trường
THPT từ kĩ năng khai thác
23
7
tình huống truyện
Tạo hứng thú và hiệu quả
2017-2018
trong giờ Đọc – hiểu môn
8
thôn Vĩ Dạ” ( Ngữ Văn 11)
theo hướng phát huy năng lực
9
học sinh
Rèn luyện năng lực tư duy và
kĩ năng làm bài văn nghị luận
cho HS từ dạy tích hợp tác
phẩm nghị luận trong nhà
10
trường
Nâng cao năng lực làm văn
nghị luận góp phần rèn luyện
kĩ năng sống cho học sinh
THPT
Giáo dục giá trị sống giàu ý
11
nghĩa thực tiễn cho HS lớp
12, trong giờ Đọc – hiểu văn
xuôi Việt Nam hiện đại sau
1975