Tiếp cận tác phẩm thơ chữ hán trong chương trình ngữ văn 10 THPT theo hướng đổi mới - Pdf 57

MỤC LỤC
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3

MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Công việc chuẩn bị cho tiết đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Hán:
Hướng dẫn hs đọc – hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững những kiến thức
Đọc – hiểu bài thơ chữ Hán phải đối chiếu phần phiên âm với bản

Trang
2
2
2

2.3.9
Tổ chức thảo luận – lĩnh hội tác phẩm thơ chữ Hán
17
2.3.10 Sơ đồ hóa, củng cố kiến thức, luyện tập
18
2.4
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
19
3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
19
3.1
Kết luận
19
3.2
Kiến nghị
20
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được hội đồng đánh giá xếp loại cấp sở
GD&ĐT từ loại C trở lên

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm thường xuyên và rất
cần thiết đối với mỗi người giáo viên, nó không chỉ có ý nghĩa thiết thực trong
việc nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh trong mỗi giờ lên lớp mà còn
tạo thói quen say mê nghiên cứu khoa học cho mỗi thầy cô nhằm đáp ứng được
yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới.

1

Tổ chức giờ học tiếp cận tác phẩm thơ chữ Hán theo hướng đổi mới sẽ
bảo đảm không khí dân chủ cởi mở trong môi trường sư phạm, tạo không khí
2


văn chương, có ý nghĩa tích cực tạo hiệu quả cao cho giờ dạy. Song không nhìn
nhận kiểu giờ học này biệt lập với các giờ học khác. Vấn đề đặt ra là phải biết
phối hợp đồng bộ giữa sáng tạo năng động của chủ thể học sinh với yêu cầu định
hướng sư phạm của giáo viên.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu và xây dựng phương pháp tìm hiểu, tiếp cận các tác phẩm thơ
chữ Hán trong chủ đề Tiếp cận tác phẩm thơ chữ Hán trong chương trình
Ngữ văn 10 Trung học phổ thông theo hướng đổi mới.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Vận dụng kiến thức tiếp thu từ các chuyên đề do Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT
triển khai để xây dựng phương pháp dạy học tích cực.
- Kết hợp nghiên cứu hệ thống câu hỏi trong môn Ngữ văn qua Sách tham khảo.
- Từ đó xây dựng phương pháp nghiên cứu trong chủ đề Tiếp cận tác phẩm thơ
chữ Hán trong chương trình Ngữ văn 10 Trung học phổ thông theo hướng
đổi mới theo một số bước sau:
Bước 1: Xác định nội dung chủ đề.
- Xác định những nội dung quan trọng trong chủ đề.
- Đối chiếu mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình và nội
dung SGK môn Ngữ văn THPT với mục tiêu và nội dung dạy học và kiểm tra,
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh .
Bước 2: Xác định mục tiêu và hình thức của đề kiểm tra.
- Mục tiêu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là theo định hướng đánh giá
năng lực học sinh.
- Với điều kiện thực hiện ở trường phổ thông hiện nay thì phương pháp
kiểm tra, đánh giá chủ yếu là kiểm tra viết và hình thức kiểm tra, đánh giá kết

ta thấy học sinh chưa thực sự hứng thú học các giờ Ngữ văn, đôi khi giáo viên
còn thấy lúng túng khi dạy một tác phẩm có sức lôi cuốn. Điều đó đòi hỏi chúng
ta phải đổi mới phương pháp dạy các tác phẩm văn chương.
Thực tế nữa cho thấy, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được Bộ GD
& ĐT triển khai nhiều năm nay cùng với việc thay sách giáo khoa để tiện cho
việc tích hợp kiến thức của giáo viên và học sinh. Nhưng là một giáo viên dạy
nhiều năm, chúng tôi thấy rất rõ kết quả của việc áp dụng phương pháp mới vào
dạy học chưa thực sự có kết quả.
4


Xuất phát từ những yêu cầu của quan điểm dạy học văn hiện đại trên,
cũng như những đặc trưng của bộ môn, tôi cho rằng muốn nâng cao chất lượng
giờ dạy học tác phẩm văn học thì cần phải tổ chức được những giờ dạy tác phẩm
theo tinh thần đổi mới, chỉ có như vậy mới có thể giải quyết được những giờ dạy
học văn nhàm chán đã nêu, kích thích óc sáng tạo của học sinh để học sinh thực
sự đóng vai trò trung tâm trong giờ học tác phẩm văn chương.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN
Qua thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông, một vấn đề đặt ra đối với
cả thầy và trò là việc tiếp cận, tìm hiểu các tác phẩm thơ chữ Hán còn gặp phải
nhiều khó khăn.
- Về phía thầy:
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học văn không ngừng
được cải tiến, tuy nhiên vẫn còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy truyền
thống mang tính chất thuyết giảng. Các tác phẩm thơ chữ Hán trong chương
trình Ngữ văn 10 khá đa dạng, giáo viên còn gặp khó khăn về tư liệu, vốn hiểu
biết sâu rộng về thơ văn chữ Hán.
- Về phía học sinh:
Nhìn một cách khách quan, hiện nay học sinh có tâm lí chung là ngại học bộ
môn Văn. Tâm lí thụ động, trông chờ vào sự truyền thụ kiến thức của thầy vẫn

- Thiết kế bài học một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn giảng dạy trong nhà
trường, phù hợp với đối tượng học sinh. Chuẩn bị hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài,
câu hỏi rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản chữ Hán, câu hỏi và bài tập hướng
dẫn học sinh tự học ở nhà. Phát hiện, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, phát huy
năng lực đọc – hiểu văn bản thơ chữ Hán. Chuẩn bị hoạt động thảo luận theo tổ
nhóm của học sinh. Hệ thống câu hỏi đặt ra để học sinh thảo luận phải hướng
vào trọng tâm bài học, vào mục tiêu bài học đặt ra. Bài học phải đảm bảo chuẩn
kiến thức, kỹ năng, không lan man, dàn trải.
- Người giáo viên nắm vững trọng tâm kiến thức, kỹ năng của bài học, chuẩn bị
nhuần nhuyễn các khâu lên lớp, sẽ làm chủ được kiến thức, chủ động về thời
gian, không lúng túng khi gặp tình huống học sinh đặt ra câu hỏi đề nghị giáo
viên lý giải hoặc nâng cao vấn đề.
- Người giáo viên có thể tự làm đồ dùng dạy học, tìm thêm tư liệu nhằm nâng
cao hiệu quả giờ dạy, hoặc phân công học sinh chuẩn bị sơ đồ, mô hình, dụng cụ
6


học tập. Chẳng hạn : bức tranh đồng quê Việt Nam, bức tranh chiến đấu chống
quân Nguyên – Mông, truyện về nàng Tiểu Thanh …
- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, soạn bài mới, hướng dẫn học sinh
đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Hán ở nhà.
Công việc của học sinh:
- Học sinh phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, không lơ là,
thụ động. Học sinh phải soạn bài ở nhà, đọc kỹ văn bản, nắm được những nét
chính về cuộc đời, sự nghiệp văn học, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm …
- Học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập theo hướng dẫn của giáo viên: bảng phụ,
tranh ảnh, hình vẽ … Chuẩn bị việc thảo luận theo tổ nhóm, tranh luận …theo
yêu cầu của từng bài học và định hướng của người thầy.
- Học sinh chuẩn bị bài học bám sát sách giáo khoa, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ
năng qua câu hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài của giáo viên.

đấy”. Về hoàn cảnh ra đời của bài thơ Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị
chúng) của thiền sư Mãn Giác, sách Thiền uyển tập anh chép : “Ngày 30 tháng
11, thiền sư Mãn Giác cáo bệnh, có kệ dạy rằng : Xuân qua, trăm hoa rụng …
Từ đó sư ngồi kiết già mà mất, thọ bốn mươi lăm tuổi”. Nắm vững những tri
thức trong phần Tiểu dẫn giúp cho học sinh có cơ sở hiểu sâu sắc hơn nội dung
bài thơ chữ Hán.
2.3.3. Đọc - hiểu bài thơ chữ Hán, đối chiếu phần phiên âm với bản dịch
nghĩa và bản dịch thơ
Nắm vững phần chú thích, hiểu được nghĩa của từ, điển cố, điển tích. Các bài
thơ chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam được dạy và học trong trường phổ
thông đều được phiên âm theo cách đọc Hán Việt, tiếp theo là bản dịch nghĩa và
bản dịch thơ. Trong quá trình đọc – hiểu bài thơ, phải bám sát bản phiên âm và
bản dịch nghĩa, bản dịch thơ, phát hiện những chỗ bản dịch thơ chưa sát với nội
dung trong phần phiên âm hoặc bỏ sót từ trong phần phiên âm. Phải bám sát kết
cấu và cảm xúc chủ đạo của bài thơ để có cách đọc cho phù hợp, đạt hiệu quả.
Ví dụ : bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, câu thơ thứ nhất trong nguyên tác
“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu” (Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã
mấy thu), bản dịch thơ của Bùi Văn Nguyên là “Múa giáo non sông trải mấy
thu” làm mất đi vẻ đẹp hiên ngang, vững chãi, lẫm liệt của con người mang hào
khí Đông A. Trong câu thơ thứ hai “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (Ba quân
8


như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu), bản dịch thơ là “Ba quân khí
mạnh nuốt trôi trâu”, bản dịch thơ đã bỏ mất từ tì hổ (hổ báo). Nhiều học sinh
có ý thức học tập tốt, tham khảo thêm nhiều tư liệu, đã đặt câu hỏi cho giáo
viên : Tại sao khí thôn ngưu bản dịch trong sách giáo khoa là “khí mạnh nuốt
trôi trâu” mà không phải là “khí thế át sao Ngưu”? Chúng ta cần phải giải thích
cho học sinh “khí thôn ngưu” có hai cách dịch : khí thế nuốt trâu và khí thế át
sao Ngưu. Theo các nhà nghiên cứu, ở đây nên hiểu khí thôn ngưu là khí thế

địa điểm. Từ tẫn nghĩa là hết, triệt để, dịch là hóa sẽ không hay bằng nguyên tác.
Hình tượng thơ đặt trong sự đối lập vườn hoa – gò hoang gợi nghịch cảnh éo le.
Từ tẫn trong “hoa uyển tẫn thành khư” gợi sự đổi thay khốc liệt: Vườn hoa Tây
Hồ đẹp là thế mà nay đã thành gò hoang, không lưu lại dấu vết nào. Câu thơ
trong nguyên tác là nỗi niềm xót thương, day dứt của tác giả. Từ độc trong câu
thơ thứ hai có nghĩa là “một mình” khác với chữ độc trong nhan đề bài thơ,
nghĩa là “đọc”, điếu nghĩa là viếng , chữ độc và chữ nhất (một) trong câu thơ
chữ Hán là để nói một lòng đau tìm gặp một hồn đau. Một mình nhà thơ viếng
người đã khuất qua một tập sách mỏng đọc trước song cửa. Nhất chỉ thư (một
tập sách) dịch thành mảnh giấy tàn thì tình cảm quá lộ, mất đi vẻ kín đáo, thâm
trầm. Câu thơ trong nguyên tác gợi lên ý nghĩa: người chết cô đơn mà người
viếng cũng cô đơn. Câu thơ là cách Nguyễn Du vượt thời gian và sinh tử để tri
âm với Tiểu Thanh. Khi dạy hai câu thơ này, giáo viên lưu ý học sinh đối chiếu
bản dịch nghĩa, dịch thơ với nguyên tác. Giáo viên yêu cầu học sinh nêu nội
dung của hai câu thơ đầu, giải thích và phân tích ý nghĩa của các từ hoa uyển,
tẫn, độc, điếu, nhất chỉ thư … Học sinh suy nghĩ, phát biểu cách hiểu, cách cảm
nhận của bản thân. Dịch một bài thơ chữ Hán sang tiếng Việt vừa đảm bảo ý
nghĩa, vừa hay là một việc rất khó khăn. Vì người dịch phải có vốn từ ngữ
phong phú, giỏi chữ Hán, có khả năng cảm thụ tác phẩm, phát hiện ra cái hay,
cái đẹp của bài thơ … Trong quá trình dạy và học thơ chữ Hán, giáo viên phải
thường xuyên đối chiếu nguyên tác và bản dịch thơ để lý giải sâu sắc, thuyết
phục hơn giá trị của tác phẩm. Đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Hán cần bám sát kết
cấu và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Chẳng hạn bài Vận nước của Pháp Thuận
cần đọc chậm, rõ, thể hiện tính chất chính luận của bài thơ. Bài Cáo bệnh, bảo
mọi người của thiền sư Mãn Giác, bốn câu đầu thể hiện quy luật sinh tử của tự
nhiên, cần đọc chậm, giọng trầm thể hiện tính chất triết lý. Hai câu cuối thể hiện
10


niềm lạc quan của tác giả, cần đọc sôi nổi, hứng khởi hơn. Đọc đúng, đọc diễn


Đường luật, nên cũng được tổ chức theo công thức chung là cảnh và sự gợi lên
nên tình. Hai câu thơ đầu tả cảnh và kể sự, sáu câu sau dành cho suy tư, cảm
xúc. Phần tri thức về văn hóa và tri thức về thể loại cần được vận dụng linh hoạt,
tùy theo nội dung bài học, thời gian được phân phối và đối tượng học sinh mà
cung cấp kiến thức cần thiết. Ví dụ ở các bài đọc thêm: bài Vận nước của Pháp
Thuận, thuộc thể thơ ngữ ngôn tuyệt cú Đường luật, bài Cáo bệnh, bảo mọi
người của thiền sư Mãn Giác thuộc thể kệ, một thể văn Phật giáo, được viết
bằng văn vần, có giá trị văn chương như một bài thơ. Bài Hứng trở về của
Nguyễn Trung Ngạn là bài thơ thất ngôn tuyệt cú Đường luật. Cả ba bài thơ này
được dạy trong 1 tiết, giáo viên chỉ cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể
loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh sa đà, lan man.
2.3.5. Đọc - hiểu ý nghĩa của ngôn từ, của hình tượng trong bài thơ
Khi đọc - hiểu một tác phẩm thơ chữ Hán, phải đọc - hiểu ý nghĩa của ngôn từ vì
yếu tố đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc với bài thơ là ngôn từ. Cần tạo ấn tượng
toàn vẹn về văn bản bằng cách đọc văn bản từ đầu đến cuối, hiểu được từ khó,
từ lạ, ý nghĩa của các hình tượng. Ví dụ: trong bài thơ Vận nước, Pháp Thuận
mượn hình tượng thiên nhiên để nói về vận nước. Nghệ thuật so sánh “Vận nước
như dây mây leo quấn quýt”, vừa nói lên sự bền chặt, vừa nói lên sự lâu dài, sự
phát triển thịnh vượng. Để khám phá được ý này, giáo viên cần đặt câu hỏi: “Tác
giả dùng hình ảnh so sánh “Vận nước như dây mây leo quấn quýt” nhằm diễn tả
điều gì?” Giáo viên cần giải thích cho học sinh hiểu được khái niệm vô vi. Nghĩa
đen của từ này là “không làm gì”. Khái niệm vô vi được nhiều trường phái triết
học, tôn giáo sử dụng. Trong Đạo đức kinh của Lão Tử, vô vi là một thuật ngữ
chỉ một thái độ sống thuận theo tự nhiên, không làm điều trái tự nhiên. Trong bài
thơ Vận nước, từ này còn được hiểu theo nghĩa của Nho giáo. Một đường lối
chính trị cho đấng quân vương: để xây dựng được nền hòa bình vững chắc, cần
“vô vi”, không làm gì trái với tự nhiên, dùng phương sách “đức trị”, lấy đức mà
giáo hóa dân. Được như vậy thì đất nước thái bình, thịnh trị, nhân dân ấm no,
hạnh phúc, không còn nạn đao binh. Đây cũng là một truyền thống dân tộc. Để

Cáo bệnh, bảo mọi người của thiền sư Mãn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân qua, trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa nở)
Về nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi từ ngữ đều chứa đựng khả năng
biểu hiệu ý tứ sâu sắc. Bách hoa lạc (trăm hoa rụng), bách hoa khai (trăm hoa
nở), chỉ một từ hoa nhưng là biểu trưng cho vạn vật, biểu trưng cho mùa xuân
đến, mùa xuân đi. Nghệ thuật điệp, đối được phát huy cao độ để tạo nên tính
hàm súc cho hai câu thơ. Cách sắp xếp các hình ảnh đối nhau càng làm tăng sự
đối lập giữa sự mất đi và sinh ra của vạn vật, diễn tả quy luật tuần hoàn của tự
nhiên.
2.3.6. Đọc - hiểu để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, tư tưởng,
tình cảm của tác giả

13


Nhiệm vụ then chốt trước hết của giáo viên văn học đối với học sinh là
giúp các em “biết đọc” tác phẩm, biết tái hiện hình tượng, nội dung chứa đựng
trong tác phẩm, để trên cơ sở đó giúp các em biết phân tích cái hay, cái đẹp của
nó. Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng trong việc giảng dạy thơ chữ
Hán. Hoạt động này giúp học sinh qua việc tự mình tiếp xúc với thế giới sáng
tạo của tác phẩm mà tiếp thu những tinh hoa văn học của dân tộc và nhân loại,
tiếp theo những cái hay, cái đẹp của tác phẩm vì nội dung và nghệ thuật. Từ đó,
rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu một bài thơ chữ Hán. Người giáo viên phải đặt câu
hỏi, hướng dẫn học sinh phát hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ chữ Hán. Ví
dụ, sau khi học bài thơ Vận nước của Pháp Thuận, giáo viên đặt câu hỏi : “Hãy
đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của bài thơ?”. Giáo viên định hướng,
gợi ý học sinh trả lời: Bài thơ biểu hiện lòng yêu nước, khát vọng sống hòa bình

với Đạm Tiên. Nấm mồ Đạm Tiên “Sè sè nấm đất bên đường” gợi lên ở Thúy
Kiều bao mối thương tâm. Cái gò hoang nơi chôn Tiểu Thanh gợi lên ở Nguyễn
Du bao điều thổn thức “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang”. Khi tìm hiểu ý nghĩa
nỗi “thẹn” trong bài thơ Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão), giáo viên so sánh, liên hệ với
nỗi thẹn của Nguyễn Khuyến trong bài thơ Vịnh mùa thu “Nghĩ ra lại thẹn với
ông Đào”. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi
thẹn. Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược như Gia Cát Lượng thời Hán
để trừ giặc, cứu nước. Nguyễn Khuyến bày tỏ nỗ thẹn khi nghĩ tới Đào Tiềm,
một danh sĩ cao khiết thời Tấn (Trung Quốc). Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân
cách, khơi gợi, giáo dục cho học sinh những bài học sâu sắc về đạo đức, lí tưởng
sống.
2.3.8. Đọc sáng tạo tác phẩm thơ chữ Hán
Đọc - hiểu văn bản văn học nói chung và đọc - hiểu tác phẩm thơ chữ Hán nói
riêng là một việc sáng tạo vì ngoài những yếu tố đã có như ngôn từ, hình tượng
nghệ thuật, người đọc suy nghĩ, liên tưởng để khái quát thành những điều cao
hơn, sâu sắc hơn. Người đọc hiểu được lớp nghĩa tinh tế là tài năng và phong
cách nhà văn, những nét đẹp tiềm ẩn trong văn bản. Đọc sáng tạo là liên hệ
những gì đang đọc với những gì đã đọc, liên hệ mở rộng tầm hiểu biết của bản
thân. Macxim Gorki đã nói đến việc làm cho người đọc “có khả năng xây dựng
hình tượng”, “có khả năng tưởng tượng bổ sung vào bức tranh, những hình
tượng, những bóng dáng, những tích cực mà nhà văn đưa ra, bằng cách rút từ cái
15


vốn kinh nghiệm của bản thân, từ cái kho dự trữ ấn tượng và kiến thức của
người đọc”. Nguyễn Duy Bình bổ sung thêm : “Tài năng sáng tạo của tác giả và
tính năng đọc “cùng sáng tạo” của người học đã biến tác phẩm văn học thành
một sinh mệnh đặc biệt, có sức sống bền vững, với một nội dung phong phú,
phát triển vô hạn, vô cùng, trong một vẻ đẹp luôn luôn tươi mới”. Từ chỗ cảm
nhận được văn bản, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên hệ mở rộng để phát

và có thể hiểu thêm một số bài thơ chữ Hán không được giới thiệu trong chương
trình THPT. Chính vì thế, học sinh càng có hứng thú hơn khi học thơ chữ Hán
của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại. Trong quá trình tổ chức dạy và thảo
luận, tôi có một số ghi nhận sau :
- Không phải tiết học nào cũng tiến hành thảo luận. Trong một tiết học không
nên tổ chức thảo luận nhiều lần.
- Không đưa ra những vấn đề quá dễ, quá đơn giản để thảo luận. Vấn đề thảo
luận phải bám sát văn bản thơ chữ Hán.
- Trong khi thảo luận, giáo viên phải theo dõi để hỗ trợ học sinh kịp thời cũng
như nhắc nhở các em lơ là, thúc đẩy sự hứng thú học thơ chữ Hán của họcsinh.
- Thảo luận để cảm nhận được cái hay, cái đẹp về nội dung, nghệ thuật của bài
thơ chữ Hán, tư tưởng, tình cảm của tác giả ẩn chứa sau những từ ngữ, hình ảnh
thơ. Có những vấn đề thảo luận tại lớp, cũng có vấn đề giao cho các nhóm chuẩn
bị ở nhà, lên lớp trình bày kết quả. Có rất nhiều hình thức nêu câu hỏi thảo luận
theo tổ nhóm có thể thảo luận về cuộc đời nhà thơ, về vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ.
Câu hỏi thảo luận phải hướng vào trọng tâm của bài học, phát huy được khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, phải hướng đến làm sáng tỏ cái
“thần” của câu chữ, của hình ảnh, cảm nhận được chiều sâu tâm hồn, tư tưởng
của nhà thơ. Ví dụ, khi đọc - hiểu hai câu thơ cuối của bài thơ Tỏ lòng (Phạm
Ngũ Lão), giáo viên nêu câu hỏi thảo luận “Nội dung của hai câu thơ sau nói lên
tâm sự gì? Vì sao tác giả lại nói đến “nợ công danh” và “Vũ hầu”? Có ý kiến
cho rằng, Phạm Ngũ Lão không nên tự thẹn khi so mình với Gia Cát Lượng. Ý
kiến anh (chị) như thế nào?” Khi học bài Đọc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du,
giáo viên đặt câu hỏi, hướng dẫn học sinh thảo luận: “Đặt trong thi pháp văn học
trung đại, việc Nguyễn Du hai lần tự xưng “ngã” (tôi) và “Tố Như” (tên chữ) đã
hé mở điều gì?
17


2.3.10. Sơ đồ hóa, củng cố kiến thức, luyện tập

học tập, hiểu sâu sắc tác phẩm)

10A5

10A6

33/41

30/40
18


Sau khi áp dụng (HS hứng thú

31/36
33/41
35/40
học tập, hiểu sâu sắc tác phẩm)
Như vậy, việc tổ chức giờ học tác phẩm thơ chữ Hán ở lớp 10 theo hướng
đổi mới là một kiểu dạy học phù hợp tư duy của lớp trẻ hiện nay, phù hợp với xu
thế chung của thời đại.
Mặc dù đối tượng học sinh còn non kém về mặt nhận thức nhưng khi áp
dụng phương pháp này vào dạy văn chúng tôi cũng đã thu nhận được những kết
quả cụ thể qua các tiết dạy thực nghiệm rất đáng phấn khởi và khả quan.
Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là những ứng dụng ban đầu. Bởi vậy, tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của các thầy, cô giáo và các
bạn đồng nghiệp để từ đó góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn
trong nhà trường hiện nay.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

Thanh Hoá, ngày 20 tháng 05 năm 2019

ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

PHẠM THANH SƠN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - tập I - Nhà xuất bản Giáo dục - năm
2006.
[2] Sách giáo viên Ngữ văn 10 - tập I - Nhà xuất bản Giáo dục - năm
2006.
[3] Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn Nhà xuất bản Giáo dục - năm 2010.

20


[4] Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông - Đặng Đức Siêu - Nhà
xuất bản Giáo dục - năm 2002.
[5] Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 - Nguyễn Văn Đường - Nhà xuất bản
Giáo dục - năm 2006.

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ
ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNG GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD & ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

vawnqua đoạn trích: “Vĩnh
biệt Cửu trùng đài”- Nguyễn
2

Huy Tưởng.
Phát huy năng lực của học Sở GD & ĐT
sinh trong giờ học ngữ văn
theo hướng gợi mở-đối thoại

22


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status