Một số đặc điểm tăng trưởng hình thái và sinh lý của trẻ em mầm non Phường Đồng Xuân - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ BÍCH HÀ
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hoàng Quý Tỉnh - trường Đại
học Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
làm đề tài.
Qua đây tác giả cũng xin được cảm ơn tới toàn thể Ban Giám hiệu nhà
trường, các cô giáo, các bậc phụ huynh và các cháu Trường Mầm non bán
công Đồng Xuân – phường Xuân Hòa – thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tận
tình giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nói đến sự phát triển của mỗi con người là nói đến sự phát triển
đồng thời cả hai yếu tố thể chất và trí tuệ. Do vậy, một người muốn phát triển
tốt thì cần đồng thời quan tâm đến việc bồi dưỡng cả thể chất và trí tuệ nhằm
phát triển tốt các chức năng sinh lý. Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay, chúng ta không chỉ cần những người tài giỏi mà còn rất cần những người
khỏe và đẹp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các chỉ số sinh học và chức năng
sinh lý của các cơ quan của học sinh mầm non là rất cấp thiết cho việc hoạch
định những chiến lược sớm về con người và lựa chọn phương pháp giáo dục
đạt hiệu quả cao nhằm phát triển thế hệ tương lai một cách tốt nhất.
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh
học và trí tuệ, đã thu được nhiều thành tựu lớn nhằm phục vụ cho những
hoạch định phát triển con người cho tương lai để thu được những kết quả như
mong muốn.
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh
học và trí tuệ của người Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau. Năm 1975, cuốn
“Hằng số sinh học người Việt Nam” [64] do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng
làm chủ biên đã đưa ra các chỉ số sinh học của người Việt Nam ở các lứa tuổi.
Tiếp đó có rất nhiều công trình khác nghiên cứu về các chỉ số sinh học và trí
tuệ được công bố, nổi bật là các công trình của Tạ Thúy Lan [35], [36], [37],

- Sử dụng các công cụ thống kê để nghiên cứu mối tương quan giữa
một số chức năng hình thái và sinh lý của trẻ, mối tương quan giữa một số
yếu tố môi trường với sự phát triển hình thái của trẻ mầm non trong nghiên
cứu.
4. Những điểm mới của đề tài
- Các chỉ số hình thái và chức năng của trẻ em trường mầm non thuộc
phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
- Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hình thái và các chức
năng sinh lý ở lớp tuổi trẻ mầm non trong địa bàn nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đánh giá thực trạng sự tăng trưởng các chỉ số hình thái, trí tuệ của trẻ
em trường mầm non bán công Đồng Xuân – phường Đồng Xuân – thị xã
Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các số liệu nghiên cứu có thể làm đa dạng thêm vào phổ thông tin về
các chỉ số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các vấn đề chung về hình thái – thể lực cơ thể người
Hình thái và thể lực là các đặc điểm phản ánh tổng hợp của cơ thể, có
liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ của con người. Sự tăng
trưởng về hình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ
thể sống [4], [9].
Chiều cao đứng là một chỉ số phát triển thể lực quan trọng nhất và được
sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu nhân trắc học. Sự tăng trưởng chiều cao
mang tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính và môi trường sống.
Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể

nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học
Ludman, Nold và Volanski.
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2
tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ
thể và xử lý thống kê”. Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số
phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn
được sử dụng [63], [88].
Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm
các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước. Vấn đề nhân trắc học còn
được thể hiện qua các công trình của P.N. Baskirov – “Nhân trắc học”, Evan
Dervael – “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A.M. Aruwxon. Song song
với sự phát triển của bộ môn Di truyền, Sinh lý học, Toán học… việc nghiên
cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn. Vấn đề này được thể
hiện qua các công trình của X. Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M.
Sempé, G. Pédron, M.P. Rog – Pernot [82].
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng
về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng
có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [64].
Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn
chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich
Jumpert người Đức vào năm 1754. Công trình này được nghiên cứu theo
phương pháp cắt ngang (Cross – sectional study) được dùng phổ biến do có
ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện trên nhiều đối tượng cùng một lúc.
Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện trên
con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777. Đây là phương pháp rất tốt đã được
ứng dụng cho đến ngày nay. Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin
Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P. Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở
Pháp… Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh
dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới.
1.1.2. Nghiên cứu các chỉ số hình thái – thể lực ở Việt Nam

Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường
có một khung chiều cao nhất định, nó được xác định trong quá trình hình
thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc [41]. Ở nước ta, chiều cao đứng của
nam trưởng thành ở lớp tuổi 18 – 25 là 159,0

5,0 cm và của nữ là 149,0

4,0 cm [37]. Theo đề tài KX – 07 – 07 thì chiều cao của nam là 162,4

5,5
cm và ở nữ là 153,3

4,7 cm [62]. Như vậy, nam giới cao hơn nữ giới khoảng
9 cm, đây cũng là mức chênh lệch phổ biến của nhiều quần thể người trên thế
giới [28]. Tuy nhiên, không chỉ có sự khác biệt theo chiều cao giữa nam và nữ
mà giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về kích thước
này. Phải chăng, đây chính là ảnh hưởng của môi trường sống đến sự tăng
trưởng và phát triển của con người trong các giai đoạn phát triển khác nhau,
như nhiều tác giả đã nhận định [43] , [45], [47], [48], [57].
Các công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, khối lượng cơ thể
cũng thay đổi theo quy luật giống như tăng trưởng chiều cao. Cân nặng tăng
dần theo tuổi, sau đó, các chỉ số này giảm xuống ở các lớp tuổi cao. Giữa dân
cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về khối lượng trung bình
của cơ thể [43], [57]. Người miền Nam Việt Nam thường có khối lượng cơ
thể lớn hơn người miền Bắc [19], [33].
Chỉ số sinh học khác được nghiên cứu nhiều là vòng ngực. Đặc điểm
chung của tất cả các đối tượng là kích thước vòng ngực trung bình phát triển
cao nhất ở lớp tuổi từ 16 – 25 (đối với nữ) và 26 – 40 (đối với nam). Ở các
lớp tuổi sau đó kích thước vòng ngực giảm dần [50]. Các số liệu về vòng
ngực trung bình của các tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau. Theo dự án


1,50 và ở nữ là
19,13

1,67.
Tiếp đó là công trình nghiên cứu của Trịnh Bỉnh Dy và cộng sự [15],
[16] nghiên cứu về các thông số sinh học và đặc điểm chức năng sinh lý
người Việt Nam. Các tác giả cho rằng, con người sinh học sau khi bộ xương
đã hoàn tất quá trình tăng trưởng (khoảng 20 – 25 tuổi) thì hầu hết mọi chức
năng đều từ từ giảm dần. Đó là quá trình suy thoái chức năng, đặc trưng cho
sự già hóa sau 20 – 25 tuổi.
“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ
Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt
Nam trên cả ba miền của đất nước. Qua công trình này, tác giả đã nêu lên
được quy luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt
Nam [29].
“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam
trưởng thành trong thập niên 90’ do Trịnh Văn Minh và cộng sự [49] thực
hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp
tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 – 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam).
Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ
thể là với các hoạt động cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới. Trong khi đó, các
chỉ số khác có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại
cao hơn so với của nam.
Lê Nam Trà và cộng sự [60], [61], [62] trong đề tài KX 07 – 07 đã cho
thấy trong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng
trưởng. Tuy nhiên, mức độ thay đổi không nhiều như ở các lớp tuổi trước đó.
Đến tuổi 25 ở cả hai giới đều có các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng
thành.
Nguyễn Thị Đoàn Hương và cộng sự [32] tiến hành nghiên cứu thể lực

của 1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc 8 tỉnh đồng bằng Bắc bộ). Kết
quả cho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với
các số liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975” [64].
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [54] nghiên cứu ảnh hưởng của môi
trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ số sinh lý người đã cho thấy, khí
hậu khắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến đổi về
cấu trúc hình thái. Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu…
chỉ số Pignet, chỉ số Broca, Skelie của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn
so với các chỉ số này ở người Việt Nam. Tác giả cho rằng, đây là điểm đặc
trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm.
Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cộng sự [7] đã nghiên cứu thể lực
của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng qua đợt khám nghĩa vụ quân
sự. Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cân nặng,
vòng ngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng đã chững lại hay
vẫn còn tăng nhưng mức độ tăng không đáng kể.
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng [26] đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc
người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoan 1981 – 1985” trên 13223
người thuộc cả 3 miền của đất nước. Kết luận của công trình nghiên cứu này
là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm
ở nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có
phần trên của thân thuộc loại trung bình, hơi dài. Một số chỉ số nhân trắc hình
thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam.
Năm 1996, Trần Đình Long và cộng sự [40] qua nghiên cứu đặc điểm
sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội đã cho
thấy, từ 17 đến 18 tuổi sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt
hoặc chững lại. Điều này cũng có thể thấy trong công trình nghiên cứu trên
học sinh đến 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [45].
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng và cộng sự [27] trên sinh viên Đại
học y Hải Phòng cho thấy, thể lực của nam sinh viên từ 18 đến 25 tuổi phát
triển mạnh hơn của nữ cùng lớp tuổi.

Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân
thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên
[53]. Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự [44] đã nghiên cứu trên nữ
sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân năng trung
bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn của nữ sinh các vùng đồng
bằng và thành thị. Tác giả cho rằng, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này
là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện
kinh tế.
Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [44] nghiên cứu trên nam, nữ
học sinh từ 9 – 18 tuổi thuộc các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú
Thọ cho thấy, chiều cao và cân năng của các em tăng dần theo tuổi, chiều cao
tăng nhanh lúc 14 – 15 tuổi còn cân nặng tăng nhanh lúc 15 – 16 tuổi. Các chỉ
số chiều cao và cân nặng của học sinh nam, nữ trong nghiên cứu của các tác
giả này lớn hơn so với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam”
[64], nhưng lại nhỏ hơn kết quả nghiên cứu trên học sinh Hà Nội [39], Thái
Bình [45] và Hà Tây [33]. Thời tăng nhanh chiều cao và cân nặng của các nữ
sinh dân tộc ít người đến sớm hơn so với các dẫn liệu trong cuốn “Hằng số
sinh học người Việt Nam” nhưng muộn hơn so với học sinh Hà Nội và học
sinh Thái Bình từ 1 đến 2 năm.
Một số công trình nghiên cúu trong những năm gần đây của nhiều tác
giả [30], [38], [32] trên học sinh ở các tỉnh Nam Định, Thanh Hóa, thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy, sự biến đổi các chỉ số hình thái của học sinh cũng có
những đặc điểm chung như đã trình bày ở trên.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học
sinh Việt Nam khá phong phú. Tuy kết quả nghiên cứu về các chỉ số này
trong các công trình có khác nhau ít nhiều nhưng đều xác định được là chúng
biến đổi theo lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính. Trong quá trình phát triển
của trẻ em có giai đoạn nhảy vọt tăng trưởng. Mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt
ở các công trình tương đối thống nhất từ 13 -15 tuổi ở nam và 11 -13 tuổi ở
nữ. Có sự khác biệt về các chỉ số này giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và

Năm 2007, WHO tiếp tục công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ 2 cho trẻ
dưới 5 tuổi gồm các chuẩn về vòng đầu theo tuổi (vòng đầu/tuổi), Vòng cánh
tay trái duỗi theo tuổi (VCTTD/tuổi), bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu
cánh tay theo tuổi (BDLMDD CTĐCT/tuổi) và bề dày lớp mỡ dưới mỏm bả
theo tuổi (BDLMDD DMB/tuổi) [96]. Tiếp theo đó là chuẩn tăng trưởng của
trẻ ở tuổi học đường và người trưởng thành đã đánh dấu một mốc quan trọng
cho các nghiên cứu về ứng dụng của các kích thước nhân trắc để đánh giá
trình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [84].
1.2. Nghiên cứu về các chức năng sinh lý
1.2.1. Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu
Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho
toàn bộ cơ thể là hoạt động của hệ tuần hoàn. Trong đó tần số tim và huyết áp
động mạch là những chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn [63].
Tim có chức năng vừa hút máu vừa đẩy máu, là động lực chính của hệ
tuần hoàn. Công suất của tim phụ thuộc vào tần số co bóp và thể tích cơ tim.
Bởi vậy, tần số tim là một trong các chỉ số dùng để đánh giá hoạt động của hệ
tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người.
Tim co bóp tạo nên lực đẩy máu trong động mạch lại chịu lực cản của
mạch máu. Tuần hoàn máu có thể coi là kết quả của hai loại lực đối lập nhau:
lực đấy máu của tim và lực cản của động mạch. Trong đó, lực đẩy của tim đã
thắng nên máu chảy trong động mạch với một áp suất nhất định gọi là huyết
áp và một tốc độ nhất định. Nói cách khác, huyết áp là áp lực của máu tác
động lên thành mạch máu.
Huyết áp khi tim co và khi tim giãn không giống nhau. Huyết áp khi
tim giãn là huyết áp tối thiểu hay huyết áp tâm trương vì áp suất đẩy máu đi
trong mạch tăng cao khi tâm thất co và giảm khi âm thất giãn. Huyết áp trong
giai đoạn tim co có trị số lớn nhất nên gọi là huyết áp tối đa. Ngược lại, khi
tim giãn không có sức đẩy của tim nhưng tính đàn hồi của thành động mạch
gây áp lực đẩy máu đi. Vì vậy huyết áp trong giai đoạn tim giãn có trị số thấp
nhất nên gọi là huyết áp tối thiểu.

áp động mạch tăng dần theo lớp tuổi. Nghiên cứu trên những người trưởng
thành khác nhau về chủng tộc [42] cũng cho thấy, huyết áp động mạch của nữ
người Êđê cao hơn của nữ người Kinh.
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [73] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim
và huyết áp của người Việt Nam đã cho rằng, sau khi sinh, tần số tim và huyết
áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ. Huyết áp động mạch tăng đến 18
tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng lên. Tần số tim giảm dần đến tuổi
25 và ổn định đến tuổi 69. So với người Châu Âu và Châu Mỹ huyết áp người
Việt Nam thường thấp hơn.
Nghiêm Xuân Thăng [54] khi nghiên cứu thể lực của người Nghệ Tĩnh
lớp tuổi từ 18 – 25 đã nhận thấy, tần số tim, huyết áp động mạch chịu sự tác
động của môi trường sống, đặc biệt là khí hậu trong khu vực. Tần số tim tăng
khi nhiệt độ môi trường tăng. Nó biến đổi theo ngày, mùa và phụ thuộc vào
mức độ bức xạ. Tần số co bóp của tim về mùa hè cao hơn về mùa đông.
Ngoài ra, chỉ số này còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác như lao động,
trạng thái tâm lý…
Năm 1996, Trần Đỗ Trinh [63] nghiên cứu trên 367.843 người thuộc 7
vùng địa lý khác nhau đã cho thấy, chỉ số huyết áp trung bình của người Việt
Nam là 120/75 mmHg. Theo tác giả, huyết áp tăng tuổi, ở lớp tuổi từ 18 – 25
mức tăng chậm lại rồi tương đối ổn định ở tuổi trung niên. Về già huyết áp lại
tăng lên. Huyết áp của nam thường cao hơn của nữ, tuy sự chênh lệch không
nhiều, chỉ khoảng 1 – 3 mmHg.
Qua nghiên cứu huyết áp của các dân tộc Tây Nguyên, Đào Mai Luyến
[42] nhận thấy, dân tộc Êđê, Bana, Giarai có tần số tim và huyết áp động
mạch khác nhau, song các chỉ số này vẫn trong giới hạn bình thường. Trong
số các dân tộc này thì dân tộc Êđê có các chỉ số huyết áp tốt hơn cả. Cũng
giống như người Kinh ở cả 3 dân tộc huyết áp đều tăng dần theo tuổi.
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [39] cho thấy ở lớp tuổi học sinh phổ
thông tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi nhịp tim của nam và nữ
khác nhau.

Công trình của Đoàn Yên và cs [73] nghiên cứu nhịp thở, dung tích
sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79
tuổi. Các tác giả đã cho thấy, dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn
định, từ 30 tuổi trở đi nó bắt đầu giảm. Dung tích sống của người Việt Nam
nhỏ hơn so với người Âu, Mỹ.
Theo Nghiên Xuân Thăng [54], khí hậu có ảnh hưởng lên chức năng hô
hấp của cư dân Nghệ Tĩnh, trong đó tần số hô hấp và dung tích sống chịu ảnh
hưởng nhiều nhất của khí hậu.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tường và cs [67] cho thấy, dung tích
sống trung bình của lớp tuổi thanh niên đối với nam là 3,4 lít và đối với nữ là
2,5 lít. Chỉ số hô hấp tăng dần theo tuổi và đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi từ 20
đến 29, sau giai đoạn này nó giảm dần.
Theo nghiên cứu của Đào Mai Luyến [42] trên người Êđê và người
Kinh định cư ở Đăk Lăk thì dung tích sống của nam cao nhất là 4,11 lít và của
nữ cao nhất là 2,94 lít. Tác giả cho rằng, các chỉ số hô hấp tương quan thuận
với chiều cao và tương quan nghịch với tuổi. Ngoài ra còn có các công trình
nghiên cứu của Nguyễn Đình Hường và cộng sự trên người Hà Nội. Từ kết
quả của các nghiên cứu này họ đã xây dựng được các phương trình tính giá trị
bình thường của một số chỉ số, đồng thời khẳng định các chức năng thông khí
phổi trên người Việt Nam thấp hơn so với người Châu Âu.
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [39] trên học sinh từ 6 – 17 tuổi cho
thấy, dung tích sống của học sinh tăng dần theo lớp tuổi và ở nam tăng nhanh
hơn ở nữ. Theo tác giả, thời điểm tăng nhanh dung tích sống diễn ra cùng một
lúc với thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao.
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 217 trẻ (trong đó có 107 bé trai và 110
bé gái) trường mầm non bán công Đồng Xuân – phường Đồng Xuân – thị xã
Phúc Yên – Vĩnh Phúc có độ tuổi từ 4 đến 5 tuổi và phụ huynh của các trẻ
này. Các trẻ có trạng thái tâm lý và sức khỏe bình thường, không có các dị tật

- Chiều cao đứng: Được xác định bằng thước đo chiều cao gắn trên cân
y học Trung Quốc, có vạch chia đến 0,1 cm. Khi đo, học sinh ở tư thế đứng
thẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo bốn điểm
là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo. Tư thế đứng thẳng được xác
định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song
song với mặt bàn cân. Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet (cm).
- Trọng lượng cơ thể: Được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật có độ
chính xác đến 0,1kg. Đo xa bữa ăn. Khi cân mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ
quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn
chân sát nhau. Trước khi đo bất kì học sinh nào cân đều được chỉnh để đảm
bảo độ chính xác. Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam (kg).
- Vòng ngực trung bình: Được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức. Vòng ngực được đo ở tư
thế đứng thẳng bằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương
bả vai, phía trước quá mũi ức. Như vậy, chu vi đo thước tạo thành nằm trên
mặt phẳng ngang song song với mặt đất. Trước khi đo hướng dẫn đối tượng
hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo. Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của
Trung Quốc, không co giãn, có chia số tới mm. Đơn vị đo vòng ngực trung
bình là cm.
Để đánh giá thể lực của học sinh chúng tôi dùng các loại chỉ số:
- Chỉ số BMI (Body Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể, được
tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/[Chiều cao đứng (m)]
2

Đơn vị của chỉ số BMI là kg/m
2

- Chỉ số Pignet: Được tính bằng công thức
Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status