Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ CẨM NHUNG SỰ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI,
TRÍ TUỆ VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ
TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
tới những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn cũng như trong
suốt quãng thời gian học tập.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau đại học, Bộ môn
Sinh học thực nghiệm Trường Đại học Vinh, Ban giám hiệu các trường mầm
non Quang Trung 2, Bến Thủy, Nghi Kim đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành nhất tới PGS. TS. Hoàng Thị Ái Khuê, người cô không chỉ trực
tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn, mà còn luôn tận tình dạy dỗ,
chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và
làm việc.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Bố, mẹ, anh,
chị, những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Những người đã
luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập
và thực hiện đề tài.

Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Lê Thị Cẩm Nhung
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Nội dung nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

3.1.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu 40
3.1.2. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 40
3.1.3. Các chỉ tiêu hình thái của trẻ em từ 3 - 5 tuổi 42
3.1.4. Trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non 55
3.1.5. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 58
3.2. Bàn luận 69
3.2.1. Sự phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành
phố Vinh. 69
3.2.2. Sự phát triển chỉ số trí tuệ của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành phố Vinh. 73
3.2.3. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành phố Vinh. 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1. Kết luận 78
2. Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Chỉ số cân nặng theo tuổi với Z-Sore 21
Bảng 1.2. Chỉ số cao theo tuổi với Z-Sore 21
Bảng 1.3. Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Sore 22
Bảng 1.4. Phân loại mức độ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng
theo WHO 22
Bảng 1.5. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo khu vực trên thế giới 24
Bảng 1.6. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2011 (*) 26
Bảng 1.7. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2012 (*) 27
Bảng 2.1. Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ 39
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.2. Một số đặc điểm liên quan đến đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.3. Chiều cao đứng trẻ em nam 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 42
Bảng 3.4. Chiều cao đứng trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và

non 67
DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 1.1. Số ca suy dinh dưỡng trên thế giới qua các năm (*) 24
Biểu đồ 3.1. Chiều cao đứng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 43
Biểu đồ 3.2. Chiều cao ngồi trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 46
Biểu đồ 3.3. Cân nặng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 49
Biểu đồ 3.4. Vòng ngực trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 51
Biểu đồ 3.5. Vòng đầu trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 52
Biểu đồ 3.6. Chỉ số BMI của trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 54
Biểu đồ 3.7. Chỉ số IQ của trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 56
Biểu đồ 3.8. Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Quang Trung 2 58
Biểu đồ 3.9. Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Bến Thủy 59
Biểu đồ 3.10. Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Nghi Kim 59
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại
thành phố Vinh 60
Biểu đồ 3.12. Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Quang Trung 2 62
Biểu đồ 3.13. Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Bến Thủy 62
Biểu đồ 3.14. Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường
mầm non Nghi Kim 63
Biểu đồ 3.15. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại
thành phố Vinh 64
Biểu đồ 3.16. Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm
non Quang Trung 2 65
Biểu đồ 3.17. Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm

Thành phố
TTDD
Tình trạng dinh dưỡng
UNICEF
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
VDD
Viện dinh dưỡng
WHO
World Health Organizatinon (Tổ chức Y tế thế giới)
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta.
Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm về thể lực, trí
tuệ, và tâm sinh lý của trẻ em. Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ
của trẻ em luôn có ý nghĩa quan trọng.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con
người có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã
hội và môi trường tự nhiên [11], [36]. Do đó, các chỉ số thể lực, trí tuệ của
con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành nghiên cứu
thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định.
Đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về thể lực, chức năng sinh lý,
năng lực trí tuệ của người Việt Nam [6], [9], [13], [14],… Tuy nhiên, những
nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non còn ít và chủ yếu là
nghiên cứu về chức năng sinh lý, tình trạng dinh dưỡng. Việc nghiên cứu các

Thành phố Vinh đã thu được nhiều kết quả đáng được ghi nhận. Đó là tỷ lệ
suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn mỗi năm qua đều giảm liên tục
và bền vững. Năm 2013, tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi tại Thành phố
Vinh là 11%. Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế giao cho tỉnh Nghệ An phấn đấu năm
2015 tỉ lệ SDD chỉ còn 15% [61]. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để
đánh giá dinh dưỡng của trẻ Mầm non 3 - 5 tuổi tại một số phường/xã thuộc
Thành phố Vinh năm 2014.
Với số lượng trẻ mầm non ngày càng gia tăng như vậy mà cho đến
nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi
mầm non tại thành phố Vinh để có thể dựa vào đó đề ra biện pháp góp phần
nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở
địa bàn này. 3
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sự phát
triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 - 5
tuổi tại thành phố Vinh” với mong muốn góp phần vào việc định hướng các
biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ khoa học, thích hợp hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Đánh giá sự phát triển của một số chỉ số hình thái và trí tuệ ở trẻ
em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh.
2.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ tiêu hình thái và phân loại tình
trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh:
- Chọn mẫu nghiên cứu: chọn 1.152 trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh.
- Tiến hành đo một số chỉ tiêu hình thái gồm: chiều cao đứng, chiều cao
ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu.
- Xác định chỉ số đánh giá thể lực: BMI.

nhanh hay ức chế, kìm hãm sự sinh trưởng tùy theo từng giai đoạn. Ở giai
đoạn phát dục, cơ thể thường lớn nhanh, biến đổi nhiều; có tính chất nhảy vọt
về cả hình thái và chức năng sinh lý. Đến giai đoạn trưởng thành thì sự sinh
trưởng bị chậm lại và đến thời kì lão hóa thì cơ thể suy thoái [28].
- Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các
thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng
của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt
động xã hội [28].
- Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc
điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể
phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. 5
- Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết
làm ảnh huởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của
cơ thể.
- Suy dinh dưỡng thấp còi được phản ánh bằng chỉ tiêu chiều cao theo
tuổi thấp do sự chậm tăng trưởng của trẻ dẫn đến không đạt được chiều cao
cần có của một đứa trẻ cùng tuổi ở quần thể tham khảo. Thể còi cọc là một
biểu hiện của sự chậm phát triển kéo dài hoặc một dấu hiệu của sự chậm lớn
trong quá khứ.
- Suy dinh dưỡng nhẹ cân phản ánh cả sự chậm của quá trình tăng
trưởng trong tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài cũng như tình trạng thiếu
dinh dưỡng tại thời điểm đó. Chỉ tiêu này có ích cho việc xác định mức độ
chung về quy mô của thiếu dinh dưỡng và các thay đổi theo thời gian. Các số
liệu cân nặng theo tuổi thường dễ có hơn vì chúng thường dùng để theo dõi sự
tăng trưởng của trẻ em.
- Suy dinh dưỡng thể gầy còm là hiện tượng xảy ra khi chỉ tiêu cân
nặng theo chiều cao của trẻ tụt xuống thấp đáng kể so với trị số nên có ở quần

giáo độc lập hơn các trẻ tuổi chập chững. Trẻ có thể diễn đạt các nhu cầu của
mình bằng ngôn ngữ.
Trẻ em 3 tuổi đi được bằng mũi chân, đứng bằng một chân, đi xe đạp 3
bánh, xếp được các hình khối, cao hơn năm trước khoảng 8cm, có thể trao đổi
các nhu cầu, kiến và câu hỏi của mình. Ngoài ra trẻ em ở giai đoạn này đã tập
trung hơn để có thể tham gia các hoạt động theo nhóm và học hỏi được rất
nhanh qua thực hành.
Đến 4 tuổi trẻ bắt đầu điều khiển được các cơ nhỏ, chạy nhanh, nhảy lò
cò,có thể ném bóng, tự mặc quần áo, thích viết các chữ cái, hoạt bát và dễ nổi
giận trong khi chơi. Ngoài ra trẻ bắt đầu nói nhiều, tham gia vào các cuôc
thảo luận nghiêm túc và bắt đầu hiểu một số khái niệm cơ bản như số, kích
thước, màu sắc, khoảng cách, thời gian, vị trí. 7
Đến 5 tuổi trẻ có thể kiểm soát, phối hợp vận động các nhóm cơ lớn,
có thể hiểu và biết cách thực hành vệ sinh cá nhân. Ở giai đoạn này trẻ bắt
đầu thể hiện một số hiểu biết ban đầu về việc đọc, viết và biết cách thể hiện
khả năng sang tạo của bản thân.
Hiện nay có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển cá thể của con
người. Các tác giả như Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan [22], Đức Minh và một
số tác giả khác chấp nhận cách phân chia của Viện Hàn Lâm sư phạm Liên
Xô, vì nhận thấy cách phân chia này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của người
Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt Nam. Theo
các tác giả, thì lứa tuổi mầm non gồm hai giai đoạn: giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi
(giai đoạn tuổi thơ sớm hay tuổi vườn trẻ) và giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi (giai
đoạn tuổi thơ đầu hay tuổi mẫu giáo). Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển của trẻ
em có những đặc điểm riêng.
Ở trẻ em từ 3 đến 6 tuổi chiều cao và khối lượng cơ thể phát triển chậm
hơn giai đoạn trước. Tốc độ tăng vòng đầu và vòng ngực cũng chậm hơn [22].

BMI, để đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của một cơ thể.
Với mục đích xác định những đặc tính quan trọng, đặc trưng cho
những giai đoạn khác nhau của sự sinh trưởng, phát triển ở con người, các
nhà khoa học đã chia quá trình sinh trưởng và phát triển thành nhiều giai
đoạn và thời kì khác nhau: phát triển phôi, sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi
đồng, thiếu niên, dậy thì, trưởng thành, trung niên, lão hóa và tử vong. Cơ sở
để phân chia các thời kì của giai đoạn phôi thai là sự phân hóa, biệt hóa tế
bào, hình thành các mô và cơ quan. Cơ sở để phân chia các giai đoạn, thời kì
của cơ thể sau khi sinh là các dấu hiệu đặc trưng về hình thái và sinh lý như:
sự mọc răng, sự cốt hóa các phần khác nhau của bộ xương, hoạt động của
các tuyến nội tiết, sự phát triển một số đặc điểm hình thái, sinh lý, sự biến
đổi các đặc điểm tâm lí, 9
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển
1.2.3.1. Các yếu tố nội tiết và di truyền
* Nội tiết: Các hormon tham gia quá trình điều hoà phát triển cơ thể [35].
- Hormon tăng trưởng (GH) được bài tiết từ khoảng tuần thứ 9 thời kỳ
phôi, từ đó hormon tăng tiết dần nhưng vai trò của nó với sự phát triển thai
chưa rõ, GH của tuyến yên đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tăng
trưởng của trẻ từ khi sinh đến lúc trưởng thành.
- Somatomedine: Là hormon có tác dụng hiệp đồng với GH trong quá
trình tăng trưởng. Người ta thấy GH không tác dụng trực tiếp lên sụn của cơ
thể mà thông qua somatomedine, sinh tổng hợp somatomedine lại phụ thuộc
vào GH. Như vậy, somatomedine và GH gắn kết chặt chẽ với nhau, giúp cơ
thể tăng trưởng bình thường.
- Hormon tuyến giáp: Là T
3
và T

có tác dụng làm tăng quá trình tạo xương.
- Hormon sinh dục: Testosteron do tế bào Leydig của tinh hoàn bài
tiết, vai trò của nó là biệt hoá trung khu điều hoà chức năng sinh dục của
vùng dưới đồi. Estrogen do buồng trứng bài tiết, hormon này tham gia điều
hoà sự phát triển cơ thể và làm xuất hiện, duy trì và phát triển các đặc tính
sinh dục ở nữ. 10
- Cortisol và các Glucocorticoid khác do lớp bó của tế bào vỏ thượng
thận tiết ra. Với nồng độ bình thường thì các hormon này góp phần làm tăng
trưởng, nếu nồng độ tăng trong máu sẽ làm chậm tăng trưởng.
* Yếu tố di truyền bao gồm: Giống nòi, chủng tộc, các yếu tố gen và
các bất thường bẩm sinh.
- Tăng trưởng chiều cao của cơ thể con người cũng chịu sự chi phối bởi
yếu tố di truyền. Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân
tộc thường có một khung chiều cao nhất định, chiều cao này được xác định
qua quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc.
- Chiều cao cũng như một số tính trạng khác như: Độ thông minh, màu
da, nếp vân tay được chi phối bởi nhiều cặp gen tương ứng, các gen này có thể
nằm trên cùng một cặp hoặc nằm trên các cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác
nhau. Hiện nay người ta chưa biết rõ gen nào chi phối chiều cao con người.
- Bên cạnh yếu tố di truyền, kích thước và thời gian tăng trưởng của trẻ
em cũng bị ảnh hưởng bởi giống nòi và chủng tộc. Phyllis Eveleth và Tanner
nghiên cứu chiều cao của trẻ em có nguồn gốc châu Âu (London), châu Á
(Hồng Kông) và châu Mỹ (Hoa Kỳ) nhận thấy trẻ em châu Âu và châu Mỹ có
chiều cao tương tự nhau, còn trẻ em châu Á thấp hơn hẳn.
1.2.3.2. Yếu tố môi trường xã hội
* Dinh dưỡng:
- Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy dinh dưỡng hầu như giữ vai trò

muộn đều ảnh hưởng đến phát triển thể chất của trẻ. TCYTTG khuyến cáo
thời điểm cho ăn bổ sung tốt nhất là từ 6 tháng, chỉ cho trẻ từ 4-6 tháng ăn
thêm nếu sau khi bú mẹ mà trẻ còn đói lên cân chậm.
+ Chất lượng thức ăn: thức ăn bổ sung phải phù hợp với lứa tuổi và nhu
cầu của trẻ. Nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung thức ăn đến sự phát triển
thể chất đã được nhiều tác giả đề cập đến [12]. 12
* Gia đình
Theo Daniels R.S. và Smith R. thì từ khi trẻ được sinh ra, được nuôi
dạy cho tới lúc lớn và lúc trưởng thành, mỗi cá thể đều có một mối quan hệ
mật thiết với gia đình. Do đó chất lượng cuộc sống trong mỗi gia đình có sự
liên quan mật thiết đến quá trình phát triển thể chất, tâm lý và vận động của
trẻ. Một trẻ có cân nặng thấp khi sinh, nếu người mẹ đẻ nhiều con, nhà ở chật
chội, kinh tế gia đình khó khăn không đủ khả năng nuôi dưỡng, trẻ bị tiêu
chảy nhiều lần, không được sự chăm sóc đầy đủ của y tế, thức ăn thiếu chất
đều là những yếu tố góp phần tác động lên sự phát triển của trẻ. Nếu những
yếu tố trên càng nhiều ở một trẻ thì trẻ đó có xu hướng bị suy dinh dưỡng.
* Bệnh tật: Các bệnh về chuyển hoá, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim
mạch, tiêu hoá đều ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa sự phát triển
của trẻ với bệnh tật nhất là bệnh nhiễm khuẩn, chuyển hoá.
1.3. Các chỉ số hình thái của trẻ em lứa tuổi mầm non
Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng
trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người. Để đánh giá
sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều
cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều
cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các chỉ
số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số

Chi và cs [6] có thể tính gần đúng chiều cao của trẻ trên 1 tuổi theo công
thức sau:
X (cm)= 75cm+ 5cm (n-1)
X là chiều cao của trẻ trên một tuổi
75cm là chiều cao của trẻ lúc 1 tuổi
5cm là chiều cao trung bình mỗi năm
n là số tuổi 14
* Sự phát triển chỉ số vòng đầu, vòng ngực:
+ Vòng đầu là một kích thước hay được dùng trong nhân trắc đặc
biệt ở trẻ em. Đo vòng đầu cho phép gián tiếp đánh giá khối lượng não.
Khi mới đẻ, đầu tương đối to so với kích thước cơ thể. Vòng đầu của trẻ
tăng nhanh trong năm đầu tiên, ở trẻ trai tăng thêm 12,24cm và ở trẻ gái
11,29cm. Bắt đầu từ năm thứ hai trở đi vòng đầu tăng chậm, từ 6 đến 10
tuổi mức tăng trưởng trung bình của vòng đầu hàng năm của trẻ dưới
0,5cm. Theo Hằng số sinh học người Việt Nam (1975), vòng đầu trung
bình của trẻ em Việt Nam.
+ Vòng ngực là kích thước cũng hay được dùng trong nhân trắc, vì nó
tượng trưng cho sự phát triển về chiều ngang (rộng + dầy) của thân mình và
cho phép đánh giá thể lực của một người. Lúc mới đẻ bằng vòng ngực bằng
hoặc nhỏ hơn vòng đầu khoảng 1cm. Sau khi đẻ vòng ngực lớn nhanh hơn
vòng đầu, lúc 6 tháng vòng ngực bằng vòng đầu, sau đó vòng ngực lớn vượt
vòng đầu. Từ 2 đến 6 tuổi vòng ngực lớn hơn vòng đầu 2cm.
1.4. Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người. Theo
tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ (theo [32]).
Theo từ điển tiếng Việt, trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình
độ nhất định. Tựu chung lại có ba khuynh hướng chính quan niệm về trí tuệ

đích của các trắc nghiệm trí tuệ là xác định chỉ số thông minh, mức trí tuệ
Năm 1912, W. Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh
(Intelligence Quotient) viết tắt là IQ, bằng thương số giữa tuổi trí tuệ (MA -
Mental Age) và tuổi thực (CA - Chrorological Age) (theo [26]).

100
MA
IQ
CA


Trong đó:
MA - tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm; CA -
tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh.

Trích đoạn Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu ở Việt Nam Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái Phương pháp nghiên cứu trí tuệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status