đặt vấn đề
Suy dinh dưỡng (SDD) trong hai năm đầu tiên của cuộc đời để lại hậu
quả khó hồi phục về sau, đặc biệt làm tăng nguy cơ bị các bệnh rối loạn
chuyển hoá nh bÐo trệ và tiểu đường. Trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị suy dinh
dưỡng nhất đó là thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao và là thời kỳ rất nhạy
cảm với các bệnh tật. Thiếu kiến thức thực hành nuôi con hợp lý là một trong
những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ, các
yếu tố khác bao gồm là thiếu sự chăm sóc đúng mức đối với bà mẹ có thai, vệ
sinh môi trường kém, nhiễm trùng và ký sinh trùng như ỉa chảy, nhiễm giun
sán, viêm đường hô hấp cấp tính, người chăm sóc trẻ thiếu kiến thức về dinh
dưỡng và sức khoẻ. Trong đó, đặc biệt là chất lượng thức ăn bổ sung và thực
hành cho trẻ ăn bổ sung không đúng đã góp phần làm cho tình trạng suy dinh
dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trở nên trầm trọng hơn [20],[32],[30],[111].
Trong lịch sử y học có rất nhiều bệnh nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao
mà nguyên nhân của nó là thiếu một thành phần dinh dưỡng nào đó (thiÕu
vitamin C, bệnh tê phù, thiếu vitamin A, suy dinh dưỡng…). Nhờ áp dụng
kiến thức dinh dưỡng vào chăm sóc sức khoẻ, nhiều loại bệnh bị đẩy lùi về
quá khứ. Tuy vậy, ở các nước nghèo vẫn còn nổi trội lên các vấn đề sức khoẻ
do thiếu dinh dưỡng, các bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất hiện nay là thiếu
protein- năng lượng, thiếu vitamin A và bệnh khô mắt, thiếu máu dinh dưỡng,
thiếu iode và bệnh bướu cổ [46].
Trẻ em là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt. Sự phát triển đầy đủ
về thể chất và tinh thần của trẻ em ngày hôm nay sẽ là sự hứa hẹn tốt đẹp cho
sự phát triển của xã hội sau này “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”. Thế
nhưng, “trẻ em không phải là người lớn thu nhá”, sự chăm sóc và nuôi dưỡng
trẻ hoàn toàn khác với người lớn, cơ thể trẻ còn non nớt, rất nhạy cảm với yếu
1
tố bên ngoài. Với sự phát triển chưa hoàn thiện về mặt sinh lý của cơ thể, khi
thiếu ăn, khi tình trạng đói kéo dài, cơ thể sẽ thiếu chất để chuyển hoá và tổng
hợp, sẽ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ, sự phát triển của bộ não và tư duy.
Hậu quả nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến khả năng học tập, lao động sáng
1985 51,5% 59,7 7,0
1990 44,9 56,5 9,3
1995 40,7 46,9 11,6
2000 33,8 36,5 8,6
2005 25,2 29,6 6,9
2007 21,2 33,9 7,1
Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ SDD ở Việt Nam vẫn còn khá cao so với khu vực
(Trung Quốc: 8%, Malayxia: 11%, Mông Cổ: 13%) và có một sự cách biệt
lớn về số trẻ em bị SDD ở các vùng, miền: Tỷ lệ trẻ SDD ở Đắc Nông là
35%, nhiều hơn gấp 3 lần ở thành phố Hồ Chí Minh (10%) [84].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến SDD của trẻ dưới 5 tuổi nhưng nguyên
nhân cơ bản vẫn là sự nghèo khổ và thiếu kiến thức [55]. Trẻ dưới 5 tuổi là
thời kỳ phát triển đặc biệt với các nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm cơ thể
khác hẳn với trẻ lớn. Đây là lứa tuổi phát triển nhanh đồng thời tình trạng
dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ [8].
Tình trạng SDD ở lứa tuổi này để lại hậu quả quan trọng đến sự phát triển thể
chất và tinh thần của trẻ. Do đó, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi hiện nay được coi
là một trong những chỉ tiêu quan trọng bậc nhất phản ánh về mặt chất lượng
cuộc sống xã hội, nhằm đánh giá tiềm năng phát triển của các nước nghèo
cũng như các quốc gia đang phát triển [54].
Campuchia là một đất nước đã trải qua nhiều năm chiến tranh chống
giặc ngoại xâm, sự mất ổn định làm cho đất nước lâm vào khủng hoảng chính
trị suốt 2 thập kỷ (1970-1980 của thế kỷ 20) đã phá đổ cơ sở vật chất to lớn
3
trước đây của Campuchia, các ngành công - nông nghiệp, dịch vụ hầu hết
không hoạt động. Hội nghị Pari ngày 28/10/1991 đánh dấu bước chuyển biến
mới của đất nước Campuchia. Từ ngày 23/05/1993 đến ngày 28/05/1993,
Campuchia đã tổ chức tổng tuyển cử dưới sự tổ chức giám sát của liên hợp
Quốc ở Campuchia [56],[151]. Sau đó chính phủ Hoàng Gia đã được thành
lập, với mục tiêu phát triển đất nước là xây dựng nền kinh tế thị trường tự đo
của Rin Keo đã được đưa ra dẫn liệu ban đầu về tình trạng dinh dưỡng và một
số vấn đề còn tồn tại: Tỷ lệ SDD trẻ em còn khá cao: 47,0% (cân nặng/tuổi),
thực hiện cho trẻ ăn bổ sung không đúng, ăn muộn trên 12 tháng là 93,5%, số
bữa ăn của trẻ rất Ýt có đến 63,4%, trẻ chỉ ăn 1-2 bữa/ngày số trẻ ăn 4
bữa/ngày chỉ chiếm 4,2%, kiến thức thực hành nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ
còn có nhiều hạn chế, trẻ bú lần đầu sau khi sinh rất muộn, trên 12 giờ chiếm
68,6% [56]. Do vậy việc tìm kiếm các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện tình
trạng dinh dưỡng trẻ em ở Campuchia đang là một vấn đề rất được quan tâm.
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh
Cao Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên và
phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang. Địa phương này có những đặc điểm về tự
nhiên, kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn và khá tương đồng với Campuchia.
Tỷ lệ SDD ở đây vẫn còn ở mức rất cao (thể thiếu cân là 35,6%, thể thấp còi
là 39,2%) [93].
Là mét trong 8 huyện của tỉnh Bắc Kạn, Ba Bể có diện tích 67.809 ha,
dân số 47.910 người với 5 dân tộc (Tày 58%; Dao 21%; Mông 13%; Nùng
7% và kinh 1%). Về tiềm năng, đây là huyện có khả năng phát triển du lịch,
dịch vụ; nhưng đến thời điểm này nguồn thu nhập chính của người dân vẫn là
nông nghiệp, đời sống của nhân dân nằm trong hoàn cảnh chung của toàn
5
tỉnh. Việc chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng- đặc biệt là với trẻ dưới 5 tuổi vẫn
còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng được.
Để có cơ sở cho việc áp dụng những giải pháp can thiệp phù hợp nhằm
cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em tại địa phương này và đồng thời cũng
với mong muốn trong tương lai, có thể áp dụng các kết quả đạt được trong
nghiên cứu cho Campuchia; chóng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và thử nghiệm một số
giải pháp can thiệp tại cộng đồng ở tỉnh Bắc Kạn" với 3 mục tiêu sau đây:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn.
7
phát triển của trẻ cũng phụ thuộc rất lớn vào tình trạng nuôi dưỡng và chăm
sóc trẻ. Nếu có một sự thay đổi bất kỳ nào như thiếu dinh dưỡng hay dinh
dưỡng không hợp lý đều Ýt nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ em như
làm tăng khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng, giảm phát triển trí tuệ, ảnh
hưởng đến quá trình phát triển bình thường, toàn diện của trẻ sau này. NÕu
việc nuôi con bằng sữa mẹ hàng năm đã cứu khoảng 10 triệu trẻ thoát khỏi tử
vong do các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp và nhiễm trùng khác
[145] thì ăn sam là giai đoạn rủi ro mà trẻ cần được quan tâm nuôi dưỡng để
tránh khỏi bệnh tật và tử vong vì những sai sót mà thực hành nó đem lại. Vì
vậy bà mẹ biết, hiểu và thực hành nuôi con đúng đóng vai trò hết sức quan
trọng đối với việc phát triển của trẻ, càng quan trọng hơn đối với bà mẹ ở
nông thôn, dân tộc Ýt người, cuộc sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, trình
độ văn hoá còn thấp kém, còn nhiều phong tục và tập quán nuôi con chưa
khoa học, khái quát những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng dinh dưỡng
của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam, Từ Giấy và Hà Huy Khôi cùng cộng sự đã
chia đều cho 3 nhóm nguyên nhân chính tác động riêng rẽ hoặc phối hợp với
nhau đó là 1/3 do thiếu ăn, 1/3 do thiếu sự chăm sóc, 1/3 do bệnh tật. Theo
Waterlow có 5 cấp gây nên tình trạng SDD, với các cấp độ khác nhau và
không thể phân biệt rõ ràng ở cấp độ nào thì trở nên quan trọng hơn [78].
8
Sơ đồ 1. Các cấp độ gây nên suy dinh dưỡng (Waterlow-1993).
Cấp I: Là cấp liên quan tới sản xuất ra lương thực, thực phẩm (LTTP), nếu
có chiến tranh, thiên tai, hạn hán…thì sản xuất lương thực, thực phẩm sẽ giảm,
mặt khác thực phẩm đã sản xuất ra nhưng không có sự bình đẳng trong phân
phối các loại lương thực, thực phẩm đó thì cũng ảnh hưởng tới các cấp tiếp theo.
Cấp II: Là cấp chịu ảnh hưởng của cấp I, đó là sự giảm lương thực, thực
phẩm chung cho xã hội và thiếu kiến thức.
Cấp III: Là cấp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cấp II mà cụ thể là thiếu
lương thực, thực phẩm ở hé gia đình, thiếu thực phẩm cá thể, nhiễm trùng và
Thiếu ăn Bệnh tật
Thiếu an ninh
LT - TP
Chăm sóc BM và
trẻ em ch a tốt
Thiếu dịch vụ y tế
và VSMT
Nguồn tiềm năng
Các cơ quan nhà n ớc và tổ chức xã hội
Th ợng tầng kiến trúc về chính trị, t t ởng
Cơ cấu kinh tế
Biểu hiện
Nguyên nhân
trực tiếp
Nguyên nhân
tiềm tàng
Nguyên nhân
cơ bản
cao đối với các yếu tố nguy cơ gây bệnh tật [107]. Ở các nước có thu nhập
thấp, cứ 3 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ bị SDD thể thấp còi. Những ảnh
hưởng của SDD tiếp diễn trong suốt cuộc đời của đứa trẻ, làm tăng nguy cơ tử
vong, giảm khả năng học tập, sa sút về trí tuệ và các khía cạnh phát triển xã
hội khác. Tình trạng SDD hầu như chắc chắn gây ra một kích thước nhỏ bé,
một diện mạo kém cỏi ở lứa tuổi trưởng thành [107]. Khẩu phần thiếu hụt và
bệnh tật là những nguyên nhân trực tiếp nổi trội nhất gây SDD. Trẻ em là một
cơ thể đang lớn nhanh, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng tính theo đơn vị cân nặng
cao hơn người lớn, mà sức ăn của trẻ lại có hạn, thức ăn của trẻ thường có
khối lượng lớn, năng lượng thấp. Tình trạng mắc bệnh đặc biệt là nhiễm trùng
gây kém ăn tăng nhu cầu và giảm khả năng hấp thu [72],[75],[77],[117]. Chức
năng miễn dịch của trẻ chưa được đầy đủ, nên các thiếu sót về mặt vệ sinh
Vic cho tr n quỏ sm hoc quỏ mun hoc t l nuụi con bng cỏc loi
Ăn vào
không đủ
Giảm cân nặng
Tăng tr ởng chậm
Giảm miễn dịch
Tổn th ơng niêm mạc
Giảm ngon miệng
Mất các chất DD
Giảm hấp thu
Rối loạn chuyển hoá
Bệnh tật
- Tỷ lệ mắc bệnh cao
- Mức độ trầm trọng hơn
- Thời gian mắc kéo dài
hơn
12
thức ăn theo tập quán mà chúng có những hạn chế về giá trị dinh dưỡng phản
ánh các tồn tại trong thực hành nuôi dưỡng trẻ. Từ lúc 6 tháng tuổi trở đi, khi
sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng, trẻ bắt đầu ăn bổ sung và dần
dần chuyển đổi để đến giai đoạn tiếp cận và ăn thức ăn thông thường như mọi
thành viên trong gia đình, đấy là giai đoạn quan trọng với nhiều nguy cơ tác
động quan trọng có hại đến sức khoẻ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Nuôi
dưỡng không đúng ở giai đoạn từ 6-18 tháng dẫn đến tỷ lệ mắc mới suy dinh
dưỡng tăng rất nhanh ở hầu hết các nước, sự thiếu hụt dinh dưỡng mắc phải
trong độ tuổi này rất khó khắc phục, bù đạm ở những năm tiếp sau [105]. Tỷ
lệ bà mẹ cho trẻ bú ngay trong giờ đầu thấp, cho con ăn bổ sung sớm, khẩu
phần của trẻ có giá trị dinh dưỡng thấp như nuôi con chỉ bằng cháo gạo với
đường hoặc cho mì chính, lượng các thực phẩm khác được bổ sung vào bữa
ăn của trẻ rất thấp càng làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng. Tình trạng chăm sóc
sinh những bệnh mãn tính sau này. Có một mối liên quan chặt chẽ giữa SDD
thể nhẹ cân (W/A thấp) và tỷ lệ tử vong qua theo dõi của một số nghiên cứu
chiều dọc WHO ước tính 54% số trẻ em chết dưới 5 tuổi ở các nước đang
phát triển có kèm theo SDD thể nhẹ cân [119].
Năm 2000, ACC/SCN đã khái quát hoá ảnh hưởng của “SDD theo chu
kỳ vòng đời” một cách hoàn chỉnh hơn so với mô hình “chu trình SDD” của
Andrew Tomkins và Watson năm 1989 để chỉ rõ tác hại của tình trạng suy
dinh dưỡng [132]. Theo chu kỳ này, SDD thường bắt đầu từ khi còn là bào
thai và có thể tồn tại qua cả một vòng đời, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Hậu
quả thích hợp của SDD thời kỳ bào thai thanh thiếu niên sẽ tác động xấu đến
cân nặng sơ sinh của đứa trẻ thuộc thế hệ tiếp theo. Một đứa trẻ bị chậm tăng
trưởng trong bào thai chắc chắn bị SDD khi sinh ra và có khả năng tử vong sơ
14
sinh cao. Những đứa trẻ may mắn sống sót khó có thể phát triển tốt để bù đắp
sù chậm tăng trưởng trong giai đoạn bào thai và hầu như chắc chắn có sự phát
triển tinh thần. Nhiều chứng cứ dịch tễ học cho thấy mối liên hệ giữa tình
trạng suy dinh dưỡng của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của chính bản
thân bà mẹ này khi còn là một đứa trẻ. Người ta cũng thấy mối liên hệ chặt
chẽ giữa mắc các bệnh mãn tính ở tuổi trưởng thành với tình trạng suy dinh
dưỡng trong những năm đầu của cuộc đời mọi người. Tình trạng nhiễm trùng
kéo dài, thiếu dinh dưỡng đặc biệt là thiếu năng lượng, protein, vitamin, sắt,
kẽm, phối hợp với SDD bào thai chắc chắn sẽ đưa đứa trẻ đến thiếu cân và
thấp còi. Hầu hết các lệch lạc trong tăng trưởng của trẻ xuất hiện trong 2-3
năm tuổi đầu tiên, một đứa trẻ bị thấp còi khi lên 5 chắc chắc sẽ bị thấp còi
suất đời. Ngoài những ảnh hưởng trực tiếp đến bà mẹ thiếu vi chất dinh
dưỡng trong thời kỳ có thai còn có ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển của
bào thai: thiếu Iode có thể gây tổn thương não của thai nhi hoặc gây thai chết
lưu, thiếu máu do thiếu sắt và thiếu vitamin A có mối liên hệ chặt chẽ đến
nguy cơ mắc bệnh tử vong và phát triển trí tuệ của trẻ sau này. Tuổi dậy thì là
giai đoạn thứ 2 có tác động tăng trưởng nhanh, thời kỳ này là cơ hội mặc dù
đều có ảnh hưởng đến vấn đề an ninh thực phẩm đảm bảo để mọi người có đủ
thức ăn theo nhu cầu cần thiết. Mối liên quan giữa mức tiêu thụ lương thực,
thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em đã được (Pyke M.1979) trình
bày rõ ở sơ đồ dưới đây:
16
S 4: Mi liờn quan mc tiờu th thc phm v TTDD tr em
Nh vy, tr em cú tỡnh trng dinh dng tt phi cú thc phm n vo
y v cõn i theo nhu cu phỏt trin ca tr. tr em cú th tng cõn
u n vic cung cp nng lng hng ngy cho tr phi ln hn nng lng
cho tr hot ng cú nng lng cho s phỏt trin. Vn sn xut ra
lng thc, thc phm s nh hng trc tip ti vic tiờu th lng thc,
thc phm, õu m t l suy dinh dng cao cú ngha l y sn xut
lng thc cũn thiu [60]. Vỡ khu phn ca tr ph thuc hon ton vo khu
phn ca gia ỡnh. nhng vựng cú t l SDD trờn 60% thỡ thng cú trờn
50% s h thiu n, nng lng khu phn ca gia ỡnh di 1800 Kcal/24h
[29],[38]. Nghiờn ca nhiu tỏc gi u cho thy khu phn thc t ca tr em
Vit Nam thiu c v s lng, mt cõn i v cht lng (khu phn ch yu
l go, rau v gn nh cú rt ít tht, trng, cỏ). Hm lng protit v nng
lng khu phn nhúm tr suy dinh dng thp hn nhúm tr bỡnh thng,
khu phn khụng cõn i [49]. Nng lng khu phn ch yu do Gluxit cung
Tình trạng dinh d ỡng trẻ em
Thực phẩm ăn vào
Tình trạng sức khoẻ
Sữa mẹ Thức ăn bổ sung
ăn uống của bà mẹ
Tình trạng sức khoẻ bà mẹ
Nguồn thực phẩm gia đình
Nguồn thực phẩm xã hội
17
cấp, Protit động vật trong khẩu phần rất thấp (không vượt quá 25%). Tỷ lệ
1.2.6. Ảnh hưởng và hậu quả của thiếu máu thiếu sắt.
Có khoảng 600 - 800 triệu người trên thế giới hiện đang bị thiếu máu
do thiếu sắt, trong đó đối tượng có nguy cơ cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi, trẻ
em tuổi học đường, trẻ gái vị thành niên, phụ nữ có thai, cho con bú và có thể
nói ngay cả nam giới cũng không tránh được nguy cơ này [114]. Ở
Campuchia theo điều tra Uỷ Ban kế hoạch đầu tư dinh dưỡng năm 2002 cho
thấy có đến 63,4% trẻ em Campuchia từ 6- 59 tháng bị thiếu máu do thiếu sắt
và 58% bà mẹ có thai trong đó 77,8% trẻ dưới 24 tháng tuổi [159],[144],
[167]. Ở Việt Nam thiếu trẻ em < 3 tuổi ở Miền Bắc Việt Nam là 55,6%, nông
thôn đồng bằng là 45,8%, thành thị là 22,9%, miền núi là 53,2%. Tỷ lệ thiếu
máu khác nhau ở vùng sinh thái, thành phố là 38%, nông thôn là 49,4% [129].
Cuộc điều tra toàn quốc 1995 do Viện Dinh Dưỡng và Trung tâm bệnh tật
Hoa kỳ (CDC), UNICEF tổ chức cho thấy thiếu máu, thiếu sắt là 45% ở phụ
nữ tuổi sinh đẻ, 52,7% phụ nữ có thai và 45,3% trẻ em 0 - 60 tháng tuổi và trẻ
< 24 tháng tuổi là 60%, trẻ từ 2 - 5 tuổi là 29,8%, trẻ từ 6 - 12 tháng tuổi là
26,3% [128]. Thiếu máu thiếu sắt làm ảnh hưởng tới khả năng lao động, ta
thường thấy năng suất lao động của những người bị thiếu máu thấp hơn hẳn
những người bình thường. Người ta cũng nhận thấy tình trạng thiếu sắt tiềm
tàng cũng làm giảm khả năng lao động. Về kinh tế, INACG (2001) ước tính
rằng thiếu máu thiếu sắt làm giảm GDP ở các nước đang phát triển
[114],[117]. Thiếu máu làm giảm phát triển trí tuệ, giảm khả năng tập trung
trong học tập, kết quả học tập của học sinh bị thiếu máu thấp hơn hẳn so với
19
trẻ bình thường đồng thời còn phụ thuộc vào mức độ nặng hay nhẹ của thiếu
máu. Thiếu máu làm tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của
mẹ và con. Những bà mẹ thiếu máu có nguy cơ đẻ con nhẹ cân và dễ bị chảy
máu ở thời kỳ hậu sản, vì vậy người ta coi thiếu máu trong thời kỳ thai nghén
là một đe doạ của sản khoa [137]. Cho đến nay, trẻ em dưới 5 tuổi làm nhóm
nguy cơ cao nhất đối với thiếu máu thiếu sắt ở các nước đang phát triển với
một tỷ lệ cao hơn cả tỷ lệ thiếu máu ở bà mẹ mang thai [124]. Giai đoạn trẻ dễ
không về cho con bú giữa giờ [50],[109],[139]. Ăn bổ sung là cần thiết cho
trẻ em song hiện nay thức ăn bổ sung thường không đạt yêu cầu về số lượng,
chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm [10], [41],[159]. Cách cho con ăn
không thích hợp, không đúng nguyên tắc tập cho trẻ ăn từ Ýt tới nhiều, từ
lỏng tới đặc và tăng đậm độ năng lượng trong bữa ăn của trẻ, không biết lựa
chọn thực phẩm thích hợp và cách thay thế thực phẩm, hơn nữa ở lứa tuổi này
bữa ăn của trẻ còn phụ thuộc vào người chăm sóc vì trẻ chưa tự ăn được và
chưa biết đòi ăn [143],[159], nên dễ bị SDD.
1.2.8. Các yếu tố do nhiễm trùng và ký sinh trùng.
Suy dinh dưỡng và nhiễm trùng đã được nhiều tác giả đề cập đến trong
nhiều năm qua [38],[47],[109]. Theo Tomkins và Watson (1989) thì suy dinh
dưỡng và nhiễm trùng là hai nguyên nhân chính của vấn đề sức khoẻ cộng
đồng. Trên thế giới các nghiên cứu của Scrimshaw (1958) và Latham (1975)
đã chỉ ra rằng giữa suy dinh dưỡng và nhiễm trùng là một mối quan hệ qua lại
tạo thành một vòng xoắn bệnh lý [113]. Bệnh nhiễm khuẩn là một trong
những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tăng tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, đặc
21
biệt là bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấp cấp [32],[49],[109],[159]. Các
bệnh này gây tăng nhu cầu, giảm ngon miệng và kém hấp thụ ở trẻ em.
Những nghiên cứu tại bệnh viện cho thấy trẻ em suy dinh dưỡng vào viện có
tỷ lệ nhiễm trùng rất cao. Lê Thị Ngọc Anh thấy: trẻ suy dinh dưỡng dưới 1
tuổi vào viện có 40% tiêu chảy, 28,7% tiêu chảy kèm theo viêm phổi; 23,7%
viêm phế quản và chỉ có 7,5% suy dinh dưỡng đơn thuần. Nguyễn Tấn Viên
nghiên cứu ở Huế cho thấy: 95% bệnh nhân suy dinh dưỡng vào viện có
nhiễm trùng [95]. Xét về nguyên nhân suy dinh dưỡng ở trẻ em, Đào Ngọc
Diễn thấy có 16,9% do nhiễm khuẩn, 16,3% do ăn uống kết hợp với nhiễm
khuẩn. Nghiên cứu của Hà Huy Khôi và cộng sự trên 2 lô trẻ dinh dưỡng tốt
và dinh dưỡng kém cho thấy: ở lô dinh dưỡng kém trước khi mắc suy dinh
dưỡng trẻ thường rất lười ăn, ăn Ýt hay bị ốm vặt, tỷ lệ mắc bệnh ỉa chảy kéo
dài và viêm phế quản phổi thường bị tái đi tái lại nhiều lần. Nh vậy trẻ lười ăn
Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong chăm sóc sức khoẻ cộng
cộng nhưng nhìn chung tỷ lệ SDD trên thế giới còn cao, đặc biệt ở các nước
đang phát triển và là mô hình bệnh tật đặc trưng của các nước này, theo
UNICEF do sự đói nghèo và sự tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản,
hàng năm hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trong đó một nửa trong giai đoạn
chu sinh đã chết vì SDD và các bệnh có thể phòng chống được. Hàng năm
những biến chứng liên quan đến thiếu máu, SDD bà mẹ và trẻ sơ sinh đã dẫn
tới tử vong ở nửa triệu phụ nữ và trẻ vị thành niên, đồng thời số người khác bị
tổn thương, mất năng lực còn hơn thế; 150 trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD; hơn 2
tỷ người thiếu sự tiếp cận với những điều kiện vệ sinh đầy đủ [140]. Trung
23
bình cứ 1giờ có khoảng 800 trẻ chết bị SDD [96]. Suy dinh dưỡng protein-
năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất ở trẻ em đang là vấn đề
hàng đầu đối với sức khoẻ trẻ em; tồn tại ở mức trầm trọng nhiều thế kỷ nay
tại các nước dang phát triển [86]. Theo tài liệu của tổ chức Y tế thế giới cho
thấy hơn 1/3 trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có chiều cao/tuổi
thấp hơn -2SD, và nhiều năm trở lại đây tỷ lệ SDD nói chung chưa giảm đáng
kể, ở nhiều nơi gần như không thay đổi và thực tế con số trẻ bị SDD lại có xu
hướng tăng lên vì dân số tăng nhanh trong thời gian qua [97],[98],[99],[138],
[163]. Hội nghị dinh dưỡng Quốc tế ở Roma 1992 đã coi việc thanh toán nạn
đói và SDD là mục tiêu quan trọng của nhận loại [61]. Gần đây người ta coi
tỷ lệ SDD trẻ em là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng chung của
cuộc sống ở một quốc gia nhất định [61]. Hậu quả của SDD trẻ em cả thể vừa
và nhẹ đều nặng nề, có đến 54% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi liên quan đến
SDD.
Mặt khác, tình trạng SDD trường diễn cùng với thiếu các yếu tố vi
lượng như: thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, thiếu Vitamin A dẫn đến khô loét
giác mạc, mù loà, thiếu Iode với bệnh biếu cổ…[25],[56] ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển tinh thần và trí tuệ của trẻ, dẫn đến học hành kém, thể lực yếu ớt
và khi trưởng thành trở thành người lao động yếu ớt, những người mẹ bé nhỏ
nữa thì tỷ lệ này là 21,8% [118].
1.3.2. Việt Nam.
Việt Nam đang ở trong thời kỳ chuyển tiếp, bên cạnh mô hình bệnh tật
của một nước kém phát triển trong đó SDD và nhiễm khuẩn là phổ biến đang
xuất hiện sự gia tăng nhiều lại bệnh hay gặp ở các nước đang phát triển [2]
với thực trạng trên thì dinh dưỡng Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đáng quan
25