TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC LÀO
I.VĂN HÓA LÀO VÀ NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC TRONG VĂN
HÓA ẨM THỰC
1.1. Đôi nét về đất nước và văn hóa Lào
1.1.1.Đôi nét về đất nước Lào
Lào là một quốc gia ở Đông Nam Á nằm sâu trong đất liền và
được coi là nơi giao lưu của hai nền văn minh lớn: Ấn Độ-Trung Hoa. Địa
thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou
Bia cao 2.817 m. Diện tích còn lại là bình nguyên và cao nguyên. Sông Mê
Kông là con soonh lớn nhất, chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới
với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía
đông giáp với Việt Nam. Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới của khu
vực gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Thủ đô và là thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành phố
lớn khác: Louang Phrabang, Savannakhet và Pakse. Lào cũng là quốc gia có
nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi
và bò tót khổng lồ.
Mặc dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng hiện nay Lào vẫn đang là một
trong những nước chậm phát triển với bức tranh kinh tế ảm đạm, thu nhập
bình quân đầu người thấp trên thế giới. Để khắc phục tình trạng này, chính
phủ Lào đang đề ra các chính sách mới và kêu gọi sự hỗ trợ từ nước ngoài
để Lào ngày càng phát triển hơn.
Và để đưa đất nước đi lên thì sự góp sức của nhân dân chính là
một nhân tố vô cùng quan trọng. Dân cư Lào với khoảng 5 triệu người bao
gồm sáu bộ tộc hợp thành, họ đem nền văn hóa của mỗi bộ tộc hòa vào nền
văn hóa chung, tạo nên sự đa dạng và phong phú, đặc sắc của bức tranh văn
hóa Lào.
Nhân dân Lào có tinh thần yêu nước, bao dung, luôn yêu thương
giúp đỡ lẫn nhau. Yêu lao động, hòa bình, chính nghĩa, kiên quyết không
khuất phục trong đấu tranh chống áp bức bóc lộc của nội ban cũng như nội
Ngoài ra người Lào cũng lưu giữ một kho tàng phong tục tập
quán rất đa dạng những cũng khá đồng nhất, điều này rất dễ nhận ra bởi mỗi
một vùng, mỗi địa phương đều có những phong tục riêng nhưng vẫn mang
tính phổ quát. Tính phổ quát thể hiện trước hết ở cách ăn, mặc: Về mặc: đặc
điểm chung là váy, khố, trang phục thường có phục trang và trang sức với
vòng đeo tay, cổ, khuyên tai… Về ăn: tục ăn uống của người Lào với cơm là
chính, rau, cá, hoa quả, thịt là phụ. Và với tất cả người Lào họ đều mong chờ
ngày tết cổ truyền của dân tộc với tên gọi Bunpimay hay còn gọi là Tết té
nước diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm. Người dân té nước
để cầu may, bình yên cho cả năm. Đầu tiên họ tưới nước lên các tượng Phật,
sau đó còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa, rồi đến
những người xung quanh. Họ còn té nước vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật
và công cụ sản xuất. Trong những ngày này, người dân còn xây tháp cát,
phóng sinh, ăn món lạp, hái hoa tươi, buộc chỉ cổ tay. Với người Lào, những
phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn
vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để nuôi dưỡng và
hun đúc nghệ thuật dân tộc. Một trong những phong tục của người Lào còn
được thể hiện trong cách ở, họ ở trên những ngôi nhà sàn vì nhà sàn phù hợp
với điều kiện, địa hình, khí hậu nước Lào. Bên cạnh đó, tín ngưỡng bản địa
của người Lào hết sức đa dạng, tín ngưỡng đó gồm tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng người đã mất, tín ngưỡng
thờ thần.
Lào còn được coi là đất nước của những lễ hội, tháng nào trong
năm cũng có. Lễ hội ở Lào hay còn được gọi là Bun, nghĩa là phước, làm
Bun nghĩa là làm phước để được phước. Cũng giống như các nước khác
trong khu vực Đông Nam Á, lễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm hai phần:
phần lễ là phần nghi thức do chính con người đặt ra để giao cảm với thần
linh và phần hội chủ yếu là vui chơi, giải trí. Các lễ hội lớn của Lào gồm
Bun Pha Vet (Phật hóa thân) vào tháng 1; Bun Visakha Puya (lễ Phật đản)
vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao
mở nên họ tiếp thu mọi tinh hoa văn hóa của các đất nước láng giềng, điều
này đã tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của người dân nơi đây. Nền ẩm
thực cũng không nằm ngoài sự vận động đó. Hầu hết các món ăn của Lào
đều mang đậm màu sắc của ẩm thực Thái Lan và Campuchia, do vậy đến với
ẩm thực Lào ta sẽ tìm thấy trong đó sự kết hợp tuyệt vời giữa cái béo mà
không ngậy trong ẩm thực Thái và vị giòn tan của các món ăn từ côn trùng
hết sức đặc trưng trong ẩm thực Campuchia.
Điều kiện tự nhiên
Địa hình cũng là nhân tố chi phối khá lớn tới văn hóa ẩm thực
Lào. Được coi là tiểu lục có diện tích mặt nước lớn hơn mặt đất với những
dòng sông trải dài như một mạng lưới trên khấp đất nước với dòng sông
Mêkong hùng vĩ, Lào có một nguồn cá tôm nước ngọt dồi dào để phục vụ
cho các bữa ăn, vì thế cá chính là thực phẩm chủ yếu của người dân nơi đây.
Ngoài ra với một diện tích rừng khá lớn cùng những cao nguyên trù phú đã
giúp cho họ có thể tận dụng những nguồn thức ăn từ tự nhiên như thú rừng,
rau quả hay những loại côn trùng…
Khí hậu Lào chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 tới tháng
11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Đất nước Lào có một nguồn khí hậu vô
tận, thuận lợi cho sự phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới. Cường độ
bức xạ mặt trời cao, lượng ánh sáng dồi dào (khắp nơi trong toàn quốc đều
có ít nhất 1500 giờ nắng trong mỗi năm), cán cân bức xạ luôn luôn dương đã
quy định ở nhiệt độ cao trên toàn lãnh thổ Lào: nhiệt độ trung bình cả năm ở
các địa phương đều trên 26
0
C (trừ các miền núi cao), tổng nhiệu độ hoạt
động vượt quá 7500
0
C. Điều kiện nhiệt đới này là yếu tố thiên nhiên rất
thuận lợi cho sự phát triển thâm canh tăng vụ, vì cây trồng có thể sinh
trưởng và phát triển quanh năm. Yếu tố thiên nhiên này lại càng có ý nghĩa
Tài nguyên động, thực vật của Lào rất phong phú. Lào được mệnh
danh là vương quốc của rừng. Điều đó nói lên vị trí kinh tế quan trọng của
kho vàng xanh giàu có của Lào. Nếu đất nước Lào là một thiên đường của
các nhà thực vật học thì cũng có thể nói rằng đây chính là một vườn bách thú
thiên nhiên lý tưởng ở miền nhiệt đới với thành phần đa dạng của các loài
động vật, chim chóc có giá trị kinh tế cao. Loại động vật đặc hữu có giá trị
nhất của Lào là voi. Sự phong phú của loài động vật ấy khiến cho đất nước
này từ xưa đã được mệnh danh là đất nước của Triệu Voi. Ngoài voi, còn có
các loại động vật đặc hữu khác như hổ, báo, gấu, hươu, nai, bò rừng… và
nhiều giống chim quý. Thú rừng của Lào có giá trị kinh tế lớn, chúng cung
cấp một khối lượng thịt ngon và bổ đáng kể.
1.2.2. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội
Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường thông ra
biển và chủ yếu là đồi núi trong đó 47% diện tích là rừng, có một số đồng
bằng nhỏ ở thung lũng sông Mê Kông, hoặc các phụ lưu như đồng bằng
Viêng Chăn, Champasack. Theo thống kê, 45% dân số sống ở vùng núi, Lào
có 800000ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề
nông. Lào có tài nguyên phong phú về lâm nghiệp, nông nghiệp, khoáng sản
và thủy điện tạo điều kiện rất lớn cho việc phát triển kinh tế. Sản phẩm nông
nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng
80% lực lượng lao động. Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư
nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng.
Tuy nhiên, chính sách quản lý và khai thác chưa hợp lý của nhà
nước chưa mang lại hiệu quả khiến cho bức tranh kinh tế của Lào còn khá
ảm đạm. Mức sống của cư dân nhìn chung còn gặp rất nhiều khó khăn trong
việc đáp ứng những nhu cầu sống vật chất (điện, nước, sinh hoạt ), nhu cầu
giao lưu văn hóa, tinh thần, hoạt động phúc lợi xã hội cần được nâng cao
hơn nữa. Hiện nay, nền kinh tế Lào có rất nhiều khởi sắc với việc thực hiện
tốt chương trình kế hoạch 5 năm. Lào đang nắm bắt thời cơ, tạo những bước
hiểu biết thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên
chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise ”.
Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra
định nghĩa về văn hoá “Văn hoá là hình thức hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Như vậy, định nghĩa về văn hoá là khá đa dạng và phức tạp. Từ những
định nghĩa khác nhau về văn hoá có thể hiểu rằng: Văn hoá là bao gồm tất cả
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để phục vụ cho
chính mình và làm cho con người thực sự người hơn. Văn hoá là một khái
niệm thuộc phạm trù giá trị - nó gắn với sự nhìn nhận, đánh giá của con
người; văn hoá là sự hoà nhịp với lao động sáng tạo. Như vậy, có thể xem
văn hóa là cái còn đọng lại, tinh túy nhất, không dễ thay đổi của một dân tộc,
đó là nếp sống của một dân tộc.
2.1.2. Khái niệm ẩm thực
Ẩm thực là những nguyên liệu cần và đủ để chế biến nên các món ăn,
ẩm thực cũng được hiểu là thưởng thức những món ăn.
Ẩm thực là tiếng dùng khái quát nói về việc ăn và uống. Theo Nguyễn
Văn Dương nghiên cứu về ẩm thực trong ngôn ngữ, thì từ “ăn” trong tiếng
việt có số lượng ngữ nghĩa và số lượng từ ghép rất phong phú, có đến 15/20
ngữ nghĩa được nêu trong từ điển Tiếng Việt có liên quan đến “ăn”. Sở dĩ từ
“ăn” chiếm vị trí lớn ngôn ngữ và tư duy người Việt vì từ xưa đến đầu thế kỷ
XX, nước ta đất hẹp, kỹ thuật chưa phát triển, mức sống còn thấp do đó cái
ăn luôn là yếu tố quan trọng nhất: “có thực mới vực mới vực được đạo”, “dĩ
thực vi tiên”…
2.1.3. Khái niệm văn hóa ẩm thực
Trong cuốn “Từ điển Việt Nam thông dụng” định nghĩa văn hoá
ẩm thực được hiểutheo 2 nghĩa:
Theo nghĩa rộng, “Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm
trong tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri
phẩm chính của người Lào là cá, tôm nước ngọt trong đó cá là thực phẩm
chủ yếu. Ngoài cá nước ngọt thì thịt heo, gà, trâu và vịt là những thành phần
quan trọng để nấu nướng nhiều thứ món ăn thông thường. Người Lào cũng
ăn những thứ thịt thú săn như nai, gà rừng, chim cút nếu có dịp kiếm được.
Một món ăn Lào tiêu biểu phải có vị pha trộn giữa cay và ngọt, được
trung hòa bằng các gia vị thảo mộc. Điều này khiến cho các món ăn Lào trở
nên nổi bật hơn các nước trong khu vực. Lào rất chuộng ăn ớt. Họ có món ớt
chiên giòn, ớt muối, ớt luộc.
Rau thơm cũng là nguyên liệu không thể thiếu được của người Lào.
Bên cạnh nhà là vườn rau, trong đó rau thơm chiếm diện tích lớn. Người Lào
thường xây dựng bên cạnh nhà mình một vườn rau, trên đó người ta trồng
các lọai rau như hành, khoai, dưa chuột, đậu ván ,củ cải, cần tây, xà lách…
Nó là những thứ bổ sung cho bữa ăn hàng ngày của người Lào.
2.2.2. Gia vị
Cũng như rất nhiều các quốc gia trong khu vực, nền ẩm thực của Lào
đa dạng không kém, điển hình là ba hương vị đặc trưng: Chua, cay và ngọt
đã “hữu ý” kết hợp với nhau làm nên linh hồn và sắc màu riêng trong ẩm
thực của người dân Lào.
Một món ăn tiêu biểu của người Lào phải là sự pha trộn giữa cay và
ngọt, được trung hòa thêm thảo mộc. Các món ăn có đặc điểm là dùng
những gia vị như gừng, me, lá chanh, và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính
trong các món ăn hầu hết các món ăn đều có rất nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có
hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối chua, ớt sa tế , ớt hầm, ớt luộc …
Chính vị cay này cũng là một nét văn hóa vì phần đông người Lào sử dụng
nguồn lao động chân tay, vị cay gây kích thích, tạo món ăn ngon, giúp người
lao động ăn được nhiều, tăng sức lao động. Ở mỗi vùng cũng có các món ăn
đặc trưng, có các tên gọi khác nhau và được chế biến theo đặc trưng của
từng vùng, nhưng không thể không có vị cay của ớt…
Ngoài ra trong cách chế biến món ăn của người Lào còn sử dụng hai
loại gia vị chính là hai vị thuốc “gialang” và “macụt”. Hai vị thuốc này chủ
được xem là đặc sản như : Món Tam Maak Hung còn gọi là nộm chay gồm
dưa muối, đu đủ, đậu đũa, cà dĩa giã rồi trộn chung với cùng hàng chục gia
vị ăn rất lạ…Tất cả đều mang hương vị vừa quen lại vừa lạ, quen vì các
nguyên liệu không quá khó tìm, nhưng lạ vì cách chế biến tinh tế và rất đặc
trưng.
2.3.1. Các món ăn hàng ngày
Cơm lam
Cơm lam là loại cơm đặc trưng của người Lào, được nấu từ
gạo, là thực phẩm rất được người Lào trân trọng. Cơm lam thơm hơn, dẻo
hơn, ngon hơn cơm nấu theo phương pháp thông thường nên dần trở thành
món ăn đặc sản, được rất nhiều người Lào ưu thích.
Để làm được ống cơm lam ngon cần phải có sự chăm chút, khéo léo
của người nấu, từ khâu chọn ống lam, chọn gạo nếp, tới cách ngâm gạo và
cách nướng… trong đó việc chọn tre, nứa (ống lam) là quan trọng hơn cả.
Ống nứa dùng nấu cơm lam phải còn tươi, không quá non cũng không
quá già (để khi cơm chín, hạt cơm quyện thêm chút vị ngọt và mùi vị đặc
trưng của tre, nứa), ống nứa có độ dài khoảng 15cm, ống thẳng dài. Đặc biệt,
nếu chọn được những cây nứa có nước ở trong ống và sử dụng nước đó để
nấu cơm, lúc đó cơm sẽ ngon hơn khi sử dụng nước thường. Ống nứa được
chọn về chặt hở một đầu, sau đó rửa sạch và lót lá dong vào bên trong.
Gạo được vo đãi sạch, rắc thêm một chút muối, trộn đều rồi cho vào
ống lam, đổ nước xâm xấp gạo, sau đó ngâm khoảng một tiếng. Sau khi gạo
trong ống lam đã đủ thời gian ngâm, nước sẽ được đổ thêm vào cho ngập
gạo rồi dùng lá chuối rừng hoặc lá dong nút chặt đầu ống nứa, để cơm lam
vẫn giữ được nguyên hương vị của nó.
Quá trình nướng cũng đòi hỏi người nấu phải khéo léo, dựng ống lam
trên kiềng, khi nướng ống lam phải được xoay đều trên ngọn lửa, hoặc trên
than hồng, tránh để lửa quá to làm ống lam cháy khiến cơm chín không đều,
còn nếu để lửa quá nhỏ sẽ làm cho cơm lam bị nhão, ướt. Thời gian nấu cơm
lam khoảng một giờ đồng hồ là cơm chín, tuy nhiên người Lào thường dựa
đựng trong ống nứa và nấu bằng nước suối.
Tương tự như cách nấu cơm lam, gạo nếp sau khi được nhặt sạch sạn,
sẽ được ngâm trong nước khoảng 2 – 3 giờ để nước ngấm dần vào trong gạo
và gạo được mềm hơn, nở hơn trước khi nấu xôi. Trong thời gian ngâm
nước, gạo được đảo đi đảo lại 2 - 3 lần để gạo được ngấm đều nước. Sau khi
ngâm, gạo được vớt ra, đãi lại một lần nữa cho thật sạch, cho một chút muối
vào gạo và trộn đều (trước đây khi chưa có muối hoặc muối còn khan hiếm
người Lào thổi cơm xôi không. Ngày nay khi xóc gạo người ta cho một chút
muối trắng vào gạo để tăng thêm vị đậm cho món xôi).
Sau đó, gạo nếp và nước suối được cho vào trong ống nứa, dùng lá
chuối hoặc lá dong nút chặt đầu ống nứa lại, rồi tiến hành nướng trên lửa
hoặc trên than hồng (lưu ý là không để lửa quá to hoặc quá nhỏ vì nó đều
làm cho xôi mất ngon).
Khi ống nứa cháy sém cũng là lúc xôi cạn nước, sau đó ủ xôi
cho chín. Khi ăn, gọt lớp vỏ nứa bên ngoài là lộ ra phần xôi nếp màu trắng
được bọc bằng lớp vỏ lụa của ống nứa. Khối xôi nếp lúc này có hình dáng
như một cái ống, thơm mùi nứa, chỉ việc dùng tay bốc ăn. Nếp Lào dẻo, ráo
nên khi ăn sẽ không bị dính vào tay.
Gạo ngoài chế biến thành cơm lam và xôi nếp thì nó còn là thứ lương
thực có nhiều công dụng, như: dùng để làm vỏ bọc cho các loại bánh, làm
khuôn cho các món tráng miệng và bánh kẹo. Cơm trộn với khoai sọ, nước
cốt dừa, và ngó hoa súng để làm món điểm tâm, chẳng hạn như món Khao
tom - gồm cơm trộn với chuối, gói vào lá chuối rồi đem hấp. Một món điểm
tâm thông dụng khác là Tom nam hua bua, được làm bằng cách trộn cơm với
nước cốt dừa và hoa sen.
Một điều đáng chú ý nữa là ở Lào, không chỉ là thực phẩm hàng ngày,
lúa gạo còn được liên tưởng mạnh mẽ với những người phụ nữ. Trong nhiều
làng bản hẻo lánh có truyền thuyết kể rằng nữ thần lúa đã hiến dâng mình
cho ngọn lửa, và sau khi chết, tro của nữ thần đã giúp cho dân làng có được
một mùa bội thu, tránh được nạn đói trong năm đó. Ở một số làng bản người
Người ta dùng thân cây tre dày, còn tươi (để tránh lửa làm cháy kẹp
tre) chẻ đôi ra rồi kẹp cá vào giữa. Khi nướng cần phải kiên trì hơ cho con cá
chín dần, chín đều trên than củi. Khi cá đã chín, tỏa ra mùi thơm, người ta
dùng sợi chỉ vuốt dọc theo chiều kẹp cá, con cá được gỡ ra vẫn nguyên vẹn,
không vỡ nát. Do cá đã được ướp muối trước khi nướng nên khi nướng chín
da cá không cháy mà lại được phủ một lớp muối, thịt cá không dính vào da,
thịt rất thơm. Món cá nướng được ăn kèm với các loại rau và có thể dùng
thêm nước mắm hoặc muối chấm, tùy vào khẩu vị của từng người. Tuy
nhiên loại nước chấm được người Lào ưu thích nhất khi ăn cá nướng là
chẻo. Chẻo chế biến từ gan heo băm nhỏ, nêm cùng các loại gia vị: bột năng,
ớt, tỏi, hành, mắm, muối, chanh và thêm một chút lạc rang.
Món cá nướng phải ăn với cơm lam, xôi dẻo thì mới có thể cảm nhận
được hết vị ngọt béo của cá, vị cay của ớt, mùi thơm của các loại gia vị.
Cơm xôi ăn với cá nướng, chấm muối ớt là món ăn được sử dụng phổ biến
cả trong đời thường, vào các dịp lễ hội và dâng cúng tổ tiên của người Lào.
Ngoài cách nướng bằng kẹp tre, người Lào còn thích cho cá vào trong
ống giang, nứa để nướng (tương tự như khi chế biến cơm lam), họ cho rằng
cá nướng theo cách này sẽ giữ được vị ngọt của cá, đồng thời cũng giữ được
mùi thơm của các loại gia vị đi kèm.
Ngoài cá nướng, người Lào còn có các món ăn nướng khác như gà
nướng, thịt nướng, tuy nhiên các món ăn này ít được sử dụng hơn.
Tép nhảy
Món “Tép nhảy” được xem là đặc sản trên đất Lào. Tép sống được
đánh bắt trên sông Mê Kông nên tươi ngon, có vị ngọt rất đặc trưng. Để chế
biến món tép nhảy thì tép sẽ được rửa sạch, loại bỏ hết các tạp chất rồi để
ráo nước. Khi ăn người ta vắt chanh vào tép (chanh vừa làm cho tép chín tái,
vừa làm giảm đi vị tanh của tép), sau đó tép được nêm thêm các loại gia vị
vừa ăn. Món tép nhảy được ăn sống kèm với nước chấm.
Món Tam Maak Hung
Món Tam Maak Hung được coi là đặc sản mang đậm phong vị của
món ăn ngon, hấp dẫn và mang hương vị rất đặc biệt như: Thoót mú đẹt
điêu, tôm dâm cung, gà nướng, lạp xưởng, thịt heo hấp măng (hoặc cá hấp lá
chuối), gà (cá) nấu me, rau luộc, cùng các món: ếch, mực chiên tỏi, sườn
nướng, nem chua cá thịt…
Ngày nay, do chịu ảnh hưởng nhất định từ các quốc gia khác,
nhất là các nước phương Tây trong ẩm thực, người Lào bắt đầu làm quen và
ưa chuộng các món ăn của phương Tây, đặc biệt là các món ăn của Pháp.
Hiện nay, người Lào có thễ dễ dàng tìm thấy các món ăn Pháp ở mọi nơi,
nhất là trong những nhà hàng ở Vientiane và Luang Phrabang. Món đùi ếch
và filet Mignon, bít tết vẫn được ưa chuộng trong nhân dân. Bánh mỳ giòn
kiểu Pháp hay baguette là món ăn sáng của người Lào. Người Lào nhúng
baguette vào cà phê sữa để ăn hay ăn với trứng rán hay nhét pate vào trong
như bánh sandwich. Người Lào còn thường dùng bánh mì croissant và bánh
mì socola với một ly cà phê đậm.
Măng ống nhồi thịt
Đây là một món ăn khá phổ biến ở Lào, món măng này được họ chế
biến bằng thịt lợn xay nhuyễn kết hợp với một số hương liệu thông dụng mà
tạo nên một món ăn rất đặc trưng cho đất nước mình. Trong đó việc sử dụng
hai vị thuốc “gialang” và “macụt” làm gia vị chính với tác dụng không gây
đau nhức, không đầy bụng đã làm nên điều đặc biệt cho món ăn. Vì thế
măng ống nhồi thịt không chỉ được xem như một món canh thông thường
mà còn như một bài thuốc quý lưu truyền trong dân gian hàng bao đời nay.
Nguyên liệu để làm món ăn này bao gồm: măng ống tươi, hành lá,
trứng, bột mì, thịt nạc xay nhuyễn, muối, hạt tiêu, nước mắm, hành tím băm
nhuyễn, lá chuối và các phụ gia khác.
Thực hiện: Chọn mua những ống măng to, ruột nhiều phần rỗng. Luộc
măng kỹ với ít nhất 3 lần nước sôi, rồi rửa lại với nước lã cho sạch. Cắt bỏ
phần cứng và dai. Khoét bỏ phần vắt ngăn giữa ống măng.
Trộn đều thịt heo xay với muối, nước mắm, hành tím, tiêu, nửa phần
hành lá thái nhỏ và 1 muỗng canh bột mỳ. Để hỗn hợp sang một bên khoảng
Vị chính trong các món ăn ở Lào là vị cay của ớt. Do đó muối ớt là
một loại đồ chấm đơn giản và khá phổ biến trong các bữa ăn thường ngày
cũng như trong các dịp tết, lễ hội của người dân nơi đây. Muối ớt có thể
chấm được tất cả các loại thức ăn từ xôi đồ cho tới các món luộc, nướng,
rán… Do vậy, khi không có điều kiện chế biến các loại nước chấm khác thì
đĩa muối ớt trở thành thứ không thể thiếu trong mỗi bữa cơm của người Lào.
Để làm được một đĩa muối ớt ngon cần phải có muối trắng, hạt tiêu,
ớt. Người Lào cho muối giã cùng với ớt và hạt tiêu đã được nướng thơm, giã
nhỏ. Muối ớt có thể ăn với bất kỳ loại thức ăn nào cũng hợp.
Mắm Muok
Mắm Muok là loại nước chấm chỉ có riêng ở Lào, đó là loại nước
chắm được làm từ lòng cá trộn ớt, sả, hành … Lòng cá sau khi làm sạch
được chưng cùng với các loại gia vị. Mắm Muok thích hợp cho mọi món ăn
và là loại nước chấm phổ biến trong các bữa ăn của người Lào.
Mắm Cheo
Mắm Cheo là loại nước chấm rất đặc biệt của người Lào, gồm có da
trâu, ớt nướng, tỏi nướng, riềng nướng, đường cùng nhiều gia vị thảo mộc
trộn lẫn với nhau. Mắm Cheo chấm với các món nướng, luộc, hấp đều rất
hợp. Mắm có vị mặn, ngọt vừa phải, và thú vị hơn nữa khi thưởng thức
miếng da trâu dai dai, sần sật trong mắm Cheo.
Nước Chẻo
Là loại nước chấm thường dùng kém với cơm lam hoặc xôi. Nguyên
liệu chính gồm gan heo băm nhuyễn, lạc rang, bột năng, ớt, tỏi, hành, mắm,
muối, chanh. Gan heo sau khi được bằm nhuyễn và trộn với cá gia vị trên
đem nấu chin sẽ tạo ra một loại nước chấm sền sệt, mang đủ các vị đặc trưng
trong món ăn cảu người lào, tạo thành một loại nước dùng khiến món ăn đi
kèm trở nên đậm đà hơn.
2.3.2. Món ăn dịp lễ, Tết
Đối với các quốc gia Châu Á, mỗi khi Tết đến lại là một dịp để gia
đình sum họp, quây quần quanh bàn ăn ấm cúng. Những món ăn ngày Tết
roi rói. Tuy nhiên, nếu không quen ăn bạn vẫn có thể được mời thưởng thức
món lạp với phần thịt đã được làm chín.
Lạp là món ăn dễ kết hợp, có thể ăn kèm với xôi hoặc cơm lam đều
mang đến một vị ngon, thơm và vừa miệng. Hạt nếp Lào thong dài, trắng
trong, khi đồ lên vẫn còn giữ nguyên hình dáng và cái sắc trong lúc ban đầu.
Thế nhưng chớ tưởng là xôi khô, xôi cứng, nhón một nắm đưa lên miệng
mới thấy hết cái thơm dẻo quyện hòa với vị beo béo đặc trưng của xôi nếp
Lào sao mà tuyệt diệu. Món xôi này “đẩy đưa” cùng với vị bùi ngậy đậm đà
của lạp thì không còn gì tuyệt bằng.