1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em dưới 5 tuổi là giai đoạn phát triển thể lực và trí lực quan trọng,
có nguy cơ cao khi bị thiếu hụt dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở các
nước đang phát triển trong đó có nước ta, giai đoạn trẻ có nguy cơ suy dinh
dưỡng (SDD) cao nhất là từ 12 đến 24 tháng tuổi và tỷ lệ SDD giữ ở mức cao
cho đến 60 tháng [53].
Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đối với trẻ em dưới 5 tuổi hết
sức cần thiết. SDD không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn
ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ và để lại hậu quả nặng nề cho xã
hội [4]. Hiện nay, SDD Protein - năng lượng vẫn là vấn đề sức khỏe trẻ em
toàn cầu với tỷ lệ mắc cao và rất cao ở hầu hết các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam [12],[23],[42]. Các cuộc điều tra tại các vùng sinh thái khác
nhau của Việt Nam đều cho thấy tỷ lệ SDD Protein - năng lượng ở trẻ em
dưới 5 tuổi là rất cao [ 14],[23],[50]. Theo kết quả điều tra của Viện Dinh
Dưỡng (VDD) từ năm 2000 tới năm 2010, tỷ lệ SDD trẻ em đang có xu
hướng giảm, nếu như năm 2000 tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi là
36.5% thì tới năm 2010 đã giảm chỉ còn 29.3% [54]. Tuy nhiên, theo điều tra
theo dõi tỷ lệ SDD trẻ em các tỉnh năm 2007 của VDD cho thấy có sự khác
nhau nhiều về tỷ lệ SDD trẻ em giữa các vùng sinh thái trên cả nước. Trong
đó tỷ lệ SDD khu vực miền núi luôn cao hơn ở đồng bằng, nông thôn cao
hơn thành thị. Trong khi một số tỉnh đồng bằng tỷ lệ SDD đã giảm xuống
mức thấp như thành phố HCM (7,8%), Hà Nội (9,7%),... thì nhiều khu vực
miền núi tỷ lệ SDD vẫn ở mức rất cao như Đắc Nông (31,9%), Kon Tum
(31,5%), Quảng Bình (30,6%), Lai Châu (30,0%)...[ 28].Theo điều tra của
Vũ Phương Hà và cộng sự năm 2010: Tỷ lệ SDD của trẻ em vùng dân tộc
thiểu số ở 2 huyện Hướng Hóa và Đakrong tỉnh Quảng Trị là 42,1%, trong
2
vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu: ‘‘Kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ
của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Lạc
Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012” .
Nghiên cứu được thực hiện với 3 mục tiêu cụ thể là:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện
Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012.
2. Mô tả kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ và bà mẹ của các bà mẹ
có con dưới 5 tuổi tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012.
3. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các thời kỳ phát triển của trẻ em, đặc điểm sinh học cơ bản và nhu
cầu dinh dưỡng.
1.1.1. Cách phân chia các thời kỳ
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển. Quá trình lớn và phát triển
của trẻ em cũng tuân theo quy luật tiến hóa chung của sinh vật, đi từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá trình phát triển này không phải quá trình
tuần tiễn mà có những bước nhảy vọt, có sự khác nhau về chất chứ không đơn
thuần về mặt số lượng. Vì vậy khi nói đến trẻ em không thể nói chung mà mỗi
lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng chi phối đến quá trình phát triển
bình thường cũng như quá trình bệnh lý của trẻ.
Sự phân chia các thời kỳ (giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách
quan, nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng và có sự khác biệt đối
dinh dưỡng cao, quá trình đồng hóa mạnh hơn quá trình dị hóa.
- Chức năng các bộ phận phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện đặc
biệt là chức năng tiêu hóa, tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền
sang giảm nhanh trong khi khả năng tạo Globulin miễn dịch còn yếu).
- Về đặc điểm bệnh lý thời kỳ này hay gặp là các bệnh dinh dưỡng và
chuyển hóa (suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chảy cấp) và các
bệnh nhiễm khuẩn mắc phải (viêm phổi, viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm
màng não mủ) [27 ].
1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
Trong năm đầu tiên trẻ phát triển nhanh, sau sinh 6 tháng trung bình
cân nặng trẻ tăng lên gấp đôi, đến 12 tháng cân nặng của trẻ tăng lên gấp 3 so
với cân nặng lúc sinh, để đáp ứng tốc độ phát triển trong năm đầu của trẻ nhu
cầu các chất dinh dưỡng cũng như năng lượng đều cao [26].
Nhu cầu năng lượng của trẻ ở thời kỳ này là rất cao. Nhu cầu năng
lượng theo bảng khuyến nghị của Việt Nam trẻ từ 3-6 tháng là 620 kcal, từ 612 tháng là 820 kcal, trong đó 50% đáp ứng cho chuyển hóa cơ bản [26].
Nhu cầu Protein của trẻ dưới 1 tuổi cao do tốc độ phát triển của xương,
cơ và các mô. Nhu cầu protein hàng ngày là 2,2g/kg cân nặng của trẻ, đến
tháng thứ 4 trở đi nhu cầu là 1,4g/kg/ngày [26].
Nhu cầu lipit ở trẻ đảm bảo cho nhu cầu về năng lượng và các acid béo
cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K).
Nhu cầu glucid của trẻ bú mẹ hoàn toàn được cung cấp từ nguồn sữa
mẹ, 8% trong sữa mẹ là lactose, cứ 100ml sữa mẹ cung cấp 7g glucid [26].
6
1.4. Tình hình SDD Protein năng lượng ở trẻ em,phương pháp đánh giá
tình trạng SDD trẻ em:
1.4.1. Tình hình SDD Protein năng lượng trên thế giới.
Theo báo cáo của UNICEF (2006), hơn ¼ trẻ em dưới 5 tuổi tại các
miền Trung tỷ lệ cao hơn hẳn so với các vùng khác, nông thôn cao hơn thành
thị, miền núi cao hơn đồng bằng, dân tộc thiểu số cao hơn các dân tộc khác,
đặc biệt là các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt... Theo điều tra
dinh dưỡng toàn quốc năm 2009 [32] cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất
ở vùng núi như Tây Nguyên 28,5%, khu vực phía Bắc miền Trung 22,9%,
miền núi Tây Bắc 24,6%, đồng bằng sông Hồng 16,7%, đồng bằng sông Cửu
Long 18,7% và thấp nhất ở Đông Nam Bộ 16,4%. Nguyên nhân của suy dinh
dưỡng gồm rất nhiều vấn đề. Nguyên nhân trực tiếp là thiếu ăn cả về số lượng,
chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Nguyên nhân tiềm tàng của suy dinh
dưỡng là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn đề nước
sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh.
Nguyên nhân cơ bản của suy dinh dưỡng là tình trạng đói nghèo, lạc hậu.
1.4.3. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
1.4.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em.
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc hóa
sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [41].
Hiện nay có 4 nhóm chỉ tiêu được dùng để đánh giá tình trạng dinh
dưỡng của trẻ em [21]:
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
- Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật
có liên quan đến ăn uống.
- Các chỉ tiêu nhân trắc.
8
- Các xét nghiệm hóa sinh.
Trong đó 2 nhóm chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều
tra khẩu phần ăn mà các số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình
trạng dinh dưỡng.
SDD độ I
Từ 60% - 75% của cân nặng chuẩn
SDD độ II
Từ dưới 60% của cân nặng chuẩn
SDD độ III
Cách phân loại này không phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor
cũng như giữa SDD cấp hay mãn bởi vì cách phân loại này không đánh giá
tới chiều cao.
1.4.4.2. Phân loại theo Wellcome (1970)
Phân loại này phù hợp để phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor
Phù
Cân nặng (%) so với chuẩn
Có
Không
60% - 80%
Kwashiorkor
Thiếu cân
dưỡng trường diễn và đã chịu thiếu dinh dưỡng từ lâu.
10
1.4.4.4. Phân loại theo WHO 2005
SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp
còi và SDD gày còm [1].Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, các chỉ
tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi
(CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC). Thiếu
dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn
(< -2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center For Health
Statistics) của Hoa Kỳ [52]. Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá
nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng.
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quần thể tham chiếu NCHS để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em không phù hợp với thực tế vì vậy để
đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ năm 2006 WHO đưa ra “chuẩn tăng
trưởng mới ở trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới [53]. WHO đề
nghị lấy điểm ngưỡng < 2 độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể WHO 2005
để đánh giá trẻ bị suy dinh dưỡng.
Dựa và Z- Score (điểm –Z), tính theo công thức:
Z- Score =
Kích thước đo được - số trung bình của quần thể tham chiếu
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
- Khi CN/T Z-score < - 2, SDD thể thiếu cân.
- Khi CC/T Z-score
Bệnh tật
Nguyên nhân
>1: Nguy cơ thừa cân.
>1: Nguy cơ thừa cân.Trực tiếp
tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em. Sau đây là mô hình
nguyên nhân của SDD theo UICEF [56]:
Nguyên nhân cơ bản
Sơ đồ Mô
hìnhchính
nguyên
nhân
dinh dưỡng trẻ em.
Hệ thống
trị, văn
hóa,suy
tôn giáo,
kinh tế và xã hội bao gồm cả tình trạng
phụ nữ, giới hạn việc sử dụng các nguồn
tài nguyên tiềm năng
Nguồn tiềm năng: môi
trường, kỹ thuật, con người
12
13
Trong nghiên cứu này chúng tôi quan tâm tới một số yếu tố tác động
đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em.
1.5.1. Kiến thức, thực hành chăm sóc bà mẹ mang thai.
Khi mang thai, các bà mẹ cần có dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng
mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, đường, mỡ,
vitamin và mối khoáng với tỉ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển cơ thể
trẻ [57]. Bú mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng và các bệnh
nhiễm trùng. Theo khuyến cáo của tố chức y tể thế giới sau khi sinh, đứa trẻ
cần được cho bú mẹ càng sớm càng tốt thậm chí ngay trong nửa giờ đầu sau
sinh và bú mẹ hoàn toàn cho tới tận 6 tháng [66], lợi ích của việc nuôi con
bằng sữa mẹ cho cả mẹ và con. Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ của WHO/UNICEF đã đưa ra bằng chứng khoa học về tính ưu việt
của thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và khuyến nghị trẻ cần được nuôi dưỡng
hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của cuộc đời, thay vì 4 tháng như
trước đây [42].
Vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ rất quan trong nhưng chỉ từ đầu những
năm 80 người ta mới biết rõ cơ chế của nó. Những nghiên cứu về thành phần
sữa mẹ được tiến hành càng thấy rõ giá trị dinh dưỡng của nó và ngày càng
khẳng định sữa mẹ là thức ăn, là nước uống tốt nhất cho trẻ nhỏ mà không gì
thay thế được. Sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, một nguồn glucid trong sữa
khi so sánh với hai đường đôi (disaccarit), giúp giảm độ thấm thấu của sữa
khi so sánh với hai đường đơn giản (monosaccarit). Ngoài ra, lactose còn tạo
thuận lợi cho sự hấp thụ canxi ở ruột của trẻ sinh non [50].
15
Sữa mẹ bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ gọi là sữa non sánh đặc, màu
vàng nhạt. Trong sữa non có chứa nhiều năng lượng , protein và vitamin A,
đồng thời lại có nhiều chất kháng khuẩn tăng cường miễn dịch cho trẻ. Bên
cạnh đó sữa non còn có tác dụng sổ nhẹ giúp cho việc tống phân su nhanh
ngăn chặn vàng da ở trẻ sơ sinh. Sữa non tiết ra tuy ít nhưng chất lượng cao
thỏa mãn nhu cầu của trẻ mới đẻ [1].
1.5.2.2. Kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ với TTDD.
Thời kỳ bắt đầu ABS đến khi cai sữa là thời kỳ đe dọa nhất đối với tình
trạng dinh dưỡng trẻ em. Cho trẻ ABS sớm không có lợi cho sức khỏe của trẻ
vì trước 6 tháng tuổi trẻ chưa cần đến thức ăn ngoài sữa mẹ, cho trẻ ăn khiến
trẻ bú ít đi, sữa được sản sinh ra ít đi và trẻ mất nguồn dinh dưỡng quý giá từ
sữa mẹ. Theo khuyến cáo của VDD, từ tháng thứ 6 trở đi ngoài sữa mẹ trẻ cần
được ăn bổ sung các loại thực phẩm khác [46].
Giai đoạn ăn bổ sung cần đảm bảo đủ năng lượng, đủ các chất dinh
dưỡng và thức ăn phải đảm bảo an toàn và vệ sinh cho trẻ.
Ăn bổ sung là cho trẻ ăn các thức ăn khác bổ sung ngoài sữa mẹ. Trong
giai đoạn này trẻ quen dần với thức ăn gia đình. Cuối giai đoạn này (khi trẻ
được hai tuổi) sữa mẹ được thay thế hoàn toàn bằng thức ăn gia đình.
Theo nhiều tác giả thời gian bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung có thể khác
nhau ở từng bà mẹ nhưng khuyến cáo chung là trong vòng 4 - 6 tháng. Tuy
nhiên , gần đây theo khuyến cáo của WHO cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong
6 tháng đầu tiên của cuộc đời [65], [66]. Trẻ cần được bổ sung bắt đầu từ sau
sáu tháng tuổi. Từ 6 tháng trở đi, thức ăn bổ sung của trẻ cần được tăng dần
về số lượng và đa dạng hóa nhằm cung cấp không năng lượng mà còn cung
cấp cả những chất dinh dưỡng cần thiết gồm protein, vitamin và khoáng.
17
Thức ăn bổ sung cho trẻ cần đầy đủ bồn nhóm thực phẩm để thỏa mãn
nhu cầu dinh dưỡng của trẻ gồm:
- Nhóm thức ăn giàu Glucid: gồm các loại ngũ cốc như gạo, ngô, lúa mì..
- Nhóm thức ăn giàu Protid: thịt gia súc, gia cầm, cá và các loại thủy sản..
- Nhóm thức ăn giàu Lipid: mỡ động vật, dầu thực vật…
- Nhóm cung cấp Vitamin và muối khoáng: rau, quả..
Trong đó một bữa ăn bổ sung hợp lý cho trẻ phải có sự kết hợp đầy đủ
và cân đối giữa 4 nhóm thực phẩm đã nêu trên.
dưỡng giảm, các chất dinh dưỡng không đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể, do đó
bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD trẻ em.
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Mai năm 2004, các yếu tố liên
quan đến SDD cân nặng theo tuổi gồm: trẻ ABS sớm trước 4 tháng và thực
phẩm ABS nghèo dinh dưỡng; mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp 2
tuần qua; trẻ uống nước lã; hộ gia đình nghèo; gia đình có thiếu ăn trong năm;
trình độ văn hóa của mẹ (mẹ mù chữ); thời gian nghỉ sau đẻ < 4 tháng và mẹ
bị thiếu năng lượng trường diễn và số con của mẹ nhiều hơn 2. Các yếu tố
liên quan đến SDD chiều cao theo tuổi gồm: thức ăn bổ sung nghèo dinh
dưỡng (cháo muối); trẻ có mắc bệnh tiêu chảy 2 tuần qua; gia đình nghèo,
thiếu ăn; mẹ mù chữ, có số con nhiều hơn 2 và mẹ bị thiếu năng lượng trường
diễn [22].
19
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu:
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu:
Bản đồ tỉnh Hòa Bình.
Địa điểm nghiên cứu là huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía tây bắc Việt Nam, nằm ở tọa độ
200°19' - 210°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, thành phố Hòa
Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội73km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam. Địa giới
Hòa Bình: phía bắc giáp với tỉnh Phú Thọ; phía nam giáp với các tỉnh Hà
21
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn.
Trẻ: dưới 5 tuổi có mặt tại thời điểm và trên địa bàn nghiên cứu đó
được lựa chọn. Trẻ không bị mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn
tính, hiện tại không mắc các bệnh cấp tính.
Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được lựa chọn, không bị tâm thần, không bị rối
loạn trí nhớ và hợp tác.
Mỗi bà mẹ chỉ được lựa chọn một con.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
Trẻ: Mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính hoặc đang mắc bệnh
cấp tính.
Bà mẹ: bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, có thái độ không hợp tác....
2.3. Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu.
2.3.2.1. Cỡ mẫu.
- Áp dụng công thức ước lượng 1 tỷ lệ trong quần thể:
n = Z12−α 2
p(1 − p)
(ε . p) 2
- Trong đó:
•
n: Cỡ mẫu (số bà mẹ cần phỏng vấn).
× 2 = 329
(0.23 × 0.306) 2
Để dự phòng những trường hợp không hợp tác hoặc không có điều kiện
tham gia nghiên cứu ta lấy cỡ mẫu là 350.
2.3.2.2. Chọn mẫu:
* Cách chọn mẫu:
Huyện Lạc Sơn có 29 xã, mỗi xã có từ 10 đến 13 thôn, mỗi thôn có
khoảng 30 đến 40 trẻ trong độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi. Việc chọn mẫu cho nghiên
cứu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
Giai đoạn I: Bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên chọn 4 xã vào
nghiên cứu. Qua bốc thăm ngẫu nhiên 4 xã nghiên cứu là Miền Đồi, Phú
Lương, Bình Cảng và Chí Thiện.
Giai đoạn II: Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 3 thôn nghiên cứu.
Giai đoạn III:Chọn đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu
chùm.Mỗi thôn là một chùm.
23
Số lượng trẻ em dưới 5 tuổi mỗi thôn là gần tương đương nhau, mỗi thôn
có từ 30-40 trẻ . Với tổng số trẻ cần thiết là 350 trong điều kiện đi lại khó khăn,
các trẻ trong thôn phân bố rải rác ta cần chọn 12 thôn để nghiên cứu, bốc thăm
ngẫu nhiên mỗi xã lấy 3 thôn. Mỗi thôn lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi với đầy đủ
thông tin về ngày tháng năm sinh và giới tính bốc thăm ngẫu nhiên mỗi thôn 2930 cặp bà mẹ-trẻ đủ tiêu chuẩn và điều kiện tham gia để đủ cỡ mẫu nghiên cứu.
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu:
2.3.3.1 Đo các chỉ số nhân trắc của trẻ
* Đo chiều dài nằm trẻ [1]
Dụng cụ: Thước đo chiều dài nằm cho trẻ dưới 5 tuổi với độ chia tối
thiểu 0,1 cm.
Trẻ mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng
khác trên người.
Trẻ đứng, ngồi hoặc nằm giữa cân, không cử động.
Người cân trẻ phải ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân đọc
kết quả theo đơn vị là kg với 1 số thập phân.
2.3.3.2. Phỏng vấn
-
Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong
nghiên cứu bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn.
-
Công cụ thu thập số liệu: Phiếu phỏng vấn KAP của bà mẹ có con dưới
5 tuổi về dinh dưỡng trẻ (Phụ lục 2).
-
Người thu thập số liệu: cán bộ y tế tại địa phương đã được tập huấn kỹ
năng điều tra. 100% các điều tra viên đều là người Mường và đọc thông viết
thạo tiếng Kinh.
25
2.3.4. Biến số, chỉ số và phương pháp thu thập thông tin.
Nhóm
biến số
chung về
tiếp
mẹ
thành.
mẹ
bằng bộ
Dân tộc
Dân tộc của bà mẹ.
câu hỏi.
1.2
Hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo.
Thông
tin hộ
gia đình
Tình trạng thiếu gạo Tỷ lệ thiếu gạo ăn.
ăn
2. Biến số về tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Phỏng
Tuổi trẻ
Cân nặng/tuổi
Cân nặng
Chiều cao/tuổi
Cân
vấn
của trẻ dưới 2 tuổi
thức,
Số tháng cai sữa trung bình.
trực tiếp
Kiến thức cho trẻ Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng bằng bộ
thực
bú lần đầu sau sinh cho trẻ bú lần đầu sau sinh