1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ MINH HOA
KÝ VŨ BẰNG VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC
(Qua Món ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp
3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết
quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa
học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhưng những nội dung
tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Học viên Nguyễn Thị Minh Hoa
1.2.3. Ẩm thực kết tinh tình yêu về đất nước, con người Việt Nam 32
Chương 2. Văn hóa ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội
và Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng
34
2.1. Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua các món ăn dân dã 34
2.1.1. Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua sự phong phú của các món ăn 35
2.1.2. Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua sự kết hợp hài hòa của chất liệu
và sự chế biến, bày biện khéo léo của những con người bình dị
44
5
2.1.3. Nét đẹp của văn hóa ẩm thực thể hiện qua sự tinh tế trong cách
thưởng thức món ăn
60
2.2. Nét đẹp văn hóa ẩm thực thấp thoáng trong bóng dáng của cố
nhân - người vợ yêu của Vũ Bằng
67
2.2.1. Bóng hình cố nhân - nơi in dấu kỷ niệm ẩm thực của hai vợ chồng 68
2.2.2. Hình bóng cố nhân - người suốt đời chăm lo cho miếng ăn
giấc ngủ của chồng
70
2.2.3. Hình bóng cố nhân - song hành với nỗi nhớ về những tinh
hoa văn hóa ẩm thực
73
Việt Nam hiện đại. Có một thời người ta thường gắn nhân vật Hoàng trong
tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao với Vũ Bằng ngoài đời. Sau đó, tên tuổi của
ông lại được gắn với những lời đồn thổi khuất tất về chính trị. Chỉ cần hai dẫn
chứng đó cũng đủ thấy sự trắc trở, thăng trầm đã bám riết suốt cuộc đời của
một nghệ sĩ tài hoa như Vũ Bằng. Vì thế, như một nhu cầu tự thân - nhu cầu
được giải thoát tâm hồn, cộng với những năng lực sáng tạo vốn có đã thúc đẩy
ông tìm đến và ký thác tất cả nỗi lòng, tâm sự, trăn trở của mình vào việc sáng
tác văn học. Và như một lẽ đương nhiên ông tìm đến với thể loại ký, đặc biệt
là hồi ký - thể loại phù hợp nhất với nhu cầu bộc lộ tinh thần chủ quan và nhu
cầu tự thú của bản thân người viết. Mặt khác, nói như Ilia Êrenbua: “Bất kì
quyển sách nào cũng là lời tự thú, và quyển sách hồi ức thì chính là lời tự thú
mà tác giả không cố ý dấu mình dưới cái bóng của các nhân vật hư cấu”,
trong ký, Vũ Bằng đã không ngần ngại bộc lộ hết cái tôi với bao suy tư, sâu
thẳm, những cảm xúc mãnh liệt và chân thật đến từng tế bào tâm hồn.
1.2. Trong gia tài ký đồ sộ của Vũ Bằng chúng tôi đặc biệt có ấn tượng
sâu sắc với hai tập Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai. Nếu như
Cai và Bốn mươi năm nói láo chính là sự tự “thanh minh” cho “thân phận”,
“danh tiết” và “nghề nghiệp” của mình rằng: “Tôi không bao giờ phản bội Tổ
quốc phản bội nhân dân” thì sau khi Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà
Nội hoàn thành chính là lời xác minh chân xác và xúc động nhất về sự thật
con người, tâm hồn nhạy cảm, tràn đầy tình yêu thương của nhà tình báo này.
Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà Nội là tâm sự, là nỗi lòng của con
7
người xa quê hương, xứ sở. “Nỗi sầu xứ” đó luôn vọng về qua từng con chữ,
qua cảnh sắc thiên nhiên, con người, lễ tết… và đặc biệt là qua “văn hoá ẩm
thực” rất tinh tế trong trang văn của Vũ Bằng.
1.3. Trong lịch sử văn học dân tộc, nhà văn Vũ Bằng không phải là
người đầu tiên và duy nhất viết về các món ăn ngon của người Việt nhưng có
thể nói một cách rất khách quan rằng, viết về “văn hoá ẩm thực” đằm thắm
đại, Vũ Bằng được Vũ Ngọc Phan xếp vào các “tiểu thuyết gia tả chân”. Nhận
xét về lối văn tiểu thuyết của Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan viết: “Tiểu thuyết của
Vũ Bằng rất gần tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân
vật. Khi tả nhân vật, dù là họ ở cảnh nghèo khổ hay cảnh giàu sang, bao giờ
Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút còn
về cảnh ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi của các nhân vật, vì
những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và gây nên những cảnh
riêng biệt cho các nhân vật” [38].
Đến năm 1969 mới có thêm một bài giới thiệu về Vũ Bằng của Thượng
Sỹ, đó là lời nói đầu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo khi cuốn sách được xuất
bản lần đầu tiên (do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải ấn hành tại Sài Gòn
năm 1969).
Năm 1970, Tạ Tỵ trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ xuất bản đã
giới thiệu Vũ Bằng là một trong mười khuôn mặt văn nghệ nổi bật lúc bấy giờ
với bài viết Vũ Bằng - Người trở về từ cõi đam mê. Từ năm 1991 đến năm
1999 cũng có rất nhiều bài viết đăng trên các báo: Văn nghệ, Sài Gòn, Phụ nữ
thứ bảy Thành phố Hồ Chí Minh về Vũ Bằng. Nhưng các bài viết này chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh trong tác phẩm của ông hoặc kể
lại những ấn tượng về Vũ Bằng để minh oan, chiêu tuyết cho ông.
Năm 2000, nhà văn Triệu Xuân là người có công sưu tầm các tác phẩm
của Vũ Bằng thành ba tập Tuyển tập Vũ Bằng khá dầy dặn với bài giới thiệu
Nhà văn Vũ Bằng - Người lữ hành đơn côi. Vào năm 2005, cũng chính Triệu
9
Xuân cho biên tập lại thành Vũ Bằng toàn tập trọn bộ bốn tập trong đó tập
một: Những tác phẩm thuộc thể ký, tập hai và tập ba: Truyện ngắn, truyện
dài: tập bốn: Tạp văn, biên khảo.
Đặc biệt công trình Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ của Văn Giá [16] là
một công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về Vũ Bằng.
Trong công trình này ngoài bài giới thiệu khá kỹ về cuộc đời, tác phẩm của
“ngòi bút tài hoa”: “dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào
đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da
diết quê hương bên kia giới tuyến. Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài
hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương cho tác phẩm này. Nó hấp dẫn
chúng ta từng dòng, từng trang” [4; 6].
Sức hấp dẫn, vẻ đẹp của tác phẩm được GS. Nguyễn Đăng Mạnh khái
quát: “Tình yêu quê hương, đất nước ấy là linh hồn của những trang viết hay
nhất trong Thương nhớ mười hai, Bao hàm trong đó còn có tình cảm truyền
thống của người dân Việt” [32, tr.430].
Bằng cảm thụ tinh tế của một nhà thơ, Vũ Quần Phương nêu lên lòng
yêu nước của tác giả “Đọc Vũ Bằng thấy được lòng yêu nước của con người
giăng mắc từ muôn nghìn sự việc”, Vũ Bằng “soi mình vào trời đất quê
hương để viết lên văn” [41].
Như thế là từ Tô Hoài đến Hoàng Như Mai, Vũ Quần Phương, Nguyễn
Đăng Mạnh đều thống nhất khẳng định Thương nhớ mười hai là một tác phẩm
có giá trị văn chương. “Linh hồn” của các trang văn thương nhớ là tình yêu
quê hương đất nước của tác giả. Có thể nói đây là những ý kiến hết sức quý
báu và đầy lòng trân trọng về Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng.
Năm 1994 đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân của tác phẩm Thương nhớ
mười hai đã được đưa vào chương trình Văn 12 Ban KHXH, phần đọc thêm.
Tạp chí Kiến thức ngày nay đã mở một cuộc thi bình một trong năm tác
phẩm: Trịnh Tông lên ngôi Chúa - trích Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô
11
Gia Văn Phái; Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân; Lão Hạc của Nam
Cao; Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu và Tháng ba rét nàng
Bân của Vũ Bằng. Điều đó có nghĩa là Thương nhớ mười hai đã được thừa
nhận là một trong số những tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam hiện đại.
Người dành nhiều công sức nhất, đồng thời cũng là người đầu tiên đã
hoàn thành công trình nghiên cứu về Vũ Bằng là Văn Giá. Ông đã có bảy bài
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những đặc điểm nổi bật nhất
về văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ
mười hai của Vũ Bằng. Từ đó có thể đánh giá một cách chân xác hơn về tài
năng và tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của ông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những nét chung nhất về “Văn hoá ẩm thực”.
- Chỉ ra được đặc điểm tiêu biểu của văn hoá ẩm thực trong hai tác
phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai.
- Trong quá trình tìm hiểu văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký đó phải
tái hiện được thế giới tâm hồn của Vũ Bằng.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương
nhớ mười hai của Vũ Bằng.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát hai tác phẩm:
- Vũ Bằng, Miếng ngon Hà Nội, Nxb Văn hoá Thông tin, H.2001.
- Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, Nxb Văn hoá Thông tin, H.2001.
13
Ngoài ra luận văn còn tìm hiểu thêm một số tác phẩm ký khác của
Vũ Bằng: Cai, Bốn mươi năm nói láo, Món lạ miền Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu văn
học chính như:
- Phương pháp thống kê - phân loại.
- Phương pháp hệ thống.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Ký là một thể văn tự sự viết về người
thật việc thật có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất".
Từ điển thuật ngữ văn học xác định: "Ký là một loại hình văn học trung
gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể văn xuôi tự sự. Khác với
truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký có quan điểm thể loại là tôn trọng sự
thật khách quan của đời sống. Người viết ký luôn phải chú ý bảo đảm tính xác
thực của hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm. So với truyện ngắn, tiểu
thuyết, ký phản ánh nhanh chóng và linh hoạt cuộc sống"[37]. Nếu như trong
truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết không thể không có yếu tố tưởng tượng,
hư cấu nghệ thuật thì trong thể loại ký tưởng tượng hư cấu ít xuất hiện hơn vì
sự thực là vấn đề cốt lõi của ký. Hư cấu chỉ xuất hiện khi nhà văn không trực
tiếp chứng kiến sự việc mà ghi lại qua dòng hồi tưởng, lời kể của người khác.
Thế nhưng, hư cấu của ký cũng khác hẳn với hư cấu của truyện và tiểu thuyết.
Nếu như trong truyện và tiểu thuyết hư cấu tạo ra “hiện thực thứ hai” cao hơn
hiện thực có thật ngoài đời sống thì hư cấu của ký thể hiện ở vai trò sáng tạo
chủ quan thông qua liên tưởng, ước đoán, trong công việc lựa chọn, tổ chức,
sắp xếp, bình giá những hiện tượng được miêu tả để chúng nổi bật những nết
15
tiêu biểu, điển hình. Nhờ tính xác thực mà ký luôn có tính thời sự nóng bỏng,
có giá trị nhận thức sâu sắc, tác động trực tiếp tới người tiếp nhận.
Trong Cơ sở lí luận văn học, tập 3 do Hà Minh Đức chủ biên, quan
niệm rằng: " Ký là một thể loại linh hoạt, cơ động, nhạy bén trong việc phản
ánh hiện thực ở cái thể trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và đổi mới nhất"
[13, tr.123].
Trong một quyển sách khác cũng do Hà Minh Đức chủ biên, đưa ra
khái niệm: "ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong
văn xuôi về những sự kiện, về con người có thật trong cuộc sống với nguyên
tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính chất thời sự của đối tượng
miêu tả" [12, tr.18].
còn những bình luận, đánh giá, xúc cảm của nhà văn là nhằm mài sắc sức
mạnh của sự thực. Trong khi đó, truyện chỉ lấy sự thực làm nguyên liệu, sự
thực được nhào nặn, tái tạo, hư cấu để biểu hiện một nhận thức, một quan
niệm nghệ thuật của nhà văn. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chí Phèo và Lão
Hạc của Nam Cao, ta tuy biết những nguyên mẫu nhân vật, hoàn cảnh thực
tế song nó hoàn toàn không trùng khít với hiện thực, nhà văn sẽ hư cấu, thêm
bớt các tình tiết nhằm bộc lộ những dụng ý tư tưởng của nhà văn về hiện thực,
về con người thời đó.
Đọc những lá thư trong Từ tuyến đầu Tổ quốc chúng ta được biết bao
sự thực đau lòng như: "ở Điện Bàn, chị Th có mang bảy tháng, bị chúng bắt
tra tấn suốt mấy ngày cuối cùng bị một cú đá giày vào bụng, đứa con chưa đủ
tháng bị phọt ra ngoài. Chị cầm cái thai vừa rú lên vừa chạy ra đường. Một
loạt tiểu liên bắn theo". Rồi, "ở thằng Bình, chị T bị chúng cột chặt đầu ống
quần lại bỏ vào trong năm con rắn. Chị ngã ra chết ngất. Đến nay, đêm đến là
chị rùng mình, đang ngủ cùng dậy kêu la: "Nó nhiều quá, nó nhiều quá " [54, tr.112].
Tiến sĩ nông nghiệp Lương Đình Của khi đọc xong những sự thực như thế đã
17
phải thốt lên: "Trong đời tôi, chưa có một cuốn sách nào gây cho tôi một cảm
động mạnh mẽ và những xúc động liên tục như tập Từ tuyến đầu Tổ quốc "
[12, tr.145]. Tất cả những gì được thể hiện trong ký đều là có thật, đều rất rõ
ràng, cụ thể đến từng thời gian, địa điểm, tên người".
Sự thực là nguyên tắc xây dựng hình tượng ký. Sáng tạo hình tượng ký,
bao giờ tác giả cũng cố gắng cung cấp những thông tin xác thực về hình
tượng: ngày tháng đối với sự kiện, số liệu đối với hiện tượng, địa chỉ đối với
nhân vật. Kể về người nữ anh hùng, Nguyễn Thi viết: "Tại xã Tam Ngãi,
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà có sáu con tên là Nguyễn
Thị Út " (Người mẹ cầm súng). Trong tuỳ bút "Người lái đò sông Đà", bên
cạnh những trang viết cực kì phóng túng, tài hoa, Nguyễn Tuân còn cho ta
biết những số liệu rất cụ thể, tỉ mỉ: "Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông,
Tiếng những chiếc đế giày mới ót ét. Hơi thở gấp của những lá phổi khỏe
mạnh, làm ấm cả núi rừng. Đoàn quân trải trên những quả núi phân biệt với
màu xanh của cây rừng bằng sự chuyển động. Trường Sơn trầm mặc bỗng
xốn xang với mùa xuân với những bước đi êm nhẹ của đoàn quân. Những búi
cây vông vang nở đầy hoa như có hàng ngàn con bướm trắng đang từ đó bay
lên " [12, tr.168].
Để người đọc tin vào sự thực, mô hình tự sự trong ký thường là mô
hình tự sự ngôi thứ nhất, tình thái khách quan với tiêu điểm tự sự bên ngoài
và sự thống nhất của các điểm nhìn trần thuật. Trong ký, người kể chuyện
thường lộ diện trực tiếp trong hình thức người kể chuyện xưng tôi, ít đi sâu
vào diễn biến nội tâm nhân vật, luôn giữ khoảng cách với đối tượng miêu tả
bằng cách xen vào những lời nghị luận, thẩm bình, mọi sự kiện trong ký nằm
trong tầm quan sát của một nhân vật duy nhất. Đọc những thiên phóng sự của
Vũ Trọng Phụng người ta biết những sự kiện, nhân vật được tác giả nói đến
19
chưa hẳn là có thực song tất cả vẫn thuyết phục hấp dẫn người đọc và tin là
thật bởi sự xuất hiện của người kể chuyện xưng tôi trùng với tác giả, bởi sự
thống nhất xuyên suốt một điểm nhìn bên ngoài tình thái khách quan.
Như vậy, trần thuật người thật việc thật là đặc trưng cơ bản của ký. Khi
đó, sự thật trở thành nguyên tắc tối cao trong ký, bởi nó chi phối cả người
sáng tác trong quá trình chọn lọc đời sống, xây dựng hình tượng, tổ chức mô
hình trần thuật, chi phối cả người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm; là bản
giao ước ngầm giữa tác giả và độc giả.
Nếu phá vỡ nguyên tắc này, tác phẩm ký mất đi giá trị hoặc chuyển
thành thể loại khác: trữ tình, chính luận hoặc truyện ngắn Tôn trọng tính xác
thực, tác phẩm ký không những có được tính thời sự, giá trị nhận thức mà còn
mang giá trị thẩm mĩ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc. Đặc trưng nói trên
là cơ sở chính tạo nên sức lôi cuốn và hấp dẫn của tác phẩm ký.
Chúng ta phải thừa nhận một vấn đề lí thuyết không thể chối cãi: bản
đẹp, cao cả của hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc: là chiến công vĩ
đại, là những tấm gương anh hùng, là gương người tốt việc tốt Vì thế,
nguồn cảm hứng phê phán không có chỗ tồn tại, nhường chỗ cho cảm hứng
ngợi ca, biểu dương, ngay cả cái đau thương cũng phải biến thành cái quật
khởi, nỗi buồn phải biến thành tinh thần anh dũng. Tất cả những gì đi chệch
khỏi quỹ đạo của cuộc kháng chiến, đi chệch khỏi cảm hứng ngợi ca đều bị
coi là bóp méo, là sai lệch lịch sử. Rõ ràng, đó là điểm hạn chế của một thời
kì vĩ hiện thực cuộc sống như chúng ta thấy không hề đơn giản, xuôi chiều và
lí tưởng như vậy.
Như vậy trong thực tiễn, sáng tác ký ta thấy nổi lên một mâu thuẫn: bản
chất của ký là mô tả sự thật, song ở mỗi giai đoạn của thực tiễn sáng tác, sự
thật lại mang dáng vẻ, màu sắc khác nhau. Vậy, phải quan niệm thế nào là sự
thực và đâu là thước đo sự thật chính là vấn đề mà ký cần giải quyết.
21
Để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn trên chúng tôi nghĩ cần phân biệt sự
thật lịch sử vì không phải bất cứ sự thật lịch sử nào cũng trở thành sự thật
nghệ thuật.
Sự thật nghệ thuật có nguồn gốc từ sự thực lịch sử song chúng nằm
trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau: Sự thật lịch sử thường nằm trong thế
giới vật chất khách quan, trong khi sự thật nghệ thuật thuộc lĩnh vực tinh thần
chủ quan, nằm trong tác phẩm nghệ thuật. Hai sự thật đó được chuyển hóa lẫn
nhau qua tư duy và hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời vẫn giữ được
mối liên hệ và ràng buộc chặt chẽ không thể tách rời. Sự thật lịch sử vô cùng
rộng lớn, phong phú, phức tạp, trong khi đó, sự thực nghệ thuật chính là cố
gắng, sự sáng tạo của nhà văn để mô hình hóa thế giới theo quan niệm nghệ
thuật của bản thân họ. Sự kiện B52 bị bắn rơi ở làng Ngọc Hà đi vào ký của
Nguyễn Tuân trở thành "Cánh B52 rụng xuống một thôn hoa". Sự diễn đạt ấy
mang đậm nét cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân - nhà văn có tài khám phá
những mối tương đồng, đối lập bất ngờ trong những việc bình thường nhất,
Để giải quyết vấn đề này, trước tiên cần thống nhất khái niệm "hư cấu".
Theo "Hêghen, đó là một hoạt động có tính chất sáng tạo". Hoạt động sáng
tạo này trước hết đòi hỏi phải có một biệt tài và một mẫn cảm nắm được hiện
thực và hình thức của nó, nhờ đó mà con người có hư cấu trong khi lắng nghe,
quan sát, ghi lại trong tâm hồn mình những hình ảnh đa dạng nhất của cái tồn
tại, đồng thời có được một trí nhớ chắc chắn giữ được cái bức tranh sặc sỡ của
những hình thức đa dạng. Về mặt này ( ) nghệ sĩ cần gạt bỏ cái gọi là lí
tưởng về thực chất tẻ nhạt và bước vào lĩnh vực của hiện thực" [22, tr.455].
Nhưng "hư cấu không chỉ dừng lại ở việc tri giác hiện thực bên ngoài và bên
trong" [22, tr.456]. Với quan niệm của Hêghen, hư cấu không chỉ bắt nguồn
từ hiện thực mà còn là sự chiếm lĩnh hiện thực từ chiều sâu.
Thống nhất với ý kiến của Heghen, M.Arnaudop trong "Tâm lý học
sáng tạo" cũng khẳng định: "một sự thể hiện trung thực nhất các sự kiện vẫn
23
còn chứa đựng một hư cấu nào đó và mọi hồi ức tiểu sử tự thuật cũng như các
tài liệu khác được suy nghĩ với tính chính xác lịch sử, đều là, theo cách nói cổ
điển của Gothe, một sự kết hợp khăng khít của thơ và sự thật" [1, tr.159].
Tóm lại, trong sáng tạo nghệ thuật không có sự phân biệt tuyệt đối giữa
sự thật và hư cấu. Hư cấu nào cũng dựa trên cái tồn tại và một sự thật nghệ
thuật trung thực nhất vẫn chứa đựng hư cấu, bởi sự thật nghệ thuật bao giờ
cũng được chuyển hóa vào tác phẩm qua quá trình ghi nhớ, chọn lọc, sắp xếp
của nhà văn mà bất cứ một hoạt động phản ánh ý thức nào cũng có phần bộc
lộ chủ thể. Dẫu chủ trương một đường lối nghệ thuật tả chân, chỉ "toàn một
giống sự thật" thì chúng ta vẫn nhận ra dấu vết hư cấu trong phóng sự của Vũ
Trọng Phụng, của Ngô Tất Tố. Hư cấu bộc lộ ở việc ghi nhớ và chọn lọc sự
kiện. Tại sao trong muôn vàn sự kiện và hiện tượng đời sống, Vũ Trọng
Phụng chỉ "săm soi" những tệ nạn ung nhọt của xã hội? Hư cấu còn bộc lộ
trong lối viết tạt ngang mang đầy vẻ khiêu khích, giễu cợt: "cái phất trần do
chính bà Ách Nhoáng cầm để thỉnh thoảng giơ tay vụt xuống một cái cũng
không nên tuyệt đối hoá cho rằng nhân vật trần thuật trong ký phải chính là
tác giả còn trong truyện lại là một nhân vật khác. Có những trường hợp ngược
lại. Nhân vật trần thuật trong tiểu thuyết cũng có khi chính là tác giả, còn
trong ký có khi lại là một nhân vật khác trong cuộc, như chị Quyên trong
Sống như Anh chẳng hạn. Nhưng đa phần trường hợp trong ký nhân vật trần
thuật chính là tác giả. Đúng như nhà phê bình Xô-viết Priliut đã nói: “Thông
thường, tôi trong ký là tác giả, mặc dù không trừ hình thức người trần thuật
ước lệ [36, tr.432]. Tác giả trong ký đóng một vai trò rất quan trọng và đa
chức năng: “vừa là nhân vật - nhân chứng cho các sự kiện đời sống và là nhân
tố tổ chức, xâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vừa là tác giả bàn bạc, đánh giá về
đối tượng phản ánh và bộc lộ lập trường, quan điểm, cảm xúc của bản thân”
[33, tr.51].
25
Trong ký, nhân vật trần thuật là một nhân vật đặc biệt đóng vai trò là
nhân chứng của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm. Với vai trò
này, nhân vật trần thuật dẫn dắt người đọc đến mọi ngóc ngách của cuộc sống,
đến với từng mảnh đời, những góc khuất của tâm hồn con người, rồi từ đó trò
chuyện với nhân vật khác để tìm hiểu, bóc trần, lật tẩy những mặt trái của
cuộc sống. Theo chân người kể chuyện, người đọc được khám phá hết vùng
hiện thực này đến vùng hiện thực khác một cách sinh động và đáng tin cậy
nhất. Như vậy, sự xuất hiện của nhân chứng "tôi" này tạo nên niềm tin nơi
người đọc một cái nhìn xác thực về hiện thực cuộc sống. Hoặc khi lăn lộn vào
thực tế, khoác áo phu xe, Cam Lang không ngoài mục đích thuyết phục người
đọc cũng thấm thía như mình nỗi cơ cực của hạng "người ngựa ngựa người"
bị đánh đập, bắt bớ, lừa gạt, coi khinh. Có lẽ, người đọc phải ngỡ ngàng vì
những mánh khoé nghề nghiệp và phẫn nộ trước tình trạng bất bình đẳng trong xã hội.
Nhân vật trần thuật xưng tôi trong ký còn là nhân tố tổ chức, xâu chuỗi
các chi tiết, sự kiện vào một điểm nhìn thống nhất để kết cấu nên tác phẩm.
Tất cả những sự kiện, số liệu về hiện thực tưởng chừng như rời rạc giờ được