I. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
M.Gooc Ki đã từng nói:“Văn học - là nhân học” là tấm gương phản chiếu cuộc
sống xã hội con người, đồng thời có sự tác động tới cuộc sống xã hội hướng con
người đến Chân - Thiện -Mĩ.Thông qua các hình tượng nghệ thuật, văn học giúp
người đọc nhìn thấy những sự thật của nhân sinh, nhận biết được cái đẹp, cái xấu,
cái thật, cái giả, cái cao cả và cái thấp hèn...(Phương Lựu... - Lý luận văn học) Văn
học giáo dục tư tưởng nhân đạo, lòng vị tha, tinh thần yêu công lý, chuộng lẽ phải,
yêu quê hương đất nước giáo dục kĩ năng sống – cách ứng xử của con người theo
đạo lý truyền thống dân tộc trước những vạn biến của cuộc đời bể dâu .
Truyện Kiều là một kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, là di sản văn hóa nhân
loại có sức sống sâu rộng trong lòng người Việt và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Re ne Creysac người Pháp trong bài tựa mở đầu quyển Truyện Kiều
dịch sang tiếng Pháp đã có nhận định. “Tác phẩm của Nguyễn Du có thể đem so
sánh mà không sợ thua kém các tác phẩm của bất cứ thời đại nào, của bất cứ quốc
gia nào…”Một thời Truyện Kiều đã trở thành một sinh hoạt văn hóa của người Việt:
đọc Kiều, bình Kiều, ngâm Kiều, vịnh Kiều, lẩy Kiểu , bói Kiều…Từ khi ra đời đến
nay Truyện Kiều thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước say mê tìm
hiểu khám phá. Thế kỷ 20 khi văn học hiện đại phát triển mạnh mẽ thì Truyện Kiều
chưa bao giờ ngủ yên trong thư viện, nó luôn bị đánh thức, tra vấn, để tham gia vào
dòng chảy của cuộc sống hiện đại. Truyện Kiều nói mãi không cùng, nó ngày càng
mở ra những chiều sâu mới đến vô cùng. “Tháng 11/2000 khi Tổng thống Mỹ, ông
Bill Clinton tới Việt Nam đã để lại ấn tượng tốt đẹp, gần gũi khi đọc hai câu thơ
Kiều đề cập chiều hướng phát triển của quan hệ hai nước : “ Sen tàn cúc lại nở hoa /
Sầu dài ngày ngắn đông đã sang xuân ”. Gần đây trong chuyến thăm chính thức Hoa
Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại buổi chiêu đãi trọng thể ở Nhà Trắng, phó
tổng thống Mỹ Joe Biden đã đọc hai câu thơ trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi
hào Nguyễn Du để mô tả quan hệ Việt Mỹ: “ Trời còn để có hôm nay / Tan sương
đầu ngõ vén mây giữa trời ” (TS Chu Văn Sơn – Văn học và tuổi trẻ ). Như vậy dạy
học Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn 10 cần cho học sinh thấy được những
giá trị của tác phẩm vẫn được tiếp tục phát huy trong cuộc sống hiện đại.
coi trọng thiên chức văn dĩ tải đạo của văn học trung đại, bồi dưỡng cho người học
về đạo lý làm người, tình yêu thương, đức hi sinh, lòng vị tha, lý tưởng sống quan
niệm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín …cách ứng xử của con người trong thời đại nền văn
hóa hòa nhập nhưng không được hòa tan của dân tộc ta hiện nay.
- Thiết kế giáo án thể nghiệm, tiến hành dạy thể nghiệm và đánh giá kết quả thể
nghiệm chọn cách dạy đổi mới, đạt hiệu quả cao nhất trong giờ học .
1.3. Đối tượng nghiên cứu :
- Các phương pháp dạy học các đoạn trích truyện Kiều
- Hoạt động dạy và học các đoạn trích truyện Kiều của giáo viên, học sinh lớp 10
trường THPT Đinh Chương Dương và các trường THPT Hậu Lộc
- Các đoạn trích Truyện Kiều trong chương trình ngữ văn 10 THPT hiện nay: Thề
nguyền, Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng, và các bài viết kiểm tra
của học sinh qua học các đoạn trích Truyện Kiều .
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các cách dạy- học đọc hiểu các đoạn trích truyện
Kiều để tìm ra những cách thức, biện pháp phù hợp phát huy tính chủ động sáng tạo
trong dạy học văn và tác động của văn học đến phẩm chất nhân cách tâm hồn HS.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ thực trạng của vấn đề nghiên cứu, để đạt kết quả, tôi đã vận dụng
những phương pháp sau : PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; Khảo sát tài
liệu, dự giờ đồng nghiệp, thể nghiệm, kiểm tra, chấm bài của học sinh sau khi học
các đoạn trích Truyện Kiều, phân tích, thống kê, xử lý số liệu. tổng hợp, so sánh đối
chiếu hiệu quả của các cách dạy.Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho cách dạy mình
mới áp dụng .
1.5. Điểm mới của SKKN: Đổi mới cách dạy học văn tạo sự yêu thích học tập bộ
môn qua việc hướng dẫn cách tiếp nhận sâu sắc giá trị nội dung văn bản nghệ thuật
ngôn từ với chú trọng giáo dục nhân cách phẩm chất đạo đức bồi dưỡng vẻ đẹp tâm
2
hồn con người. Lý giải, đề nghị dạy đoạn trích Truyện Kiều phải đặt trong mạch lô
đoán mọi việc hợp tình hợp lý cũng từ cái tâm hiếu nghĩa khiến người đọc nể trọng
khâm phục và học tập.
Hiện nay nhiều chân giá trị đạo đức, quan niệm sống bị pha trộn học sinh THPT
lứa tuổi cần được bồi đắp nuôi dưỡng tâm hồn, đạo lý làm người đặc biệt là chữ hiếu
chữ tình, lý tưởng sống. SGK ngữ văn 10 với những trích đoạn Truyện Kiều có đóng
góp không nhỏ trong bài học làm người ở các em.“Làm con trước phải đền ơn sinh
thành”hiếu nghĩa thủy chung, coi trọng tình nghĩa, giàu tình yêu thương sống có
trách nhiệm, mạnh mẽ quyết đoán, yêu mãnh liệt hết mình nhưng trong sáng đoan
trang, luôn giữ gìn phẩm chất nhân cách trong mọi trong mọi hoàn cảnh, phải có ý
chí khát vọng sự nghiệp và lạc quan tin tưởng vào tương lai...
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
* Đối với giáo viên dạy môn ngữ văn
Truyện Kiều là tác phẩm có nhiều giá trị to lớn được đưa vào học ở lớp 9, lớp 10
cũng chưa được chú trọng khai thác giá trị giáo dục sâu sắc trong đời sống con người
Khảo sát phần mục tiêu cần đạt ở SGK và SGV và một số sách tham khảo ngữ
văn 10, các trích đoạn Truyện Kiều đa số có mục tiêu yêu cầu cần đạt của các đoạn
trích đều chú trọng khai thác nội dung tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du qua các
chi tiết hình tượng nghệ thuật ngôn từ như: “ Diễn biến tâm trạng đầy mâu thuẫn,
phức tạp, bế tắc, bi kịch bất hạnh và phẩm chất tâm hồn cao đẹp hiếu nghĩa của
Thuý Kiều. Hiểu được lý tưởng và chí khí anh hùng khát vọng tự do của nhân vật Từ
Hải, khát vọng tình yêu tự do vượt lên sự ràng buộc của lễ giáo của Thúy Kiều. Qua
đó, thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du với
số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến”( SGK, SGV Ngữ văn 10 Tập 2).
Mục tiêu bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất đạo đức, cách ứng xử văn hóa ... hay
chính là cách làm người chưa được đặt ra cụ thể. Việc kiểm tra đánh giá chưa có yêu
cầu cụ thể rút ra bài học kỹ năng sống sau bài học .
- Các giáo viên chú trọng dạy tri thức, chưa chú tâm việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân
của từng hình ảnh, biện pháp tu từ và chưa thật chú ý đến bài học to lớn của chức
năng “ văn dĩ tải đạo”, cách dạy kỹ năng sống cho con người qua văn học
Thực tế cho thấy cách dạy học văn đặt ra trong mục tiêu bài học cụ thể hay không
đặt ra thì qua việc dạy học văn đòi hỏi sự sáng tạo từ cả hai phía (GV và HS) lấy giá
trị của tác phẩm làm phương tiện để hướng tới mục đích giáo dục. Nghĩa là qua giờ
dạy học văn cần chú ý vấn đề rút ra ý nghĩa giáo dục, thẩm mĩ qua nhận thức vấn đề
nội dung nghệ thuật. Từ đó trang bị cho học sinh tri thức hiểu biết cuộc sống xã hội
con người và bồi dưỡng nhân cách đạo đức, phẩm chất tốt đẹp, ứng xử văn hóa
hướng tới chân thiện mĩ.
Người viết mạnh dạn lấy dẫn chứng cụ thể về thực trạng của vấn đề ở từng bài
dạy và cách giải quyết cụ thể vấn đề ấy trong từng giờ học đoạn trích Truyện Kiều
của Nguyễn Du. Góp thêm một hướng tiếp nhận mới dạy văn để người học có cái
nhìn cụ thể và khái quát về ý nghĩa giáo dục đạo đức cách sống trong từng chi tiết, từ
ngữ hình ảnh đoạn trích Truyện Kiều nhằm nâng cao hiệu quả của việc đổi mới dạy
học môn ngữ văn trong nhà trường THPT
2.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
2.3.1. Đọc hiểu văn bản văn học phải thấy được sự ảnh hưởng sâu sắc của văn
hóa dân tộc đến nội dung tư tưởng và nghệ thuật tác phẩm. Văn hóa dân tộc
mang tính thời đại, nếu HS ngày nay không hiểu rõ văn hóa trung đại sẽ khó
hiểu điều Nguyễn Du gửi gắm trong tác phẩm Truyện Kiều.
- Nhìn từ góc độ văn hoá, Truyện Kiều có nội dung sâu sắc, nhiều tầng ý nghĩa phong
phú, đa dạng, dào dạt như dòng chảy văn hoá suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Tất cả từ
Hán Việt và điển cố lấy trong sách vở với lối diễn đạt đài các, quý phái đều được sử
dụng phù hợp, đúng người, đúng cảnh với liều lượng đủ để làm rõ những sắc thái tinh tế
của cảnh, của tình, của nhân vật và làm rõ những nét tinh vi, tế nhị trong ma trận tình
cảm của con người. Dạy- học truyện Kiều cần chú ý những tri thức văn hóa trung đại để
HS hiểu, phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông.
- “Về lời thề đối với người xưa lời thề hết sức thiêng liêng. Người xưa giữ niềm
tin, giữ chữ tín qua lời thề nguyền. Có thể nói, thề trong xã hội xưa có vai trò như
một bản giao kèo, hợp đồng của xã hội hiện đại bằng mọi giá phải thực
không thể có kết quả khi chưa có khởi đầu, chúng ta chưa biết gì về tình yêu Kim Kiều mà đọc "Trao duyên" thì làm sao thấu được nỗi đau của Thuý Kiều khi phải
trao duyên cho Thuý Vân. Đọc, phân tích, cảm nhận...đoạn trích bao giờ cũng đặt nó
trong tổng thể tác phẩm thì mới thấy hết cái hay, cái đẹp cũng như vai trò, vị trí của
nó trong việc dạy người. Và được đọc tác phẩm theo mạch cảm xúc, theo trình tự sắp
xếp của tác giả có lẽ kết quả tiếp nhận sẽ tốt hơn. Chính vì vậy tôi đã đề xuất với tổ
Văn dạy đoạn này trước và kết quả khá tốt.
- Dạy mỗi đoạn trích Truyện Kiều phải luôn đặt nó trong lô gic cốt truyện để người
tiếp nhận hiểu được mạch truyện, những biến cố trong cuộc đời nhân vật. Đoạn
trích: Thề nguyền: Từ câu 431 đến câu 452 thuéc phÇn gÆp gì vµ ®Ýnh ưíc. Sau buổi du xuân (Kiều và Kim Trọng gặp nhau)“Tình trong như đã mặt ngoài
còn e”. Thúy Kiều chủ động sang nhà Kim Trọng, hai người thề nguyền, chung thủy
suốt đời và tình tự đến tối mới chia tay. Kể về hành động Kiều đã táo bạo, chủ động
đến với người yêu, cùng nhau làm lễ thề nguyền bộc lộ khát vọng tình yêu tự do của
Thúy Kiều, của Nguyễn Du của muôn đời người.
Khi học đoạn trích Trao duyên HS đã hiểu khát vọng tình yêu mạnh mẽ trong bước
chân nàng Kiều, mới thấu nỗi đau khổ của nàng khi tình yêu tan vỡ, hiểu cảm đựơc
bi kịch đau đớn sót xa day dứt khi nàng phải trao duyên. Gia đình gặp nạn, Kiều hi
sinh tình yêu để hoàn thành chữ hiếu nàng thức trắng đêm day dứt vì tình yêu của
mình, Kiều nhờ Thúy Vân là em gái thay mình kết duyên với Kim Trọng để chàng
được hạnh phúc. Đoạn trích từ câu 723 – 756 thuộc phần 2 gia biến và lưu lạc. Sau
đoạn trích là 15 năm lưu lạc khổ đau của nàng Kiều. Người đọc sẽ thấy rõ vẻ đẹp
đức hy sinh của con người hiếu nghĩa và có tình yêu sâu sắc mãnh liệt của Kiều.
Đoạn trích thể hiện sâu sắc tài sáng tạo của Nguyễn Du so với Kim Vân Kiều truyện,
bởi ông đã xây dựng nhân vật trên nền văn hóa đạo lý dân tộc mình và gửi đến hậu
6
thế một tấm gương hiếu nghĩa.
- Đoạn trích “Nỗi thương mình ” từ câu 1229-1248 của truyện Kiều thuộc phần“
Gia biến và lưu lạc”.Mã Giám Sinh đưa Kiều vào lầu xanh của Tú Bà, Kiều mắc bẫy
bị ép ra tiếp khách làng chơi nàng đau đớn thốt lên: Chút lòng trinh bạch từ sau xin
học sinh kịp thời uấn nắn điều chỉnh những suy nghĩ lệch lạc và trân trọng phát huy
những tư tưởng quan điểm tích cực, đúng đắn hợp đạo lý mang tính giáo dục, thẩm
mĩ to lớn của tác phẩm, dù mục tiêu bài học đặt ra cụ thể hay không cụ thể bởi đó là
chức năng quan trọng của văn học.
- Chú ý giá trị giáo dục của chi tiết từ ngữ cụ thể trong văn bản văn học nhưng
không gò ép máy móc định ra giá trị của tác phẩm một cách phi lô gíc. Từ chỗ người
đọc hiểu được các chi tiết sự kiện quan trọng thể hiện tư tưởng chủ đề tài năng nghệ
thuật, có được sự lý giải phù hợp thuyết phục, hiểu được ý nghĩa giáo dục con
7
ngi ca vn hc ngi hc s hiu c cỏch ng x bc l tỡnh thng yờu
ca mỡnh i vi ngi thõn. ng thi cú cỏch nhỡn nhn cuc sng a chiu, giu
lũng v tha, thu hiu v cm thụng .
2.3.4. Trong quỏ trỡnh hng dn c hiu vn bn vn hc ngi thy phi
chỳ ý phng phỏp phỏt huy vai trũ ch ng sỏng to ca ngi hc trong vic tip
nhn vn bn vn hc .Vỡ ch khi hc sinh thc s hiu c nhng chi tit chớnh, s
vic, cỏc bin phỏp tu t, hiu c nhón t ca thi phm hiu c giỏ tr tỏc
phm, hiu c t tng ,tỡnh cm tỏc gi qua nhng iu mun nhn gi thỡ mc
tiờu giỏo dc con ngi qua gi hc mi t hiu qu cao .
Sau mi bi dy nờn t cõu hi cho hc sinh tho lun v rỳt ra bi hc c th
cho bn thõn v cỏch ng x, bi hc lm ngi trong cuc sng .Chỳ ý n tõm
sinh lý con ngi v thi i trong vic tip nhn tỏc phm vn hc cú cỏch
hng dn giỏo dc phự hp giỳp ngi hc cú s hng thỳ tin yờu nhng iu nh
vn mong mun v phn ỏnh. Bi tõm sinh lý con ngi v hon cnh sng cng tỏc
ng khụng nh n vic tip nhn, ỏnh giỏ giỏ tr tỏc phm ca bn c .
2.3.5. Trong kim tra ỏnh giỏ : kim tra ming, mi lm phỳt, hoc mt tit,
cn cú nhng cõu hi nhn xột, cm nhn, ỏnh giỏ v giỏ tr giỏo dc ca tỏc phm
vn hc vi tõm hn, nhõn cỏch, quan im sng, lớ tng sng ca bn thõn .Chỳ ý
phỏt hin v trõn trng khuyt khớch, ỏnh giỏ s sỏng to, nhng rung cm chõn
táo bạo, xuất phát từ tình yêu đắm say, trong trắng, tự nguyện
của Thúy Kiều vi Kim Trọng. Thuý Kiu vt lờn nhng quan nim c h
ca l giỏo phong kin v tỡnh yờu nam n n vi ngi yờu y hỏo hc, mnh
m. Hai t lỏy tng hỡnh " Xm xm" kt hp vi ch "bng" u din t s nhanh,
mnh vt qua mi tr ngi trờn ng n nh Kim Trng, n vi tỡnh yờu ca
Thuý Kiu. S ch ng tỡm n ngi mỡnh yờu ca Kiu l biu hin rt mi m
v ỏng trõn trng trong ni dung, t tng nhõn o m Nguyn Du úng gúp cho
nn vn hc trung i by gi. Thc ra Thuý Kiu khụng phi l ngi con gỏi u
tiờn trong vn hc ch ng khi yờu bi trc ú nng Tiờn Dung trong truyn c
tớch" Ch ng T" ó lm. Khi chn ch khoanh mn tm Tiờn Dung vụ tỡnh
chn ỳng ch Ch ng T du mỡnh.Tiờn Dung ngh ú l duyờn tri nờn ng li
kt hụn cựng Ch ng T. Nng cụng chỳa y vt lờn giai cp, vt lờn l giỏo,
vt lờn mi s phõn bit i n hụn nhõn vi mt chng trai ngay c n cỏi kh
cng khụng cú mc. c m, khỏt vng v mt tỡnh yờu thun nguyờn, v s ch
ng, bỡnh ng, t do trong tỡnh yờu, hụn nhõn ó cú t khi loi ngi xut hin.
iu ỏng núi õy l Kiu ch ng tỏo bo sang nh Kim Trng cựng t tỡnh di
s chng dỏm ca tri t ch khụng phi tỡnh c nh Tiờn Dung. S k tha v phỏt
huy trong cỏch th hin ca cỏc tỏc gi vn hc vn v s luụn cn thit khi dy,
nh hng, c v cho s nhõn vn trong i sng con ngi.
b.Mi hai cõu sau: Khụng gian v nghi l ờm th nguyn:
* ờm th nguyn : Khụng gian th mng thiờng liờng mt ờm trng ni th phũng
ca Kim Trng. Chng ng m nh cha ng, nh ang m mng m mỡnh trong
gic mng tỡnh yờu, khụng gian thn tiờn.Thỳy Kiu n vi Kim Trng Gút sen s
ng gic hũe nh ngi t cừi tiờn bc xung cừi trn, Kiu n vi KimTrng
tht m c tng nh l m. Chng sung sng say mờ, m ui n bõng khuõng
ngt ngõy khi ngi p n gn. ú cng l tõm trng chung ca gii my rõu trc
ngi p. iu ỏng núi l Vi mng lm l rc vo. ỏp li hnh ng tỏo bo
mnh m tha thit vỡ tỡnh yờu phi tr ng tỡm hoa ca Kiu, Kim Trng khụng
coi thng r mt nng m tụn trng ngng m ngi yờu. Hai ngi yờu nhau ri
t th nguyn chung thy sut i.
của nàng Kiều còn làm ngơ ngác bao thiếu nữ ngày nay ”nhưng Kiều vẫn luôn giữ
mình trong trắng khi tình yêu trào dâng mạnh mẽ trước chàng Kim. Nàng luôn giữ
được chữ tín về nhân phẩm của mình. Vì vậy dù sau này do hoàn cảnh sống 15 năm
đoạn trường Kiều phải trải qua bao gió dập sóng vùi nhưng Kim vẫn cảm thông trân
trọng nàng. Đó là điều người đời khâm phục và trân trọng nàng. Chàng thư sinh nho
nhã hào hoa say mê, đắm đuối đến bâng khuâng ngất ngây khi người đẹp đến gần
không coi thường rẻ mạt nàng mà tôn trọng ngưỡng mộ người yêu họ giữ gìn cho
nhau, họ đã vượt qua bao khó khăn cản trở của lễ giáo phong kiến để tự do yêu nhau
những họ vẫn không vượt quá giới hạn theo đạo đức truyền thống. Sự trong sáng của
mối tình Kim –Kiều luôn là tấm gương cho mỗi chúng ta trong khi yêu, là chiếc
phanh cảm xúc trước cửa cấm, là tình yêu đích thực, tình yêu đẹp .
III. Tổng kết và luyện tập:
* Nội dung: - Đoạn trích ca ngợi tình yêu đắm say, mãnh liệt. Thể hiện thái độ đồng
cảm trân trọng của ND với khát khát vọng về tình yêu tự do, hạnh phúc của con
người. Tiếng nói vượt thời đại của Nguyễn Du trong tình yêu để lại bài học sâu sắc
về văn hóa tình yêu cho mọi thế hệ .
* Nghệ thuật : - Thể thơ : Lục bát . Sử dụng điển tích điển cố
- NT kể chuyện, miêu tả, cách sử dụng ngôn ngữ hình ảnh các biện pháp tu từ để tạo
nên ấn tượng sâu sắc trong mối tình Kim - Kiều.
* Luyện tập : HS chia nhóm thảo luận
1.Qua đoạn trích Thề nguyền em cảm nhận được những gì, đặc biệt là bài học về kỹ
năng sống ?
2. Từ nội dung đoạn trích em có thể rút ra bài học gì về nét đẹp văn hóa trong tình
10
yêu của thanh niên hiện nay?
2. Đọc hiểu: Trao duyên ( tiết 84,85) ( Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du )
II. Đọc - hiểu chi tiết
a.Thúy Kiều thuyết phục trao duyên choThúy Vân.
nguyện của chị, dù có chết chị cũng mãn nguyện.
* Nhận xét chung về lý lẽ, ngôn từ Kiều thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa cho
Kim Trọng ?
Như vậy là khúc dạo đầu khó nói đã được Kiều sử dụng ngôn ngữ tài tình có sức
lay động sâu sắc. Lời của Kiều ngắn gọn mà tha thiết, rõ ràng chặt chẽ mà lay động,
từ ngữ đắc địa, thể hiện Kiều thông minh bình tĩnh, tế nhị, khôn khéo, cẩn trọng chu
đáo, hiếu nghĩa, hiểu đời, hiểu người, hành động theo đạo lý, lựa chọn cách nói thích
hợp thuyết phục em. Kiều tha thiết thuyết phục Vân bằng cả lí, cả tình, bề ngoài Kiều
11
rất tỉnh táo sắp xếp mọi việc nhưng trong sâu thẳm cõi lòng nàng vô cùng đau đớn vì
tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng sâu sắc
Ngôn ngữ của Kiều thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du từ sự đồng cảm
thấu hiểu của ông với nhân vật. Đằng sau lời lẽ thuyết phục Thúy Vân của Kiều, là
cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp phải tế nhị, văn hóa, phải luôn chú trọng tới
hoàn cảnh giao tiếp và nội dung giao tiếp mà lựa chọn ngôn ngữ vì nó tác động tới
hiệu quả qiao tiếp : Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Đằng sau lời lẽ thông minh thấu lý đạt tình ấy của Kiều là cái tâm của một người con
hiếu thảo, của một người chị nghĩa tình và một người tình thủy chung trọn nghĩa .
Cái lạy của Kiều với Vân, đó là văn hóa sống, là lễ nghĩa của người xưa, hàm ơn
sự thiệt thòi sự hy sinh của em, dẫu rằng Vân cũng phải có trách nhiệm với gia đình.
Đó cũng là cách ứng xử mà mọi người trong cuộc sống thời nào cũng phải suy nghĩ
và hành xử .
Qua đây ta thấy Thúy Kiều chẳng những hiếu nghĩa hơn người mà lại biết quyết
đoán mọi việc. Khi nhà gặp tai họa thì nàng hiểu ngay phải có “ ba trăm lạng việc
này mới xong” và không bán mình thì làm gì có tiền. Nàng cũng biết mình trót nặng
lời thề với Kim Trọng nhưng lại hiểu ngay chữ hiếu vẫn nặng hơn chữ tình nên mới
quả quyết bán mình. Bán mình rồi thì nợ tình ai trả, nàng bèn nghĩ đến chuyện nhờ
em gái chắp mối tơ duyên.“Trong lúc ngổn ngang trăm mối bên trong lòng mà nàng
một thời để soi vào tương lai khiến con người hướng đến điều tốt đẹp sống có nghĩa
có tình và biết trân trọng giữ gìn hạnh phúc mình đang có. Trong thời phong kiến khi
tình yêu là điều cấm kị mà Kiều đã khao khát tình yêu tự do và cách ứng xử cao đẹp
nhân văn như vậy khiến cho những ai trong thời nay luôn ích kỷ, dày vò ganh ghét
với quá khứ tình yêu của người mình yêu phải nhìn lại mình và thay đổi. Trong cuộc
sống hiện đại tình yêu với những biến tấu: mối tình thoáng qua, mối tình nồng thắm,
mối tình giây lát, mối tình ngàn thu và “mấy khi yêu mà chắc được yêu” vì vậy con
người không tránh khỏi đau khổ vì chia ly điều quan trọng là cách ứng xử như thế
nào cho có văn hóa, tình người .
b.Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên :
- Đau khổ khóc thương cho thân phận bất hạnh của mình.Trao duyên xong lòng
tưởng nhẹ gánh nhưng nàng không hề thanh thản. Nàng hình dung ra một tương lai
thê thảm cái chết được nhắc đến nhiều lần. Hình ảnh ngọn cỏ, lá cây, hiu hiu gió,
mai sau, chị về, hồn, dạ đài, người thác oan gợi sự ảm đạm day dứt bởi linh hồn
Kiều chưa được siêu thoát, bơ vơ tội nghiệp. Kiều cảm thấy cuộc đời vô nghĩa, tương
lai đen tối khi tình yêu không còn vì với Kiều tình yêu là tất cả sự sống nên dẫu có
chết vẫn không quên lời thề với Kim trọng. Hồn Kiều vẫn luôn mong gặp lại người
yêu mong được thấu hiểu đồng cảm. Hồn, nặng lời thề, nát thân bồ liễu...Lời của
Kiều là lời của một oan hồn vọng về từ cõi âm thê thiết nhưng mạnh mẽ đòi được
giải oan, được siêu thoát, nhanh chóng trở về cuộc đời, đó là biểu hiện khao khát tình
yêu đòi quyền hạnh phúc quyền sống cho mình ẩn dưới ngôn ngữ đạo Phật.“ Dại đài
cách mặt khuất lời / Rưới xin giọt nước cho người thác oan”. Tâm trạng của nàng
đau đớn đến tột cùng. Nàng đã tự khóc thương mình. Đó là tiếng khóc cho thân phận
khóc cho tình yêu sâu sắc thắm thiết phải lìa tan.
- Trở về thực tại cay đắng phủ phàng: thành ngữ:“ trâm gãy gương tan” hình
ảnh của tình duyên tan vỡ, không thể hàn gắn .Việc kết hợp số từ: “ muôn vàn” với
từ chỉ tình cảm:“ái ân” một mặt thể hiện sự xót xa, nuối tiếc mặt khác cho thấy tình
yêu vẫn mãnh liệt sâu sắc trong nàng. Quên sự có mặt của Vân, tâm hồn nàng hướng
về chàng Kim, Kiều như đang giãi bày lòng mình với Kim Trọng nàng đau xót vì
tình duyên ngắn ngủi. Nàng gửi đến người yêu trăm nghìn cái lạy tạ lỗi cùng chàng
c. Nghệ thuật đặc sắc: Nguyễn Du tài tình trong sử dụng ngôn ngữ linh hoạt miêu
tả diễn biến tâm trạng một cách chân thực, tinh tế, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, lối
nói nửa trực tiếp, kết hợp tự sự với trữ tình nhuần nhuyễn thể hiện bi kịch tình yêu và
nỗi đau đớn, quằn quại của Thuý Kiều khi phải trao duyên, ta thấy được vẻ đẹp tâm
hồn, người con gái hiếu nghĩa, có trái tim nhân hậu, có tình yêu sâu sắc mãnh liệt
biết coi trọng danh dự, nhân cách luôn sống vì người khác thông minh, tinh tế, ứng
xử mang đậm đặc trưng văn hóa của con người trung đại.“ Điều sáng tạo mới mẻ
của Nguyễn Du là biến nhân vật chính từ con người đạo lý thành con người tâm
lý ...kể chuyện theo cái nhìn của nhân vật từ tâm trạng nhân vật mà nhìn ra”( Trần
Đình Sử -Thi pháp Truyện Kiều tr 121). Bi kịch của nàng bộc lộ tấm lòng nhân đạo
sâu sắc của tác giả
III. Tổng kết – Luyện tập
- Bằng hình thức độc thoại, sử dụng ngôn ngữ trang trọng, lối nói dân gian giản dị tài
năng miêu tả sâu sắc tâm trạng phức tạp của nàng Kiều trong đêm trao duyên.
- Bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều. Tiếng kêu đau đớn về số phận con người
trong xã hội phong kiến. Vẻ đẹp nhân cách sự hi sinh quên mình của nàng Kiều
Cách sống sự ứng xử của nàng để lại bao suy ngẫm bồi đắp tâm hồn cho con người
dù trong hoàn cảnh, thời đại nào .
* Luyện tập : 1. Em tâm đắc nhất điều gì sau khi học đọan trích Trao duyên Truyện
Kiều- Nguyễn Du?
14
2. Em rút ra được bài học gì trước sự ứng xử của Kiều trong đoạn trích? HS thảo lu
Nhiều bài viết đã tiếp nhận được nội dungtư tưởng, nghệ thuật và thông điệp của
tác giả về cách sống: cách ứng xử, giao tiếp từ vẻ đẹp tâm hồn Kiều các em bết sống
hiếu nghĩa, thủy chung trọn tình vẹn nghĩa, biết hy sinh vì người khác dẫu mình chịu
bao đau khổ...( Phụ Lục)
3.Đọc thêm : NỖI THƯƠNG MÌNH( tiết 86)(Trích Truyện Kiều -Nguyễn Du )
II. Đọc - hiểu chi tiết
cùng cực bởi sự ê chề, nhục nhã. Thương thân tiếc phận vì sự đổi ngôi giá trị của bản
thân mình “Thương mình, xót xa” là sự ý thức về nhân cách, phẩm giá và quyền
sống của bản thân khi bị chà đạp vùi dập ê chề. “ Truyện Kiều không chỉ có chữ tài,
chữ tâm, mà còn có chữ thân. Từ điển “Truyện Kiều của Đào Duy Anh thống kêcó
63 chữ thân với nghĩa là mình , tức là thân thế ....Thân là phần riêng tư nhất mà
15
người ta có thể liều, có thể giết , có thể đem cho. Thân là phần quí giá nhất có thân
mới có người ,có vui sướng có phúc phận. Ý thức về thân chính là ý thức về cái phần
riêng tư nhất, thực tại nhất của con người”(Trần Đình Sử -Thi pháp Truyện Kiều).
Nếu trước kia Kiều luôn dành tình thương cho gia đình, người thân yêu thì bây giờ
trong giây phút ít ỏi của cuộc sống xô bồ nhục nhã bị chà đạp Kiều thương xót cho
chính bản thân mình thể hiện ý thức nhân phẩm, vẻ đẹp tâm hồn đáng quý và giá trị
nhân văn cao cả. Nỗi thương mình như giọt nước mắt nuốt vào trong gan ruột mình
như thế mới thấm thía “xót xa”. Hai câu thơ tưởng chỉ thoáng qua với tư cách là nhịp
cầu chuyển cảnh hay một bối cảnh tâm tình.Thế mà tầng tầng lớp lớp vừa tự sự vừa
trữ tình ngắn gọn mà dư ba vang vọng.
Nghệ thuật đối lập quá khứ êm đềm, hạnh phúc,(Phong gấm rủ là) với hiện tại bị
chà đạp, vùi dập phũ phàng. Đối lập người vui vẻ, thỏa thích ái ân; mình cô đơn đau
khổ nhục nhã. Quá khứ đẹp bình yên hiện lên chỉ một dòng thơ, đối lập với thực tại
đau khổ ở ba dòng, nhà thơ đã cực tả nỗi cô đơn, sự nhục nhã, ê chề, sự chán chường
ghê sợ chính bản thân của Kiều. Biện pháp lặp Khi sao, giờ sao, thân sao…kết hợp
với thành ngữ dân gian (dày gió dạn sương, bướm chán ong chường...và câu hỏi tu
từ. Tạo giọng điệu chất vấn, tự giày vò, kết án chính mình, vừa oán trách số phận, sự
day dứt khôn nguôi. Đó là nỗi đau đớn về sự đổi thay của thân phận, sự ý thức về giá
trị con người bị chà đạp, bị hủy hoại. Nàng không buông mình theo dòng chảy đục
ngàu của cảnh nhà chứa mà thương thân tiếc phận. Đó là sự ý thức về phẩm giá và
nhân cách. Kiều thờ ơ, không quan tâm, không mặn mà với cuộc sống lầu xanh. Kiều
tồn tại như một cái xác vật vờ, một vật thể máy móc mà hoàn toàn không có sự nhập
trinh bạch linh hồn giữa chốn bụi bẩn”, “gió tựa hoa kề”, trước sự lả lơi của khách
làng chơi và kỹ nữ khi ngồi bên nhau, nàng thấy buồn bã ,vô cảm hững hờ, không
gian lạnh lẽo không hề có sinh khí. Cảnh vật càng đẹp lòng nàng càng trơ trọi cô
đơn, nỗi buồn đau trong tâm hồn mạnh hơn ngoại cảnh, lan tỏa bao trùm xuyên thấm
vào không gian cảnh vật.
-Thú vui chốn lầu xanh đầy sức hút, trong sự cô đơn con người dễ đắm mình trong
cầm kỳ thi họa để quên đi tất cả. Vốn là cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng nàng lại thờ ơ
chẳng mặn mà, những việc làm ấy chỉ là gắng gượng, giả tạo, ép buộc để khỏi mất
lòng khách. Từ “vui” từ “ai” cất lên tạo tiết tấu chì chiết, đay nghiến bản thân của
một con người giàu lòng tự trọng. “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” Kiều vẫn cô đơn cô
độc không thể tri ân cùng ai ở chốn dơ bẩn này. Tâm nàng buồn nên tất cả trở nên vô
nghĩa . Đã không có ai tri ân thì mọi thú vui trở thành vô nghĩa. Thế mới thấy nỗi
khát khao tìm người tri kỷ thấu hiểu cảm thông mãnh liệt bao nhiêu thì nỗi đau đớn
lớn bấy nhiêu. Tâm trạng chán trường tất cả, dù trong hoàn cảnh nào Kiều vẫn ý thức
giữ sự trong sạch, nhân phẩm, tâm hồn. Giữa chốn lầu xanh xô bồ, Kiều bị vùi dập,bị
chà đạp cả thể xác và tinh thần nhưng tâm hồn nàng đau đớn xót xa, thờ ơ hờ hững,
không hoà mình vào cuộc sống trụy lạc nơi lầu xanh nên Kim Trọng, Từ Hải trân
trọng Kiều, Nguyễn Du và cả người đọc hôm nay cũng trân trọng nàng.
Hai câu “Vui là vui gượng kẻo là /Ai tri âm đó mặn mà với ai?”gợi suy nghĩ gì ?
Nỗi xót xa vì thiếu kẻ tri âm, thiếu người đồng cảm. Không ai cả, không có gì
"mặn mà", tất cả đều hờ hững. Lời thơ như tiếng nấc nghẹn khiến người đọc ngàn
năm thấu hiểu sự cô đơn, cô độc của Kiều và có cái nhìn thấu hiểu đồng cảm với
những người bất hạnh. Ta khâm phục Kiều dẫu phải sống trong bi kịch vẫn thơm
ngát như hoa sen, vẫn gắng sống vẫn khát khao có người đồng cảm, có người tri âm.
Đó là tinh thần lạc quan mạnh mẽ bất diệt của nhân vật khiến cho những người hay
đầu hàng với khó khăn, chán nản trước hoàn cảnh phải nhìn lại mình, và đổi thay.
III. Tổng kết
- Nỗi thương mình thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc tiến bộ của đại thi hào dân
tộc Nguyễn Du, là bài học về giá trị nhân cách phẩm chất con người .
- Sö dông c¸c thµnh ng÷ vµ t¸ch thµnh ng÷. Sö dông bót ph¸p íc lÖ
10A3 ( Dạy học theo những phương pháp đã đề xuất ở trên ) kết quả như sau :
Lớp SS
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
Kém
S.L % S.L %
S.L %
S.L %
S.L
10A2 41
2
7
27
5
10A3 43
9
19
15
1
(Các bài kiểm tra của HS đạt điểm cao xin được trình bày cụ thể ở phần phụ lục ).
Nhìn vào kết quả thể nghiệm tôi nhận thấy giờ dạy thể nghiệm - dạy theo hướng
đã đề xuất trong phần hai của sáng kiến kinh nghiệm điểm khá giỏi cao hơn, điểm
trung bình và yếu giảm hơn. Các em đã thích khám phá những giá trị to lớn, tươi mới
của văn học nhất là văn học trung đại. Điều đó cũng là một tín hiệu đáng mừng, bởi
đã phần nào giảm tình trạng học sinh quay lưng với môn văn trong nhà trường phổ
thông hiện nay.
Từ nghiên cứu lý thuyết của các nhà nghiên cứu, từ kết quả khảo sát, từ quá trình
dạy thể nghiệm đã giúp chúng tôi có những định hướng và những biện pháp để dạy
học các đoạn trích Truyện Kiều trong chương trình ngữ văn 10 đáp ứng nhiệm vụ đổi
những suy nghĩ lệch lạc và trân trọng phát huy những tư tưởng quan điểm tích cực,
hợp đạo lý mang tính giáo dục, thẩm mĩ to lớn của tác phẩm, dù mục tiêu bài học đặt
ra cụ thể hay không cụ thể bởi đó là chức năng quan trọng của văn học là tải đạo.
3.3. Sau mỗi bài dạy có thể đặt câu hỏi cho học sinh thảo luận và rút ra bài học
cụ thể cho bản thân về cách ứng xử, bài học làm người trong cuộc sống .Chú ý đến
tâm sinh lý con người và thời đại để có cách hướng dẫn giáo dục phù hợp giúp người
học có sự hứng thú tin yêu những điều nhà văn mong muốn và phản ánh. Bởi tâm
sinh lý con người và hoàn cảnh sống cũng tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận,
đánh giá giá trị tác phẩm của bạn đọc .
3.4.Trong kiểm tra đánh giá: kiểm tra miệng, 15phút, hoặc 45 phút..., cần có câu
hỏi đánh giá về giá trị giáo dục của tác phẩm văn học với tâm hồn, nhân cách,quan
điểm sống, lí tưởng sống của HS.Chú ý phát hiện và trân trọng khuyết khích, đánh
giá sự sáng tạo, những rung cảm chân thành, đúng mức,của HS khi tiếp nhận chức
năng giáo dục của văn bản văn học đến thế giới tâm hồn con người
Kiến nghị: Thơ hay là giếng không đáy, kiệt tác Truyện Kiều nói mãi không cùng,
thế giới nghệ thuật ngôn ngữ thơ mở ra nhiều con đường để người đọc khám phá,
cần biết tìm ra và kết hợp nhiều cách tiếp nhận tác phẩm phù hợp với trình độ nhu
cầu và tâm lý HS, để hướng các em tìm ra những bài học về đạo làm người ẩn dưới
các lớp nghĩa ngôn từ nghệ thuật. Tiếp nhận văn học tâm hồn con người không chỉ
lớn lên về nhận thức, hiểu biết về cuộc sống mà qua đó thế giới tâm hồn con người
trong sáng hơn, biết nhìn nhận ứng xử đúng đắn, có tư tưởng sống tốt đẹp hướng
đến cái chân, thiện, mĩ, xây dựng cuộc sống văn minh tươi đẹp. Điều quan trọng là
các em sẽ hứng thú học văn hơn . Dạy các đoạn trích Truyện Kiều tôi thấy cần chú ý
19
các bài học kinh nghiệm đã nêu ở mục kết luận. Tôi xin kiến nghị một số vấn đề
sau góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục con người toàn diện qua dạy- học văn nói
chung và các đoạn trích truyện Kiều.
1. Đọc hiểu các đoạn trích truyện Kiều phải đặt trên nền văn hóa thời đại nó ra đời
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Hậu Lộc,ngày 25 tháng 5 năm
2017
Tôi xin cam đoan nội dung trong SKKN là
của bản thân tôi không sao chép của ai.
Tác giả
20
Bùi Thị Thu Hương
Mục lục.
1. Mở -đầu
Trang 1
1.1.Lí do chọn đề tài
Trang 1
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trang 2
1.3 .Đối tượng nghiên cứu
Trang 2
1.4.Phương pháp nghiên cứu
- Kiến nghị
Trang 19
Trang 20
Tài liệu tham khảo
Phụ lục.
Kết quả SKKN đã đạt .
21
Tài liệu tham khảo:
1- Nguyễn Thị Quế Anh – Nguyễn Du và Truyện Kiều – ĐHVH Hà Nội
2 - Bộ giáo dục - SGV Ngữ văn 10 tập 2 –NXBGD 2006
3 - Trần Đình Sử - Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại - NXBGD 1997
4- Trần Đình Sử- Thi pháp Truyện Kiều - NXBGD 2002
5- Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều NXBTN 2001
6- Nguyễn Quang Tuân – Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều
NXBKHXH trung tâm nghiên cứu Quốc học- 2000
7- Nguyễn Kim Phong – Kỹ năng đọc hiểu văn bản ngữ văn 10 - NXBGD 2006
8- Phương Lựu – Trần Đình Sử -Nguyễn Xuân Nam – Lê Ngọc Trà – La Khắc Hòa –
Thành Thế Thái Bính - Lý luận văn học – NXBGD 2002
22
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
Một cách tiếp cận dấu câu
trong các bài thơ mới
Giáo dưỡng học sinh qua giờ
đọc văn
Giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh qua dạy truyện ngắn
Chí Phèo
SỞ GD&ĐT
THANH HÓA
SỞ GD&ĐT
THANH HÓA
SỞ GD&ĐT
THANH HÓA
SỞ GD&ĐT
THANH HÓA
B
B
2004-2005
C
2005-2006
2008-2009
C
2013-2014
Khi thực sự yêu nhau, con người có thể vượt qua những vật cản những khó khăn thử
thách để đến với tình yêu. Nhưng dẫu say đắm ngất ngây vẫn luôn tôn trọng và có
trách nhiệm với nhau, cùng nhau xây đắp cho lời thề vững bền.
Đêm thề nguyền thần tiên và thiêng liêng, Kiều khắc ghi suốt đời nên khi phải phụ
bạc, phải lìa xa mối tình này dù bất cứ lí do nào Kiều đều cảm thấy đau khổ day dứt.
Với Kiều TY là thủy chung son sắc mãnh liệt và duy nhất. Đây là mối tình mà Kiều
tự nguyện gắn bó và đắm say đã thề nguyền hẹn ước thủy chung có sự chứng dám
của đất trời của vầng trăng. Văn hóa lối sống của thời phong kiến khác với ngày
nay, nhưng trách nhiệm với tình yêu thì muôn đời vẫn thế. Căn cốt của tình yêu và
hạnh phúc con người vẫn là lòng thủy chung sắc son tình yêu gắn liền chữ “tình” và
“nghĩa” . Đó là bằng chứng, là sức mạnh của của một tình yêu đẹp chân chính đích
thực.
VD3: Bài kiểm tra 15 phút :
Em tâm đắc nhất điều gì sau khi học đọan trích Trao duyên Truyện KiềuNguyễn Du?
Nhiều bài viết đã tiếp nhận được thông điệp của tác giả về cách sống:từ vẻ đẹp
tâm hồn Kiều các em bết sống hiếu nghĩa, thủy chung trọn tình vẹn nghĩa, biết hy
sinh vì người khác dẫu mình chịu bao đau khổ ... Có bài viết xuất sắc cảm xúc chân
thực như em Oanh 10 A3 :
*... Đoạn trích là những dòng thơ lâm li, đau đớn bậc nhất trong truyện Kiều biểu
hiện bi kịch tình yêu tan vỡ mà thực chất là bi kịch của một số phận bất hạnh, sự hy
sinh của Kiều khiến nàng trở nên cao thượng. Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm
chính là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức thời phong kiến với tâm hồn con
người. Song thời nào chẳng có những cảnh eo le những tâm trạng như Kiều. Lí trí
và tình cảm, nhân cách và thân phận hoà quyện. Nàng ứng xử như văn hoá thời
trung đại đòi hỏi song không thôi đau khổ.Thuý Kiều sống chân thật với tình cảm
24
của mình. Với Thúy Kiều, cả lí trí và tình cảm đều sâu nặng, tạo nên nhân cách đáng
học gì cho bản thân trong cuộc sống?
... Ngẫm lời Từ Hải: xưa nay trượng phu chí lớn thường đi cùng mỹ nhân nhưng
không phải ai cũng vì mỹ nhân mà hi sinh sự nghiệp, lí tưởng, khát vọng của mình.
Mỹ nhân như Kiều:vừa tài, vừa sắc,vừa hiếu nghĩa đủ đường vừa đoan trang, trọn
tình vẫn không giữ được bước chân kẻ trượng phu. Lời trách khéo Kiều của Từ,
khiến cho những ai luôn gói mình trong hạnh phúc gia đình hãy biết hy sinh, động
viên khích lệ và tin tưởng phu quân mình thực hiện lý tưởng khát vọng của đấng
trượng phu thực hiện trách nhiệm“chí làm trai” với gia đình với quê hương đất
25