ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THU HÀ Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại
cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp này. Để làm được
điều đó, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú
y, các thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học
tập tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo
TS. Nguyễn Văn Sửu đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn Trạm thú y huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng, cùng toàn thể nhân dân địa phương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi để em thực hiện đề tài tốt nghiệp được tốt hơn.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người
đã thường xuyên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện và dành cho em sự động viên quý
báu nhất trong suốt quá trình học tập.
Thái nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên Lý Thu Hà
Nxb : Nhà xuất bản
MỤC LỤC Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản 1
1.1.1. Điều tra tự nhiên 1
1.1.1.1. Vị trí địa lý 1
1.1.1.2. Địa hình, đất đai 1
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 2
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế 2
1.1.2.2. Điều kiện xã hội 3
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 5
1.1.3.1. Ngành trồng trọt 5
1.1.3.2. Ngành chăn nuôi 5
1.2. Nhận xét chung 7
1.2.1. Thuận lợi 7
1.2.2. Khó khăn 7
1.3. Nội dung, phương pháp thực hiện tốt nghiệp 7
1.3.1. Nội dung thực tập tốt nghiệp 7
1.3.2. Biện pháp tiến hành 8
2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm 15
2.2.1.2. Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm 17
2.2.1.3. Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà 18
2.2.1.4. Vòng đời của cầu trùng gà 21
2.2.1.5. Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà 22
2.2.1.6. Bệnh lý lâm sàng 24
2.2.1.7. Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà 29
2.2.1.8. Phòng trị bệnh cầu trùng gà 30
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 34
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 34
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 38
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1. Đối tượng 39
2.3.2. Địa điểm 39
2.3.3. Thời gian 39
2.3.4. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 40
2.3.4.1. Nội dung nghiên cứu 40
2.3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi 40
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu 40
2.3.5.1. Phương pháp lấy mẫu phân 40
2.3.5.2. Phương pháp kiểm tra mẫu phân 40
2.3.5.3. Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng 41
2.3.5.4. Phương pháp theo dõi biểu hiện triệu chứng lâm sàng 41
2.3.5.5. Phương pháp mổ khám và xác định bệnh tích 41
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 42
2.4. Kết quả và phân tích kết quả 42
III. Tài liệu nước ngoài 53DANH MỤC CÁC BẢNGTrang
Bảng 1.1: Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 5
Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho đàn gà 9
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 12
Bảng 2.1. Hình thái và đặc tính sinh học của 9 loại cầu trùng 21
Bảng 2.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà ở các địa điểm kiểm tra 43
Bảng 2.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo giống gà 44
Bảng 2.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 45
Bảng 2.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo mùa vụ 46
Bảng 2.6: Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm bệnh cầu trùng 47
Bảng 2.7: Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 48
Bảng 2.8: Bệnh tích gà nghi mắc cầu trùng 49
Bảng 2.9: Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 50
cho việc gieo trồng các loại cây nông nghiệp và lâm nghiệp. Với tổng diện
tích đất tự nhiên là 46.693 ha.
Đất nông nghiệp 42.548 ha chiếm 91,12% diện tích đất tự nhiên.
Đất phi lâm nghiệp 3.714 ha chiếm 7,96% diện tích đất tự nhiên.
Đất chưa sử dụng 429 ha chiếm 0,92% diện tích đất tự nhiên.
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đất để sản xuất nông nghiệp
9.372 ha, đất lâm nghiệp 33.120 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 56 ha.
Huyện Trùng Khánh có địa hình rất đa dạng, mang đặc thù của địa hình
miền núi, được phân bố từ cao xuống thấp, đất canh tác chủ yếu là đất dốc,
trong đó núi đá chiếm một phần đáng kể. Do địa hình đồi núi như vậy làm cho
việc đi lại của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa lũ.
2
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Huyện Trùng Khánh có khí hậu đặc trưng của vùng miền Đông Bắc
Cao Bằng thuộc khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa chia làm bốn mùa rõ rệt
(Xuân, Hạ, Thu, Đông).
Mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 có mưa phùn, độ ẩm cao.
Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6 có nắng gắt, mưa nhiều và thường kéo
dài sang tháng 7, tháng 8 lượng mưa hàng năm từ 1500 - 1700.
Mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9 nhiệt độ không khí biến thiên giảm dần
và thấp hơn nhiều so với nhiệt độ trung bình của mùa hạ, nhiệt độ mát dịu
nhưng có sự chênh lệch lớn giữa nhiệt độ ban ngày và nhiệt độ ban đêm.
Mùa đông trời khô hanh lượng nước bốc hơi mạnh, chịu ảnh hưởng của
gió mùa Đông Bắc nên không khí lạnh kéo dài sang cả tháng 1 và đầu tháng 2
có năm xuất hiện sương muối.
Huyện có 2 con sông chính chảy qua là Sông Quây Sơn và Sông Bắc
Vọng cùng nhiều sông, suối lớn nhỏ khác chảy qua các khe núi đá. Hệ thống
sông, suối phụ thuộc vào lượng mưa là chủ yếu.Về mùa khô lượng mưa giảm
Toàn huyện Trùng Khánh có 230 xóm nằm trong địa giới hành chính
của 19 xã và 1 thị trấn trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn. Theo số liệu
thống kê năm 2012 của phòng thống kê Nông nghiệp huyện Trùng Khánh thì
huyện có 3 dân tộc chính đó là Tày, Nùng, Kinh. Trong đó dân tộc Tày và
Nùng chiếm chủ yếu. Tổng dân số toàn huyện là 49271 người, mật độ dân
số 106,3 người/km quy mô hộ là 5,22 người/hộ. Do đời sống nhân dân còn
nhiều thiếu thốn kinh tế của huyện chưa phát triển còn phụ thuộc vào môi
trường tự nhiên.
Số người làm trong ngành công nghiệp vẫn khá cao so với các ngành
nghề khác. Vậy với tiềm năng và sức mạnh có sẵn của huyện vẫn cần có kế
hoạch làm giảm số lao động nông nghiệp, giảm số người lao động không có
việc làm mở thêm hoặc cử lao động đi học một số ngành nghề mới mà địa
phương còn thiếu, đồng thời phải khôi phục ngành nghề truyền thống.
- Về văn hóa: Trong thời gian qua huyện đã xây dựng được phong trào
văn hóa và bảo tồn các di sản văn hóa địa phương, đời sống văn hóa ngày
càng được nâng cao với chủ trương lành mạnh như cưới hỏi, tang lễ, lễ hội.
Hiện nay toàn huyện có 19/19 xã, thị trấn, trên 90% thôn bản đã có điện. Hiện
nay phong trào thể dục, thể thao quần chúng trong huyện khá phát triển, thu hút
được mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên.
- Về giáo dục: Toàn huyện có 10 trường mầm non, 20 trường tiểu học,
13 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông, tính đến nay
4
trong huyện có 16/19 xã đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục
trung học cơ sở. Tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp các cấp đạt 93,5%. Ngành giáo dục
huyện Trùng Khánh sau khi đã phổ cập giáo dục tiểu học xong hiện nay tiếp
tục duy trì công tác giáo dục trung học cơ sở. Vấn đề hiện nay đối với ngành
giáo dục huyện là phải đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ở
trong các trường. Đặc biệt là phải nâng cao tỷ lệ cho học sinh thi đỗ vào các
Đối với huyện Trùng Khánh, trồng trọt được coi là sản xuất chính. Do
đó phần lớn số hộ của huyện làm nông nghiệp, trong mấy năm gần đây ngành
nông nghiệp của huyện có sự phát triển mạnh mẽ về năng suất và sản lượng
chủ yếu là trồng lúa nước, ngô, đậu tương, thuốc lá… Do đổi mới cơ cấu canh
tác, thâm canh tăng vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản suất và thay thế
các giống cũ bằng những giống lúa mới giống lúa có năng suất cao. Người dân
cũng đã bỏ được thói quen tự để giống lúa phục vụ cho sản xuất mùa vụ tiếp theo,
đó là một sự đột phá lớn về hướng nhìn và phát triển nông nghiệp của huyện
1.1.3.2. Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là ngành kinh tế luôn phát triển, bên cạnh trồng trọt
là ngành truyền thống có từ lâu đời. Trước đây phương thức chăn nuôi của
người dân còn lạc hậu, dẫn đến năng suất không cao, sản phẩm chăn nuôi
không cung cấp đủ cho nhân dân mà phải nhập từ nơi khác đến. Đặc biệt là
trong vài năm gần đây có thể nói đó là bước phát triển lớn đối với các ngành
chăn nuôi của huyện.
Bên cạnh đó, huyện Trùng Khánh có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi
cho việc phát triển ngành chăn nuôi trâu, bò, dê và gia cầm. Do địa phương có
diện tích đất bãi tự nhiên rộng, có nguồn thức ăn phong phú cho chăn nuôi
trâu, bò, dê. Ngoài ra đất ở đây cũng rất thích hợp cho việc trồng cỏ, để chủ
động trồng cỏ, để chủ động về nguồn thức ăn. Tổng số đàn gia súc, gia cầm
của toàn huyện trong những năm gần đây. Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm
Năm
Chỉ Tiêu
Đơn vị
2011 2012 2013
So sánh năm 12/13
(%)
+) Chăn nuôi lợn: Với tổng đàn lợn của huyện là 40.397 con trong năm
2013 đạt 100,54% so với năm 2012 (40.179 con). Hầu hết các hộ chăn nuôi
theo phương thức cổ truyền là tận dụng thức ăn thừa và các sản phẩm phụ của
ngành trồng trọt. Qua điều tra cho thấy trung bình mỗi hộ nuôi được 3,32 con
lợn, đây là nguồn thu nhập chính của người dân.
+) Chăn nuôi gia cầm: Huyện Trùng Khánh chăn nuôi gia cầm chủ yếu
là các giống địa phương như gà ri, vịt, ngan nội. Tổng số đàn của huyện là
141.056 con, các giống gà công nghiệp chưa được chăn nuôi phổ biến. Vì vậy
hiệu quả chăn nuôi gia cầm không cao, sản phẩm chủ yếu là cung cấp thịt cho
thị trường của huyện.
* Công tác thú y
Công tác thú y của huyện cũng được chú trọng và được coi là then chốt
của ngành chăn nuôi, nó quyết định sự thành bại trong chăn nuôi. Huyện có đội
ngũ cán bộ thú y khá đông đảo gồm có 1 trưởng ban thú y huyện, 20 trưởng
7
ban thú y xã và thú y viên của các thôn do vậy mà tình hình dịch bệnh trong
huyện luôn luôn được cập nhập nhanh chóng để từ đó có các biện pháp khắc
phục nhằm đẩy lùi dịch bệnh. Hàng năm huyện đã tiến hành tiêm phòng định
kỳ cho đàn gia súc, gia cầm 2 lần trong năm như sau:
- Đợt 1: tháng 3 và tháng 4.
- Đợt 2: tháng 9 và tháng 10.
Tuy nhiên tiêm phòng chưa đạt 100% nên bệnh dịch vẫn xảy ra như
bệnh Tụ huyết trùng Trâu bò, gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi.
1.2. Nhận xét chung
1.2.1. Thuận lợi
+ Huyện Trùng Khánh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát
triển mô hình nông - lâm kết hợp.
+ Huyện có lực lượng lao động dồi dào, chịu khó tham gia tích cực
1.3.2. Biện pháp tiến hành
Để thực hiện tốt nội dung trong thời gian thực tập, chúng tôi đề ra các
biện pháp thực hiện như sau:
Luôn bám sát địa bàn nơi thực tập, tìm hiểu nguyện vọng của người
dân về vấn đề chăn nuôi. Học hỏi kinh nghiệm của cán bộ thú y cơ sở, kinh
nghiệm thực tế sản xuất, tham khảo sách báo, tài liệu để nâng cao tay nghề,
củng cố kiến thức chuyên môn.
Thường xuyên liên lạc và xin ý kiến hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn.
Trực tiếp tham gia điều trị bệnh tại địa phương.
Lấy mẫu phân thí nghiệm, xét nghiệm mẫu để xác định noãn nang cầu trùng.
1.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong suốt quá trình thực tập tại Huyện Trùng Khánh, được sự giúp đỡ
của thầy giáo, cô giáo, của trạm thú y huyện Trùng Khánh cùng sự nỗ lực của
bản thân tôi đã đạt được kết quả cụ thể như sau:
1.4.1. Công tác tuyên truyền
Hướng dẫn bà con nông dân thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y, tiêm
phòng đầy đủ để ngăn chặn dịch bệnh và hạn chế lây lan.
Tham gia chuyển giao công nghệ đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
1.4.2. Công tác thú y
1.4.2.1. Công tác phòng bệnh
Trong chăn nuôi công tác phòng bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết
định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi.
9
* Công tác vệ sinh
Chúng tôi thường xuyên giúp đỡ bà con nông dân hàng ngày vệ sinh
chuồng trại, máng ăn, máng uống, rãnh nước quanh chuồng, phát quang bụi
rậm quanh khu vực chăn nuôi, thường xuyên thay đổi chất độn chuồng, làm
giảm mầm bệnh. Nhằm đảm bảo nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y và nâng
10
niêm mạc nhợt nhạt, phân loãng hoặc sệt, phân có màu sôcôla, có trường hợp
phân gà có lẫn máu.
Sau một vài ngày gà gầy dần rồi chết, mổ khám quan sát thấy có nhiều
điểm trắng trên niêm mạc ruột, niêm mạc ruột dày lên, manh tràng bị sưng to.
Những biểu hiện trên rất giống với triệu trứng và bệnh tích của bệnh cầu trùng
nên tôi chẩn đoán đàn gà bị mắc bệnh cầu trùng và tiến hành điều trị cho cả đàn.
Liệu trình điều trị cụ thể như sau:
Rigecoccin - WS : Liều 1g/4 lít nước uống.
Anticoccid : liều 1g/ 1 lít nước uống.
HanEba 30% : liều 1g/ 1 lít nước uống.
Cho gà uống liên tục trong 5 - 7 ngày thì gà khỏi bệnh và trở lại dùng
liều phòng, sử dụng thuốc theo liệu trình 2 ngày dùng thuốc 3 ngày nghỉ.
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD - hen gà)
Trong quá trình theo dõi gà con, gà thịt và gà đẻ nuôi tại các nông hộ,
tôi đã gặp phải trường hợp gà có các biểu hiện: thở khò khè, tiếng ran sâu, há
mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có con chảy nước mắt,
nước mũi. Mổ khám gà chết thấy khí quản đầy dịch keo nhầy, màng túi khí đục.
Với những biểu hiện trên tôi chẩn đoán là gà bị mắc bệnh CRD.
Khi gặp những trường hợp như vậy tôi đã tiến hành điều trị bằng một
trong những phác đồ như sau:
Anti - CRD 2 g/1 lít nước uống, B.complex 1gam/3 lít nước uống.
Tylosin 98 % 2 g/1 lít nước uống, B.complex 1gam/3 lít nước uống.
WA.Doxytylan 1 g/5kgTT/ngày.
Sử dụng trong 3 - 5 ngày liên tục thì gà khỏi bệnh. Trong các phác đồ
đã sử dụng tôi nhận thấy phác đồ Tylosin 98 % 2 g/1lít nước uống, B.complex
1 g/3 l nước uống có hiệu quả cao hơn cả, gà khỏi bệnh nhanh với tỷ lệ khỏi
bệnh cao tới 99,0%.
* Bệnh ở gia súc:
Chăm sóc nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho đàn gà đẻ.
Thiến lợn đực.
Mổ hecni cho lợn.
Thụ tinh cho lợn.
Đỡ đẻ cho lợn.
Phun thuốc sát trùng vệ sinh chuông trại chăn nuôi.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được trình bày tại bảng 1.3. 12
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Đơn vị
Số
lượng
Kết quả (An toàn, khỏi)
Số lượng Tỷ lệ (%)
1. Phòng bệnh bằng vaccine An toàn
Marek’s Disease vaccine Con 1000 1000 100
Vaccine Gumboro Con 1000 1000 100
Chủng đậu Con 1000 1000 100
Tiêm vaccine Newcastle Con 1100 1100 100
Tụ huyết trùng trâu, bò Con 550 550 100
Lở mồm long móng Con 550 550 100
Tụ huyết trùng lợn Con 780 780 100
Dịch tả lợn Con 780 780 100
2. Điều trị bệnh Khỏi
Cầu trùng gà Con 81 73 90,12
Bạch lỵ gà Con 67 60 89,55
1.5.3. Đề nghị
Xuất phát từ thực tế tại cơ sở, qua phân tích đánh giá bằng những hiểu
biết của mình, tôi có một số kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động chăn nuôi
của người dân tại huyện Trùng Khánh như sau:
Địa phương cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tiêm phòng định kỳ
hàng năm cho đàn gia súc, gia cầm.
Tăng cường công tác kiểm dịch, vệ sinh thú y, xây dựng vùng an toàn
dịch bệnh.
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật,
công nghệ mới vào phục vụ sản xuất.
Tiếp tục tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, có thời gian củng cố kiến thức
học hỏi kinh nghiệm thực tế sản xuất và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.
14
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà và biện pháp phòng trị
tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”.
2.1. Đặt vấn đề
2.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và
của huyện Trùng Khánh nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Các
sản phẩm của nó không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác. Điều này đòi hỏi sự nâng cao
không ngừng về số lượng và chất lượng của gia cầm, đem lại nguồn thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Để thực hiện
được điều đó, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã sớm áp dụng các tiến bộ của
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc chăm sóc và phòng bệnh cho gia cầm có ý
đổi chất lớn, thân nhiệt cao từ 40 - 42
0
C, gia cầm sinh trưởng nhanh, khối
lượng gà hướng thịt Broiler lúc 50 ngày tuổi gấp 40 đến 50 lần trọng lượng
khi mới nở (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [3].
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hô
hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục. Nhưng cấu tạo giải phẫu sinh lý gia cầm lại
có nhiều điểm khác với gia súc. Đặc biệt là hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ sinh
dục… trong đó:
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí
chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn
của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường.
Hệ tiêu hóa: cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng, nó bao gồm:
khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ,
ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan.
Cấu tạo chức năng của bộ máy tiêu hóa cũng có những đặc điểm riêng
biệt. Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, khoang miệng không có răng và môi. Mặt
trên lưỡi có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về
phía thực quản, thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được nước bọt thấm
trơn để dễ nuốt. Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản phình to tạo thành
diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi
khuẩn trong thức ăn, nhờ men amilaza tinh bột được phân giải thành gluco. Ở gà
không có phản xạ nôn, thức ăn ở diều không trở lại miệng được.
16
Sau một thời gian lưu ở diều, thức ăn được làm mềm, xuống dạ dày
tuyến và không giữ lâu ở dạ dày tuyến. Khi được dạ dày tuyến làm ướt, thức
ăn chuyển xuống dạ dày cơ. Ở dạ dày cơ diễn ra đồng thời hai quá trình tiêu
hóa là tiêu hóa men và tiêu hóa cơ học. Các men tiêu hóa được tiết ra từ dạ
dày tuyến thấm vào thức ăn xuống dạ dày cơ. Tại đây sự phân hủy protein