Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, một trong những phương tiện thanh toán không
dùng tiền mặt được lưu hành trên toàn thế giới đó là thẻ ngân hàng. Ngày nay
việc sử dụng thẻ và công cụ thanh toán qua ngân hàng đã trở nên rất phổ biến.
Thẻ ngân hàng là một sản phẩm dịch vụ độc đáo và được xem là phương tiện
thay thế hàng đầu trong các giao dịch thanh toán. Ngay từ khi ra đời vào những
năm 50, với tính linh hoạt và tiện ích mà nó mang lại cho các chủ thể, thẻ ngân
hàng đã chinh phục được ngay cả những khách hàng khó tính nhất và ngày càng
khẳng định vị trí quan trọng trong hoạt động thanh toán của ngân hàng.
Thập kỷ 90 đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của toàn bộ nền kinh tế
Việt Nam nói chung và ngành Tài chính – Ngân hàng nói riêng. Hàng loạt các
dịch vụ mới đã được đưa vào ứng dụng thử nghiệm và trong đó có dịch vụ thẻ tín
dụng, đã mở ra những cơ hội kinh doanh và sức bật mới cho ngành Ngân hàng.
Dịch vụ thẻ ngân hàng đã được phát triển ở Việt Nam trong khoảng một
chục năm trở lại đây từ năm 1996. Nó đáp ứng được phần nào nhu cầu thanh
toán của người dân Việt Nam đồng thời mở ra cho các ngân hàng Việt Nam các
cơ hội lớn cũng như những thách thức trong việc hoàn thiện dịch vụ ngân hàng
để có thể cạnh tranh trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, do
thói quen tiêu dùng tiền mặt của đại đa số người Việt Nam nên thẻ ngân hàng
chưa được phát triển rộng rãi. Các hình thức dịch vụ vẫn còn đơn giản.
Mặc dù ở Việt Nam hiện nay, kinh doanh thẻ không còn là một lĩnh vực
hoàn toàn mới mẻ, song thẻ ngân hàng vẫn chưa phải là một phương tiện thanh
toán thay thế hoàn toàn cho tiền mặt. Việc phát triển thị trường thẻ ngân hàng
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cũng như mở rộng dịch vụ kinh doanh thẻ của các ngân hàng Việt Nam hiện nay
đang còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đây chính là vấn đề mà các
ngân hàng Việt Nam cần phải nhanh chóng tìm ra phương hướng hữu hiệu để
giải quyết.
Hà Nội tháng 4/2008.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT
HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1. Ngân hàng Thương mại và vai trò của Ngân hàng Thương mại
trong nền kinh tế.
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ
trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có
thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại dịch vụ mà chúng cung cấp.
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
Vậy có thể định nghĩa, ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực
hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng
tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các
dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có
hiệu quả.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
4
nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền, dùng để thanh toán cho
các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng.
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi các
doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chi bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Khi ngân hàng mở chi
nhánh, thanh toán qua các ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng tạo nhiều tiện
ích cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào
ngân hàng để nhờ thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất
được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), cho phép
người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra
loại tài khoản tiền gửi này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất
trong công nghiệp ngân hàng.
* Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền mặt của
phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối
liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân
quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách
hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ.
* Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay
với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính
phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân
hàng. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên
tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.
* Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng
rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Trong những năm gần
đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất, với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc
với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế đó là: các cá nhân và tổ chức
tạm thời thâm hụt chi tiêu, họ là những người cần bổ sung vốn; và các cá nhân và
tổ chức thặng dư trong chi tiêu, họ có tiền để tiết kiệm. Hai loại cá nhân và tổ
chức này tạo ra mối quan hệ tín dụng trực tiếp. Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị
nhiều giới hạn do không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian… Điều này
cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính.
Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể làm giảm phí giao dịch và do đó
đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm đồng thời
giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư.
1.1.3.2. Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và dịch vụ. Có nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các
quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần… Nhiều hình thức thanh toán
được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa
các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Như vậy, ngân hàng thương mại thực sự đóng góp một vai trò rất quan
trọng, vì nó đảm nhận giữ cho mạch máu của nền kinh tế được lưu thông, góp
phần thúc đẩy cho hoạt động của một kinh tế.
1.2. Khái quát chung về thẻ ngân hàng.
1.2.1. Lịch sử phát triển của thẻ ngân hàng.
Con người theo sự tiến hoá, vì nhu cầu đòi hỏi đã phát minh ra tiền cắc
(coin), tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu và cũng do nhu cầu đòi hỏi nên đã phát
minh ra thẻ tín dụng. Lĩnh vực thẻ ngân hàng đã trải qua nhiều giai đoạn thử
tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt trong lưu thông, được tiếp thu và ứng dụng
những thành tựu của khoa học công nghệ, thẻ ngân hàng ngày càng được hoàn thiện và
phát triển.
1.2.2. Khái niệm thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho
khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm
vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Đây là một dạng tín
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng tuần hoàn dành cho thanh toán mà khách hàng có thể sử dụng cho mọi loại
giao dịch một cách linh hoạt. Việc trả nợ của khách hàng có thể được thực hiện
một hay nhiều lần theo một thời hạn nhất định và theo một hạn mức được quy
định bởi ngân hàng phát hành thẻ.
Theo “quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng“ ban hành
kèm theo quyết định số 371/1999 QĐ-NHNN ngày 19/10/1999 thì thẻ ngân hàng
là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng sử
dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
1.2.3. Phân loại thẻ.
Có nhiều tiêu thức để phân loại thẻ:
1.2.3.1. Theo công nghệ sản xuất: Có 3 loại:
- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard: Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được
khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay người ta không sử dụng loại thẻ này
nữa vì kỹ thuật quá thô sơ và dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): Dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ
chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20
năm qua nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin trên mặt thẻ không tự
mã hoá được, thẻ chi mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không
áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin…
- Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Loại 2: Được sử dụng không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử
dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với ngân hàng
phát hành thẻ.
1.2.3.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nước: Là loại thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia,
do vậy đồng tiền được giao dịch là đồng bản tệ của nước đó.
- Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các
loại ngoại tệ mạnh để thanh toán.
1.2.3.4. Phân loại theo chủ thể phát hành.
- Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát
hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch và giải trí do
các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn
phát hành như Diners club, Amex…
1.2.4. Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh thẻ.
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng khi mới ra đời có 4 chủ
thể chính đó là: chủ thẻ, ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán và cơ sở
chấp nhận thẻ. Tuy nhiên, khi việc phát hành và thanh toán thẻ được quốc tế hoá
thì có tới 7 bên tham gia ngoài 4 chủ thể trên còn có: người chịu trách nhiệm
thanh toán, ngân hàng đại lý thanh toán và tổ chức thẻ tín dụng quốc tế.
* Chủ thẻ (Card Holder):
Là cá nhân hay người được uỷ quyền được ngân hàng phát hành cung cấp
thẻ và cho phép sử dụng thẻ theo hạn mức tín dụng được cấp. Chủ thẻ sử dụng
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thẻ của mình để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ, các
điểm ứng tiền mặt hoặc sử dụng thẻ để thực hiện giao dịch tại các máy rút tiền tự
động. Chủ thẻ phải ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ngân hàng phát hành