1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ MINH THÚY
DẠY HỌC CÁC TRÍCH ĐOẠN TRUYỆN KIỀU
THEO ĐẶC TRƢNG THI PHÁP THỂ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 601410
HÀ NỘI- 2013
HÀ NỘI- 2013
3
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt
Viết đầy đủ
CT
Chương trình
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
SGV
Sách giáo viên
SGK
Sách giáo khoa
TN
Thực nghiệm
chương trình Ngữ văn 10
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng…………… 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đổ 1.1. Biểu đồ thể hiện thực trạng tiếp nhận các đoạn trích Truyện Kiều theo đặc
trưng thi pháp thể loại của HS lớp 10……………………………………………(TRANG)
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 15 phút……………………………
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 60 phút…………………………………….
2.1. Những yêu cầu của việc dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi
pháp thể loại
2.1.1. Dạy học văn theo đặc trưng thi pháp thể loại
2.1.2. Những yêu cầu của việc dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi
pháp thể loại
7
2.2. Một số giải pháp dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể
loại
2.2.1. Biện pháp đọc hiểu các đoạn trích Truyện Kiều từ đặc trưng ngôn ngữ thể loại
2.2.2. Biện pháp đọc hiểu các đoạn trích Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp cốt truyện
2.2.3. Biện pháp dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều từ đặc trưng thi pháp nhân vật
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Những vấn đề chung của việc Thực nghiệm dạy học các đoạn trích Truyện Kiều theo
đặc trưng thi pháp thể loại
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
3.1.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
3.1.3. Nội dung thực nghiệm
3.2. Tiến trình và kết quả thực nghiệm
3.2.1. Tiến trình thực nghiệm
3.2.2. Kết quả thực nghiệm
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
cao chất lượng giảng dạy văn học, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ văn học cho HS,
đổi mới PPDH nhằm tạo hiệu quả giảng dạy cao là việc luôn được người làm công tác
9
giảng dạy Ngữ văn quan tâm. Trong nhà trường Việt Nam, việc dạy các tác phẩm văn
chương theo đặc trưng thi pháp thể loại là một vấn đề đã và đang được chú trọng. Nắm
vững thi pháp thể loại, người dạy không chỉ hiểu đúng, hiểu sâu hơn tác phẩm văn học mà
còn có khả năng thiết kế có hiệu quả hệ thống hoạt động, thao tác để hướng dẫn học sinh
cách thứ đọc – hiểu tác phẩm, giúp người học có khả năng giải mã những tác phẩm cùng
thể loại.
1.3. Theo tinh thần trên, chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn đã hướng tới việc thay
đổi PPDH theo đặc trưng thi pháp thể loại. Trong chương trình, SGK cung cấp cho HS
mỗi thể loại một vài tác phẩm thật tiêu biểu cho thể loại đó (tính mẫu). Yêu cầu đặt ra là
dạy một cách kĩ lưỡng để HS một mặt thấy được vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm ấy, mặt khác
giúp HS biết cách đọc, cách phân tích và tiếp nhận một tác phẩm văn học theo thể loại. Từ
đó, các em có thể tự mình đọc, tìm hiểu và khám phá những tác phẩm cùng thể loại. Kết
quả là, HS sẽ không còn lúng túng khi gặp những tác phẩm chưa được học trên lớp, bởi vì
cách tiếp cận những thể loại đó HS đã được học kĩ càng. Chính vì lí do đó mà việc nắm
vững đặc trưng thi pháp thể loại và lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp là yêu
cầu cơ bản đối với người GV dạy văn.
1.4. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, nội dung đã hướng vào dạy học nhiều kiểu tác
phẩm văn học theo các thể loại khác nhau. Riêng phần Văn học trung đại đã cho thấy khá
đầy đủ diện mạo văn học thời kì này. Và lẽ dĩ nhiên, nghiên cứu về văn học giai đoạn này,
không thể không nhắc đến kiệt tác văn học của dân tộc là Truyện Kiều. Tác phẩm này
được đưa vào chương trình không chỉ với tư cách là một vật báu của văn học dân tộc mà
còn giữ vai trò như một ví dụ tiêu biểu nhất về một thể loại văn học nội sinh của dân tộc
là thể loại truyện thơ. Truyện Kiều được trích giảng 4 đoạn trích: Trao duyên, Chí khí anh
hùng (văn bản đọc hiểu chính khóa) và Nỗi thương mình, Thề nguyền (văn bản đọc thêm).
Quan điểm trích giảng các đoạn trích này cũng xuất phát từ quan điểm thi pháp học. Quan
điểm thi pháp học đánh giá tác phẩm dựa trên vấn đề nghệ thuật của đoạn trích ấy. Các
vẫn xem cuốn sách như một cẩm nang khi soạn giảng. Trong đó Trần Thanh Đạm, với bài
viết Truyện và giảng dạy truyện đã xác định: “ Truyện là một khái niệm rộng bao gồm các
thể tài chủ yếu thuộc loại hình tự sự Một tác phẩm tự sự (truyện) tất nhiên cũng giống
như bất kì một tác phẩm nào khác, đòi hỏi phải được phân tích toàn diện, cặn kẽ và đúng
11
hướng. Điều đặc biệt ở tác phẩm truyện là cấu tạo hình tượng tác phẩm dựa vào ba yếu tố:
tình tiết, nhân vật và lời kể. Cho nên khi phân tích cấu tạo hình tượng của truyện, không
thể không lưu tâm đến ba yếu tố đó. Đó cũng là nét phân biệt cấu tạo một tác phẩm truyện
với một bài thơ trữ tình hay một bài văn chính luận” [11, tr39]. Các tác phẩm Phương
pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Phân tích tác phẩm văn học trong nhà
trường của Phan Trọng Luận, Đổi mới phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt ở trường
phổ thông của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn đã cung cấp cho GV những kiến thức
lí luận và phương pháp giảng dạy văn học cơ bản. Với cuốn Những ngả đường vào văn
học, Hoàng Ngọc Hiến đi từ những khái luận đến việc đọc tác phẩm và phân tích tác
phẩm. Trong đó có những bài viết hữu ích cho việc dạy học tác phẩm văn chương theo
loại thể trong nhà trường như: Bàn góp về phương pháp giảng văn, Một ít lí thuyết về trào
phúng, Mấy vấn đề của tiểu thuyết và đặc trưng của thể loại này, Kí và tiểu luận, Đặc
điểm của truyện ngắn hiện đại, Trên cơ sở thi pháp học, tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh
trong cuốn Thi pháp học và vấn đề giảng dạy thi pháp trong nhà trường đã có những
khám phá sâu sắc về việc vận dụng một số thi pháp truyện vào việc giảng dạy truyện.
Trong đó, các bài viết Hai đứa trẻ, Về một hướng tiếp cận tác phẩm Lão Hạc của Nam
Cao có những phát hiện mới mẻ ở bình diện sáng tạo nghệ thuật, có tính chất định hướng
cho việc khai thác vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm truyện được giảng dạy ở trường phổ
thông.
2.2. Về giảng dạy Truyện Kiều, các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trƣng thi pháp
thể loại
Phương pháp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông là một vấn đề
được đề cập đến rất nhiều trong những năm gần đây. Việc giảng dạy tác phẩm văn học
theo thể loại là một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm song có thể nói đối
thi pháp thể loại chỉ là một phương pháp trong nhóm phương pháp tác giả đề ra.
Cùng phương pháp dạy học Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại, luận văn
của chúng tôi sẽ đi từ đặc trưng thi pháp thể loại của tác phẩm để đề ra quy trình dạy đọc
hiểu đồng thời ứng dụng vào giảng dạy trích đoạn trong SGK phổ thông Ngữ văn hiện
hành.
Với phần lịch sử vấn đề trên đây, chúng tôi đã có cái nhìn tổng quát về việc nghiên
cứu và giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng theo đặc trưng thi
pháp thể loại. Những công trình này sẽ là những tư liệu quý cho chúng tôi nghiên cứu đề
13
tài của mình như một đóng góp vào lịch sử nghiên cứu dạy học Truyện Kiều theo đặc
trưng thi pháp thể loại.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là vận dụng lí luận về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm
văn chương, về đặc trưng thi pháp thể loại truyện thơ trung đại, đề xuất các phương pháp,
quy trình cụ thể dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở lớp 10 THPT theo đặc trưng thi
pháp thể loại nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ, góp
phần khẳng định ưu điểm và tính khả thi của một hướng dạy học đổi mới: Dạy học văn
theo đặc trưng thi pháp thể loại.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Việc giảng dạy thể loại truyện thơ thông qua các đoạn trích
Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn 10 trung học phổ thông Ban Cơ bản; Phan
Trọng Luận (Tổng chủ biên), NXB Giáo dục; 2007 theo đặc trưng thi pháp thể loại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 10, GV dạy Ngữ văn lớp 10 (tại một số trường THPT
tác giả công tác và có điều kiện trao đổi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình) như: THPT Gia Viễn
A, Gia Viễn B, Gia Viễn C, Hoa Lư A, Trần Hưng Đạo, Lương Văn Tụy, Đinh Tiên
Hoàng.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Việc hiện thực hóa ý tưởng dạy học thể loại truyện thơ thông qua các đoạn trích
Truyện Kiều trong chương trình Ngữ văn 10 theo đặc trưng thi pháp thể loại bên cạnh
- Thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của một số biện pháp dạy học
các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại.
8. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: Khẳng định hướng đổi mới đúng đắn của phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo đặc trưng thi pháp thể loại. Đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy các
đoạn trích Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho HS lớp 10, THPT.
15
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng dạy học các đoạn trích Truyện Kiều cho HS lớp 10 nhằm tìm hiểu
kết quả hiện thực hóa tinh thần dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể loại
của SGK Ngữ văn 10.
+ Đánh giá tính khả thi của phương pháp, biện pháp dạy học những trích đoạn Truyện
Kiều, góp phần hoàn thiện mô hình giờ dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thi pháp thể
loại, giúp đồng nghiệp có thêm tư liệu tham khảo soạn giảng, góp phẩn nâng cao chất
lượng dạy học Ngữ văn 10.
9. Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Dạy đọc hiểu các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho
học sinh lớp 10 trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
nó bằng phê bình mĩ học xuất phát từ sự phân tích hình thức.
Ở phương Đông, nếu hiểu thi pháp như một nghệ thuật thì Văn tâm điêu long của
Lưu Hiệp là công trình thi pháp học sớm nhất bởi nó dạy cho người ta những tinh túy của
phép làm văn. Sau Lưu Hiệp, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình, nhà lí
17
luận của Trung Hoa cổ, trung đại đã cho ra đời những tác phẩm lí giải sâu sắc về mĩ học,
về nghệ thuật văn chương, tiêu biểu là: Thi phẩm của Chung Vinh (thế kỉ VII), Văn tuyển
của Tiêu Thống (thế kỉ VII), Thư gửi Nguyên Chuẩn của Bạch Cư Dị (722 – 486), Tùy
viên thi thoại của Viên Mai (1716 -1797)…
Đến nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thi pháp học hiện đại chính thức được dấy
lên, hàng loạt các trường phái thi pháp học hiện đại theo sau xuất hiện. Như vậy, có thể
thấy có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về thi pháp học. Có thể định nghĩa một
cách tổng quát như nhà phê bình văn học Nga V.Girmunxki: “Thi pháp học là khoa học
nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là nghệ thuật” [20, tr.15].
Trần Đình Sử cũng đưa ra nhận định: “Thi pháp học là bộ môn khoa học có nhiệm
vụ đặc thù trong lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học. Khi phê bình, phân
tích tác phẩm văn học, nó hướng tới khám phá sự vận động, tiến hóa của các phương
thức, phương tiện và hình thức nghệ thuật. Khi nghiên cứu lí luận văn học, nó tập trung
khám phá các cấu trúc thể hiện bản chất của nghệ thuật văn học” [31, tr.45].
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi
pháp, tức hệ thống các phương thức biểu hiện đời sống bằng nghệ thuật trong sáng tác
văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản
nghệ thuật tham gia và sự tạo thành của thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu
phản ánh của sáng tác nghệ thuật.” [22, tr.1].
GS Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại lại đưa ra quan niệm: “Thi pháp là
phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức thể
hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác
phẩm. Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức yêu cầu tác phẩm như một chỉnh thể,
ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống, để biểu đạt ý
thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Bất kì tác phẩm nào
cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó. Nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch trong đó mỗi loại bao gồm một số
thể.
19
Bất kì tác phẩm nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định. Đó là sự
thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương thức biểu đạt và
hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn. Thể loại văn học chính là sự phân chia loại
hình tác phẩm theo những căn cứ nêu trên. Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một
loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống.
Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệm thể loại văn
học như sau: Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn
bản. Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tái hiện đời sống,
hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng.
Từ cách hiểu trên, có thể chia tác phẩm văn học làm ba loại chính: Tự sự, trữ tình
và kịch. Tác phẩm sự sự là loại tác phẩm dùng lời kể tái hiện lại những việc làm biến cố
nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ra một cách khách quan, qua đó bày tỏ một
cách hiểu và một thái độ nhất định. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có lời kể, lời miêu tả với
một giọng điệu nhất định; có cốt truyện chính là cái biến cố xảy ra liên tiếp, sau cái này
làm nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giải quyết, giải quyết xong
thì truyện kết thúc; có nhân vật và có rất nhiều loại hình thức ngôn ngữ như trần thuật, đối
thoại, độc thoại… Tác phẩm trữ tình là loại tác phẩm qua lời lẽ thể hiện nỗi niềm, tâm
trạng, những ảnh tượng trông thấy mà thể hiện các cảm xúc, tháo độ chủ quan của con
người với thế giới. Tác phẩm kịch là loại tác phẩm qua việc tái hiện những hành động
xung đột kịch để làm tái hiện lên bản chất đời sống và bày tỏ thái độ. Mỗi loại tác phẩm
có một phương thức kết cấu hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư
tưởng của nhà văn.
1.1.1.1.2. Thi pháp Truyện Kiều từ góc nhìn thể loại
Truyện Nôm là thể loại truyện vừa trung đại, có xu hướng tiểu thuyết hóa, đã
đố còn chữ tâm đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cốt truyện, thúc đẩy sự kiện phát
triển. Toàn bộ sáng tạo của Nguyễn Du chủ yếu là làm cho chữ tâm của nhân vật chính
được bộc lộ trọn vẹn và sâu sắc. Bên cạnh đó, chữ thân cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc bộc lộ tư tưởng của tác giả. Nhân vật chính luôn có ý thức về thân, về phần cá
nhân riêng tư nhất, thực tại nhất của con người và tác phẩm được xây dựng sao cho nhân
vật tự cảm thấy được cái thân đau đớn, ê chề, nhục nhã của mình. Chữ thân là tư tưởng
21
phổ quát nhất và nó làm Truyện Kiều tuột khỏi mệnh đề tài mệnh tương đố để chuyển
sang mệnh đề con người nói chung. Tài mệnh tương đố là trường hợp riêng của thân
mệnh mà muốn vượt lên con người chỉ có thể dựa vào chữ tâm. Như vậy, chủ đề cơ bản
của Truyện Kiều là thân mệnh tương đố.
Sáng tạo Truyện Kiều nghĩa là phải nhào nặn lại Kim Vân Kiều truyện để thể hiện
một tư tưởng mới. Để làm điều đó, Nguyễn Du có quan niệm mới về nhân vật và cách kể.
Nhân vật vay mượn có thể được miêu tả theo những trọng tâm, điểm nhấn khác và trở
thành nhân vật khác, cốt truyện được vay mượn nhưng kể theo cách khác cũng tạo thành
truyện khác. Vay mượn hệ thống nhân vật và sự kiện của Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn
Du không tránh khỏi tiếp thu các thi pháp vốn có của văn học Trung Quốc nhưng ông
không chạy theo và phát huy các thi pháp ấy mà sáng tạo lại. Nguyễn Du không đặt trọng
tâm ở việc, ông tước bỏ các chi tiết, biến con người đạo lí thành con người tâm lí dẫn tới
việc ông thay đổi điểm nhìn trần thuật, kể theo cái nhìn và tâm trạng nhân vật. Ông khai
thác cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở phương diện tâm lí, biến nó thành cốt truyện
tâm lí bằng việc đổi mới hình tượng người kể chuyện. Người kể chuyện Truyện Kiều
đồng thời là một nhà thơ trữ tình. Do thay đổi trọng tâm trần thuật sang thế giới tấm lòng
của nhân vật chứ không phải sự kiện bên ngoài nên ông đã huy động tối đa các thủ pháp
trữ tình để miêu tả tình cảm nhân vật; lời trần thuật là lời mang chất thơ hòa vào lời nhân
vật tạo thành lời nửa trực tiếp khiến người đọc thâm nhập vào tâm hồn nhân vật bằng sự
chỉ dẫn của người kể chuyện.
Về hình thức tự sự trong Truyện Kiều, mặc dù sử dụng một cốt truyện nổi tiếng của
Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo một phương pháp tự sự mới chưa
đến hương”.
Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc loại người biết hết và biết trước mọi
chuyện nhưng lại ít khi thông báo những cái biết trước và có sẵn trong ý định của mình.
Mọi vật trong truyện đều hiện ra dần dần qua cảm giác, suy đoán của con người như
những phát hiện lần đầu trong cuộc sống: “Trông chường thấy một văn nhân”; “Bóng
hồng nhác thấy nẻo xa”; “Dưới đào dường có bóng người thướt tha”… Như vậy, nhân vật
23
Truyện Kiều, và qua đó là người trần thuật luôn thấy, cảm, nghĩ một cách hiện thực, luôn
luôn tính tới quy luật phát triển tuần tự của đời sống.
Một phương diện khác rất quan trọng trong thi pháp Truyện Kiều là cái nhìn nghệ
thuật nhiều chiều đối với các hiện tượng đời sống được miêu tả. Tác giả khéo bố trí sao
cho phần lớn các sự kiện trong đời Kiều được nhìn nhận và bình luận từ các góc độ khác
nhau. Trong nhiều trường hợp như việc Kiều bán mình chuộc cha, chuyện nhờ Vân trả
nghĩa, chuyện Kiều đi tu…; các quan điểm chuẩn mực, duy lí đối chiều sóng đôi với quan
điểm cá nhân chẳng những không cho phép lí giải các sự kiện của truyện như một hiện
tượng đơn nghĩa mà còn mở ra một chiều sâu cuộc sống mà phần lớn các truyện Nôm
khác chưa biết đến. Cách cảm nhận chủ quan của nhà thơ là thái độ hàm chứa rất nhiều
bình diện giá trị khác loại của đời sống, thể hiện đặc điểm của nhà văn lớn và luôn nhìn
sự vật trong một phạm vi giá trị rộng lớn, đa dạng và gần gũi với con người, khắc hẳn cái
nhìn hạn hẹp một chiều mang tính chất giáo huấn.
*Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tiểu thuyết lưu lạc nên có sự xuất hiện của
nhiều không gian xa lạ. Sau mỗi biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới
nhiều hiểm họa. Trong mười lăm năm, Kiều lưu lạc qua rất nhiều địa điểm không gian.
Mỗi địa danh tạo nên không gian lưu lạc mênh mông, mịt mù, một không gian Trung
Quốc xa lạ và xa xôi. Đối với con người trung đại, gia đình, nguồn cội, quê hương là
những cái đảm bảo cho sự yên ổn, giá trị mà một khi rời bỏ thì con người trở nên yếu
đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình. Không gian sống của con người chia làm hai nửa:
quê mình và quê người; quê người là không gian xa lạ, đau khổ, bơ vơ cho bất cứ ai. Quê
1.1.1.2.1. Ý nghĩa của thi pháp học đối với việc đổi mới cách tiếp nhận, phân tích văn học
ở Việt Nam
“Thi pháp thể loại là tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật
mà các tác phẩm thuộc cùng một thể loại đều thống nhất sử dụng” [33, Tr4). Theo Đỗ
Bình Trị, những yếu tố này gồm: thể văn, kết cấu, thủ pháp nghệ thuật. Nhà nghiên cứu
người Nga V.Ia.Prop cho rằng: “Chừng nào những đặc trưng của một thể loại chưa được
25
nghiên cứu hoặc chưa được chí ít là mô tả trên những nét đại cương thì không thể tìm
hiểu được những tác phẩm cụ thể thuộc thể loại ấy” [21; Tr54].
Như vậy, muốn tìm hiểu các tác phẩm văn học theo thi pháp thể loại chúng ta phải
xem xét thổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật mà những tác
phẩm cùng thể loại đều thống nhất sử dụng. Còn nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỉ
XX, khi GS Trần Đình Sử chính thức giới thiệu thi pháp học hiện đại vào Việt Nam,
nhiều người còn khá ngỡ ngàng thậm chí hoài nghi. Trần Đình Sử với một loại công trình
nghiên cứu như Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp
Truyện Kiều… đã thực sự đưa thi pháp học vào đời sống phê bình văn học Việt Nam, xua
đi mọi nghi ngờ, thậm chí định kiến của nhiều người trước lí thuyết mới mẻ này.
Sau đó, một loạt các công trình nghiên cứu thi pháp học ra đời của Nguyễn Kim
Đính, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Phan Cảnh… đã thực sự khẳng định vai trò to
lớn của thi pháp học trong việc đổi mới cách tiếp nhận, phê bình văn học ở Việt Nam,
khai thông những bế tắc trong nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam về vấn đề hình
thức. Khi cách phân tích, phê bình chỉ hướng vào nội dung, không chú ý đến hình thức,
tách rời nội dung và hình thức đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế.
Thi pháp học đặt lại vấn đề hình thức, “cái lí” của hình thức, mối quan hệ biện
chứng qua lại giữa nội dung và hình thức. Nhờ có một hệ thống khái niệm đã được hình
thức hóa, một hệ thống lí luận phong phú, toàn diện, thi pháo học đã trả lời được một loạt
những câu hỏi về văn bản, hình thức hóa được những nội dung vốn trừu tượng, khám phá
được những mối quan hệ nội tại trong chiều sâu văn bản. Tiếp cận bằng thi pháp học –
một cách tiếp cận tổng thể, coi tác phẩm như một cấu trúc nghệ thuật, một hệ thống các