B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TH VINH
Sự PHáT TRIểN MộT Số CHỉ TIÊU
THể LựC, THể CHấT Và SINH Lý CủA HọC SINH
DÂN TộC THáI Và DÂN TộC KINH LứA TUổI 12 - 15
TạI HUYệN QUỳ HợP, TỉNH NGHệ AN
LUN VN THC S KHOA HC SINH HC
NGH AN - 2014
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TH VINH
Sự PHáT TRIểN MộT Số CHỉ TIÊU
THể LựC, THể CHấT Và SINH Lý CủA HọC SINH
DÂN TộC THáI Và DÂN TộC KINH LứA TUổI 12 - 15
TạI HUYệN QUỳ HợP, TỉNH NGHệ AN
Chuyờn ngnh: Sinh hc thc nghim
Mó s: 60.42.01.14
LUN VN THC S KHOA HC SINH HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS. TS. NGUYN NGC HI
NGH AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học cũng như gia đình
và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Sinh học,
phòng Đào tạo Sau đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Vinh.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hợi,
người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể chất
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu chỉ số IQ và học lực của học sinh
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 25
ii
3.1. Các chỉ số thể lực của học sinh
3.1.1. Chiều cao đứng của học sinh
3.1.2. Cân nặng của học sinh
3.1.3. Vòng ngực trung bình
3.1.4. Chỉ số BMI của học sinh
3.1.5. Chỉ số Pignet của học sinh
3.2. Các tố chất vận động
3.2.1. Tố chất nhanh
3.2.2. Tố chất mạnh
3.3. Một số chỉ số về chức năng một số hệ cơ quan
3.3.1. Tần số tim
3.3.2. Huyết áp động mạch
3.3.3. Tần số thở
3.3.4. Thời gian nín thở tối đa của học sinh
3.4. Chỉ số IQ và kết quả học lực của học sinh THCS
3.4.1. Chỉ số IQ
3.4.2. Kết quả học tập của học sinh
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHẦN PHỤ LỤC 74
Bảng 3.5. Sự phát triển vòng ngực trung bình của học sinh 35
Hình 3.7. Sự phát triển vòng ngực trung bình của học sinh 35
Hình 3.8. Sự khác nhau trong phát triển vòng ngực trung bình của học sinh
nam dân tộc Kinh và dân tộc Thái tỉnh Nghệ An 36
Hình 3.9. Sự khác nhau trong phát triển vòng ngực trung bình của học sinh nữ
dân tộc Kinh và dân tộc Thái tỉnh Nghệ An 36
Bảng 3.6. VNTB (cm) của học sinh theo nghiên cứu của một số tác giả 38
Bảng 3.7. Sự biến đổi chỉ số BMI của học sinh 39
v
Hình 3.10. Sự biến đổi chỉ số BMI của học sinh 39
Hình 3.11. Sự khác nhau về chỉ số BMI của học sinh nam dân tộc Kinh và
dân tộc Thái huyện Quỳ Hợp 40
Hình 3.12. Sự khác nhau về chỉ số BMI của học sinh nữ dân tộc Kinh và dân
tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp 40
Bảng 3.8. Chỉ số BMI (kg/m2) của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả42
Bảng 3.9. Sự biến đổi chỉ số Piget của học sinh 42
Hình 3.13. Sự biến đổi chỉ số Pignet của học sinh 43
Hình 3.14. Sự khác nhau về chỉ số Pignet của học sinh nam dân tộc Kinh và
dân tộc Thái huyện Quỳ Hợp 43
Hình 3.15. Sự khác nhau về chỉ số Pignet của học sinh nữ dân tộc Kinh và
dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp 44
Bảng 3.10. Sự biến đổi tố chất nhanh của học sinh 46
Hình 3.16. Sự biến đổi tố chất nhanh của học sinh 46
Bảng 3.11. Sự biến đổi tố chất mạnh của học sinh 47
Hình 3.17. Sự biến đổi tố chất mạnh của học sinh 47
Bảng 3.12. Sự biến đổi tố chất dẻo của học sinh 48
Hình 3.18. Sự biến đổi tố chất dẻo của học sinh 48
Bảng 3.13. Sự biến đổi tần số tim của học sinh 49
Hình 3.19. Sự biến đổi tần số tim của học sinh 49
Bảng 3.14. Sự biến đổi huyết áp tâm thu của học sinh 50
nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên, dậy thì, trưởng thành, trung niên, lão
hóa và tử vong; trong đó giai đoạn phát triển dậy thì chiếm vị trí quan trọng.
Tuổi dậy thì đánh dấu sự kết thúc của thời niên thiếu và chuẩn bị bước sang
tuổi trưởng thành. Đây là bước ngoặt có vai trò hết sức quan trọng biến đổi cả
về lượng và chất.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái con người nói chung và lứa tuổi học
sinh nói riêng ở các chỉ số: chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình…sẽ
đánh giá được tốc độ phát triển của con người trong mỗi giai đoạn, đồng thời
là dữ liệu chứng minh cho mối quan hệ phụ thuộc sự phát triển cơ thể với điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Sự phát triển cơ thể con người có mối liên quan mật thiết với các yếu tố
tự nhiên, xã hội của môi trường sống như: chế độ dinh dưỡng, cơ sở vật chất,
thời tiết, khí hậu, mức độ ô nhiễm môi trường cũng như trình độ, ý thức, tình
cảm phương pháp nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
Bên cạnh đó, guồng quay của nền kinh tế thị trường, nhịp sống đô thị,
ảnh hưởng của phim ảnh, sách báo trong thời đại bùng nổ công nghệ thông
tin… cũng đang từng ngày, từng giờ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển
1
của trẻ em. Trẻ em dậy thì sớm hơn, trưởng thành về mặt sinh học nhanh hơn
so với trưởng thành về mặt nhận thức xã hội. Đã có những trường hợp trẻ bỏ bê
học hành, yêu đương sớm, có thai ngoài ý muốn…gây đau đầu cho các bậc phụ
huynh, nhà trường và xã hội. Nghệ An là một tỉnh lớn, là một trong những
trung tâm văn hóa kinh tế chính trị của vùng B•c Trung Bộ, môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội đa dạng, phong phú, là nơi giao lưu của nhiều nền
văn hóa, điều đó không khỏi ảnh hưởng đến sự phát triển sinh lý trẻ em.
Vấn đề đó cần được làm rõ và tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giáo
dục trẻ em nhằm làm cho trẻ phát triển tốt và thuận lợi hơn, tránh những tiêu
cực, ảnh hưởng xấu của môi trường trong giai đoạn phát triển quan trọng
chuyển biến từ trẻ em sang người lớn. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Sự phát triển một số chỉ tiêu thể lực, thể chất và sinh lý của học sinh dân tộc
dạy về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi học đường
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và lợi ích cuộc sống của con người, việc
nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, tâm lí, trí tuệ của con người nói
chung và trẻ em nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm trên thế giới. Cuốn
sách đầu tiên viết về sự tăng trưởng chiều cao con người của Stocller được
xuất bản tại Đức năm 1729. Tác giả đã nghiên cứu học sinh quý tộc trường
Carxchile. Sau đó là hàng loạt các công trình khác của Mondiere (1875),
Beegon (1902), Thondihee (1903), Heman (1937), Freemon (1971), đã
nghiên cứu sự phát triển hình thái và trí tuệ trẻ em ở các lứa tuổi và địa
phương khác nhau.
Từ giữa thế kỉ XVIII, việc nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển ở
trẻ em b•t đầu được chú ý. Công trình đầu tiên nghiên cứu về thể lực của con
người là do Christian Friedrich Jumpert tiến hành vào năm 1754. Khi đó ông
đã nghiên cứu về chiều cao, cân nặng và một số chỉ tiêu khác của trẻ em từ 1
đến 25 tuổi. Kết quả của công trình này được giới nghiên cứu đánh giá cao
[60]. Cũng trong khoảng thời gian này Philibert Guerneau de Montbeilard thực
hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777. Đây là
phương pháp rất tốt đã được áp dụng cho đến nay. Sau đó còn có nhiều công
trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P. Bowditch ở
Mỹ… Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu
một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [60].
Năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới vì sức khỏe cộng đồng ra đời đã nghiên
cứu, đánh giá sự phát triển của trẻ em thông qua hai chỉ số chiều cao, cân nặng
và đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em.
4
Những năm 1960 nhiều nhà khoa học đã phát hiện ra hiện tượng “gia
thương số giữa trí tuệ (MA) và tuổi thực (CA) [55]. Meili R. sử dụng test trí
tuệ vào việc tư vấn nghề nghiệp và tư vấn học đường [56]. Với mục đích
chuẩn đoán trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em, người ta xây dựng nhiều loại
test đo lường trí tuệ khác như test “Trí tuệ đa dạng”, test “Khuôn hình tiếp
diễn” của Raven, test “WISC”, test “Hình thức hợp REY”. Người đầu tiên
nghiên cứu về trí tuệ là F.J.Gall, vào đầu thế kỷ XVII, ông đã đưa ra thuật ngữ
“não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên
biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não. Ngoài
ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của F.Galton (1893), Alled
Binnet và Simon (1905), Petersalovey và John Mager [32],
Philipôven (1975) đã chứng minh rằng hoạt động điện não đồ ở trẻ em
có nhiều dao động so với người lớn, đặc biệt là sóng bê-ta ở tuổi dậy thì, biên
độ sóng đạt tới 4 - 5 micro Vôn, tần số 10 - 12 Hz (nhanh hơn ở người lớn).
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý ở các lứa
tuổi được tiến hành từ những năm 30 của thế kỉ XX tại Ban nhân học thuộc
Viện Viễn Đông B•c Cổ. Kết quả nghiên cứu được công bố tập trung trong 9
số kỉ yếu phân khoa Nhân học (1936 - 1944) gồm nhiều loại kích thước của
các đoạn thân thể theo tuổi và thành phần khác nhau, đặc biệt là kích thước
của bộ xương người Việt Nam hiện đại.
Sau ngày miền B•c giải phóng và nhất là sau ngày đất nước thống nhất,
các công trình khoa học thuộc mọi lĩnh vực được đẩy mạnh và thu được nhiều
thành tựu to lớn. Trong các nghiên cứu về chỉ tiêu hình thái ở người lớn, Đỗ
Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền có một số công trình có tính hệ thống và
6
toàn diện như: "Hằng số sinh học người Việt Nam" (1967), "Bàn về những
hằng số giải phẫu nhân học người Việt Nam và ý nghĩa đối với y học" (Một
số chuyên đề y học, 1967). Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá đã được nhiều tác
giả nghiên cứu, nổi bật trong đó là "Hằng số sinh học người Việt Nam" - công
trình đúc kết nhiều năm nghiên cứu của các tác giả Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn
của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luật
gia tăng chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4cm/20 năm). Vòng ngực tăng
nhanh nhất ở nam lúc 13-16 tuổi và ở nữ lúc 11-14 tuổi.
Năm 1992, Trịnh Văn Minh và cs đã tiến hành điều tra một số chỉ số
nhân tr•c trên 1309 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Minh, Hà Nội
và tại phường Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội [51]. Kết quả đáng chú
ý qua hai cuộc điều tra này là các kích thước nhân tr•c cũng như các chỉ số
thể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19- 20 ở nữ và 22 tuổi ở nam.
Cũng năm này, Trần Thiết Sơn và cs chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứ
nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực. Kết quả
cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình và có chiều cao
trung bình (nam 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn so với thanh niên Việt
Nam cùng lứa tuổi [52].
Năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs nghiên cứu trên
13747 học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình
về các chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình [12]. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, so với số liệu trong cuốn “HSSH” [62] thì sự phát triển
chiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã,
nhưng sự gia tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở khu vực nông
thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể. Học sinh thành phố và thị xã có xu
hướng phát triển thể lực tốt hơn so với ở nông thôn.
8
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân tr•c của
người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoan 1981-1985” trên 13223
người thuộc cả 3 miền đất nước. Kết luận của công trình nghiên cứu này là
người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm ở
nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới. Một số chỉ số
nhân tr•c hình thái có số đo trung bình tăng dần từ B•c vào Nam.
Năm 1996, Trần Đình Long và cs qua nghiên cứu đặc điểm sự phát
triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội đã cho thấy, từ
Các tác giả còn nhận thấy, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi
trường [4], [38], [67], [68]. Dưới tác động của yếu tố di truyền và điều kiện
sống, đã diễn ra quá trình cải tổ về mặt hình thái, chức năng làm cho cơ thể
trẻ em ngày càng hoàn thiện.
Việc nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em đã được
nhiều tác giả thực hiện [5], [11], [17], [21], [39], [42], [43], [61], [62]. Theo
các tác giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự giảm dần đó có liên
quan đến hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thần
kinh ngoài tim. Tần số tim có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể, khí hậu,
bệnh lí.
Khi nghiên cứu trên trẻ em trước tuổi đến trường và trẻ em tuổi học
đường, nhiều tác giả đã nhận thấy, huyết áp động mạch của học sinh tăng dần
theo tuổi nhưng tăng không đều, thời điểm huyết áp tăng nhảy vọt ở nữ là 9 -
12 tuổi, ở nam là 9 - 13 tuổi [15], [16], [42], [43], [49], [68]. Một số tác giả
cho rằng, có sự khác biệt huyết áp theo giới tính. Ở các châu lục khác nhau,
huyết áp động mạch của trẻ em cũng khác nhau. Nghiên cứu của các tác giả
10
cho thấy, huyết áp động mạch phụ thuộc rất nhiều vào di truyền và yếu tố
dinh dưỡng [16], [43], [62]. Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về tần số tim và huyết áp của trẻ em. Theo số liệu trong “HSSH” [62], thì
huyết áp động mạch của trẻ em từ 3 - 15 tuổi tăng dần. Huyết áp của nam cao
hơn của nữ cùng tuổi. Huyết áp thay đổi theo tư thế của trẻ khi đo, khi đứng
cao hơn khi nằm và ngồi.
Năm 1993, Đoàn Yên và cs nghiên cứu tần số tim và huyết áp của
người Việt Nam, nhận thấy từ sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch
biến đổi có tính chất chu kỳ. Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn
định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần, còn tần số tim lại giảm dần cho đến 25 tuổi,
sau đó ổn định đến 69 tuổi. Huyết áp động mạch trên người Việt Nam ở mọi
lứa tuổi thấp hơn so với người Âu, Mỹ [68].
và thể chất của trẻ em và học sinh miền đồng bằng, thành phố Vinh và miền
núi Nghệ An" của Nghiêm Xuân Thăng, Nguyễn Ngọc Hợi, Ngô Thị Bê,
Hoàng Thị Ái Khuê[25], [26], [27], “Nghiên cứu sự phát triển hình thái, thể
lực của học sinh 6 - 17 tuổi ở Thừa Thiên Huế của Lê Đình Vấn (2002)”
[67], Đặc biệt đề tài cấp Nhà nước "Đặc điểm sinh thể, tình trạng dinh
dưỡng của người Việt Nam và biện pháp nâng cao chất lượng sức khoẻ" do
trường Đại học Y Hà Nội chủ trì mang mã số KX07 đã góp phần to lớn vào
việc nghiên cứu con người Việt Nam [28].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về sự phát triển thể lực, thể chất
của trẻ em, còn có rất nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu sự phát triển trí tuệ, tư
duy của trẻ g•n liền với sự phát triển sinh lý, đặc biệt là sự phát triển của bộ
não của trẻ.
Các công trình của Hoàng Xuân Hinh (1971), Phạm Hoàng Gia (1977),
Trần Cường, Trọng Thuỷ (1989) [55], Tạ Thuý Lan (1993) [33] đã cho thấy
12
sự phát triển năng lực trí tuệ và tư duy của trẻ qua nhiều giai đoạn. Năng lực
tư duy trừu tượng g•n liền sự phát triển vốn từ của trẻ. Vốn từ của trẻ phát
triển thuận lợi nhất từ 2 - 3 tuổi. Muốn cho trẻ phát triển vốn từ chúng ta cần
cho trẻ tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh.
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam còn mới mẻ. Trước năm 1975
nghiên cứu về trí tuệ chỉ mới hạn chế trong ngành y tế do các cán bộ ngành y
tế thực hiện nhằm mục đích chuẩn đoán bệnh tâm thần ở một số bệnh viện.
Trước những năm 80, ở Miền B•c vấn đề dùng test rất ít được phổ biến, việc
sử dụng toán thống kê trong nghiên cứu tâm lý học còn rất ít [1], [2]. Kết quả
nghiên cứu của các công trình [1], [22], [23], [24], [30], [32], [33], [34], [36],
[53], [55] cho thấy, có thể sử dụng test Raven để chuẩn đoán khả năng hoạt
động trí tuệ của trẻ em Việt Nam.
Từ thập kỉ 80 đến nay các công trình nghiên cứu về trí tuệ ngày càng
nhiều. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Thủy [55], [56],
Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng [53], Bùi Văn Huệ [28], Trần Thị Loan [40], [41],…
chẽ. Môi trường tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng nhất định đến năng lực trí
tuệ của học sinh, sinh viên [35].
Mai Văn Hưng (2003) đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực
trí tuệ của sinh viên một số trường đại học phía B•c Việt Nam. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, các chỉ số thể lực tương quan thuận với năng lực trí tuệ [29].
Tạ Thúy Lan, Mai Văn Hưng (1991) nghiên cứu trí tuệ của học sinh
Thanh Hóa cũng nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và
năng lực trí tuệ của học sinh có mối tương quan thuận với học lực [36]. Trần
Thị Loan (2002) nghiên cứu phát triển trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ học sinh diễn ra liên
tục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt theo giới [43]. Trí tuệ và
học lực của học sinh có mối tương quan thuận nhưng không chặt chẽ.
Nhiều tác giả đã sử dụng các hình thức tr•c nghiệm trí thông minh để
nghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ. Cho đến nay, một số hình thức
test trí tuệ đã và đang được thích nghi hoá và sử dụng ở Việt Nam. Hai cơ sở
14
quan trọng nhất trong lĩnh vực này là Viện tâm sinh lý lứa tuổi thuộc Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội với
nhiều đề tài trọng điểm. Trong các loại hình tr•c nghiệm đó, tr•c nghiệm
Gille, tr•c nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Ra-ven (Test Ra-ven) đã được
ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả (Võ Văn Toàn - 1995, Trần Trọng Thuỷ -
2001, Võ Thị Chí, Lưu Thị Minh Trí - 2001). Test Ra-ven được xây dựng trên
cơ sở hai thuyết: thuyết tri giác hình thể tâm lý học Ghetxytan và thuyết "tâm
phát sinh" của Speaman. Sau nhiều lần chuẩn hoá vào các năm 1954, 1956
đến năm 1960, test Ra-ven được UNESCO chính thức sử dụng để chuẩn hoá
trí tuệ của con người. Đây là loại hình tr•c nghiệm phi ngôn ngữ được dùng
để đo năng lực tư duy trên bình diện rộng nhất và được sử dụng rộng rãi trên
nhiều đối tượng. Số liệu thu được cho phép chuyển đổi thành chỉ tiêu đánh giá
trí tuệ tổng quát. Có thể nói Test Ra-ven là công cụ s•c bén cho việc đánh giá
mức độ phát triển trí tuệ [7], [57], [58].
• Độ ẩm tương đối trung bình: 86-87%.
• Vĩ độ: 18°33′ đến 19°25′ vĩ B•c.
• Kinh độ: 102°53′ đến 105°46′ kinh Đông.
Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và
ven biển. Phía Tây là dãy núi B•c Trường Sơn. Tỉnh có 10 huyện miền núi,
trong số đó 5 huyện là miền núi cao. Các huyện miền núi này tạo thành miền
Tây Nghệ An. Có 9 huyện trong số trên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển
miền tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế
giới. Các huyện, thị còn lại là trung du và ven biển, trong đó Quỳnh Lưu,
Diễn Châu, Nghi Lộc, và Cửa Lò giáp biển.
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng B•c Trung Bộ, trên tuyến giao
lưu B•c - Nam và đường xuyên Á Đông - Tây, cách thủ đô Hà Nội 300 km về
16