Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, một trong những phương tiện thanh toán không
dùng tiền mặt được lưu hành trên toàn thế giới đó là thẻ ngân hàng. Ngày nay
việc sử dụng thẻ và công cụ thanh toán qua ngân hàng đã trở nên rất phổ biến.
Thẻ ngân hàng là một sản phẩm dịch vụ độc đáo và được xem là phương tiện
thay thế hàng đầu trong các giao dịch thanh toán. Ngay từ khi ra đời vào những
năm 50, với tính linh hoạt và tiện ích mà nó mang lại cho các chủ thể, thẻ ngân
hàng đã chinh phục được ngay cả những khách hàng khó tính nhất và ngày càng
khẳng định vị trí quan trọng trong hoạt động thanh toán của ngân hàng.
Thập kỷ 90 đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của toàn bộ nền kinh tế
Việt Nam nói chung và ngành Tài chính – Ngân hàng nói riêng. Hàng loạt các
dịch vụ mới đã được đưa vào ứng dụng thử nghiệm và trong đó có dịch vụ thẻ tín
dụng, đã mở ra những cơ hội kinh doanh và sức bật mới cho ngành Ngân hàng.
Dịch vụ thẻ ngân hàng đã được phát triển ở Việt Nam trong khoảng một
chục năm trở lại đây từ năm 1996. Nó đáp ứng được phần nào nhu cầu thanh
toán của người dân Việt Nam đồng thời mở ra cho các ngân hàng Việt Nam các
cơ hội lớn cũng như những thách thức trong việc hoàn thiện dịch vụ ngân hàng
để có thể cạnh tranh trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, do
thói quen tiêu dùng tiền mặt của đại đa số người Việt Nam nên thẻ ngân hàng
chưa được phát triển rộng rãi. Các hình thức dịch vụ vẫn còn đơn giản.
Mặc dù ở Việt Nam hiện nay, kinh doanh thẻ không còn là một lĩnh vực
hoàn toàn mới mẻ, song thẻ ngân hàng vẫn chưa phải là một phương tiện thanh
toán thay thế hoàn toàn cho tiền mặt. Việc phát triển thị trường thẻ ngân hàng
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
cũng như mở rộng dịch vụ kinh doanh thẻ của các ngân hàng Việt Nam hiện nay
đang còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đây chính là vấn đề mà các
ngân hàng Việt Nam cần phải nhanh chóng tìm ra phương hướng hữu hiệu để
giải quyết.
Hà Nội tháng 4/2008.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
3
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT
HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng Thương mại và vai trò của Ngân hàng Thương mại
trong nền kinh tế.
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ
trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có
thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại dịch vụ mà chúng cung cấp.
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
Vậy có thể định nghĩa, ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực
hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng
tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
4
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có
nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền, dùng để thanh toán cho
các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng.
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi các
doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chi bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Khi ngân hàng mở chi
nhánh, thanh toán qua các ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng tạo nhiều tiện
ích cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào
ngân hàng để nhờ thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất
được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), cho phép
người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra
loại tài khoản tiền gửi này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất
trong công nghiệp ngân hàng.
* Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền mặt của
phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối
liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân
quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách
hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ.
* Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và cho vay
với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng.
Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân
hàng. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên
tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.
* Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng
rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Trong những năm gần
đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất, với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc
với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế đó là: các cá nhân và tổ chức
tạm thời thâm hụt chi tiêu, họ là những người cần bổ sung vốn; và các cá nhân và
tổ chức thặng dư trong chi tiêu, họ có tiền để tiết kiệm. Hai loại cá nhân và tổ
chức này tạo ra mối quan hệ tín dụng trực tiếp. Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị
nhiều giới hạn do không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian… Điều này
cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính.
Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể làm giảm phí giao dịch và do đó
đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm đồng thời
giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư.
1.1.3.2. Trung gian thanh toán.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
8
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dịch vụ. Có nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các
quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần… Nhiều hình thức thanh toán
được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa
các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Như vậy, ngân hàng thương mại thực sự đóng góp một vai trò rất quan
trọng, vì nó đảm nhận giữ cho mạch máu của nền kinh tế được lưu thông, góp
phần thúc đẩy cho hoạt động của một kinh tế.
1.2. Khái quát chung về thẻ ngân hàng.
1.2.1. Lịch sử phát triển của thẻ ngân hàng.
Con người theo sự tiến hoá, vì nhu cầu đòi hỏi đã phát minh ra tiền cắc
(coin), tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu và cũng do nhu cầu đòi hỏi nên đã phát
minh ra thẻ tín dụng. Lĩnh vực thẻ ngân hàng đã trải qua nhiều giai đoạn thử
tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt trong lưu thông, được tiếp thu và ứng dụng
những thành tựu của khoa học công nghệ, thẻ ngân hàng ngày càng được hoàn thiện và
phát triển.
1.2.2. Khái niệm thẻ ngân hàng.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
10
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho
khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm
vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Đây là một dạng tín
dụng tuần hoàn dành cho thanh toán mà khách hàng có thể sử dụng cho mọi loại
giao dịch một cách linh hoạt. Việc trả nợ của khách hàng có thể được thực hiện
một hay nhiều lần theo một thời hạn nhất định và theo một hạn mức được quy
định bởi ngân hàng phát hành thẻ.
Theo “quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng“ ban hành
kèm theo quyết định số 371/1999 QĐ-NHNN ngày 19/10/1999 thì thẻ ngân hàng
là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng sử
dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
1.2.3. Phân loại thẻ.
Có nhiều tiêu thức để phân loại thẻ:
1.2.3.1. Theo công nghệ sản xuất: Có 3 loại:
- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard: Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được
khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay người ta không sử dụng loại thẻ này
nữa vì kỹ thuật quá thô sơ và dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): Dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ
chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20
năm qua nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin trên mặt thẻ không tự
mã hoá được, thẻ chi mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không
áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin…
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
- Loại 1: Chỉ rút tiền tại những máy tự động của ngân hàng phát hành.
- Loại 2: Được sử dụng không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử
dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với ngân hàng
phát hành thẻ.
1.2.3.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nước: Là loại thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia,
do vậy đồng tiền được giao dịch là đồng bản tệ của nước đó.
- Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các
loại ngoại tệ mạnh để thanh toán.
1.2.3.4. Phân loại theo chủ thể phát hành.
- Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát
hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch và giải trí do
các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn
phát hành như Diners club, Amex…
1.2.4. Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh thẻ.
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng khi mới ra đời có 4 chủ
thể chính đó là: chủ thẻ, ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán và cơ sở
chấp nhận thẻ. Tuy nhiên, khi việc phát hành và thanh toán thẻ được quốc tế hoá
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
thì có tới 7 bên tham gia ngoài 4 chủ thể trên còn có: người chịu trách nhiệm
thanh toán, ngân hàng đại lý thanh toán và tổ chức thẻ tín dụng quốc tế.
* Chủ thẻ (Card Holder):
Là cá nhân hay người được uỷ quyền được ngân hàng phát hành cung cấp
thẻ và cho phép sử dụng thẻ theo hạn mức tín dụng được cấp. Chủ thẻ sử dụng
thẻ của mình để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ, các
điểm ứng tiền mặt hoặc sử dụng thẻ để thực hiện giao dịch tại các máy rút tiền tự
động. Chủ thẻ phải ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ngân hàng phát hành
* Tổ chức thẻ tín dụng quốc tế.
Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng
lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới
hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và sản phẩm đa
dạng… Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát
hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các
công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối lượng tiền thanh toán giữa
các công ty thành viên.
1.2.5. Các nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh thẻ.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
15
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
Hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại bao gồm hai hoạt
động chính là hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ. Ngoài ra còn có
các dịch vụ hỗ trợ khác như: quản lý rủi ro, maketting và hệ thống công nghệ.
1.2.5.1. Hoạt động phát hành thẻ.
Việc phát hành thẻ phải căn cứ vào luật pháp nước sở tại, các quy định và
luật lệ hiện hành của Tổ chức thẻ tín dụng quốc tế, quy chế về thẻ do tổng giám
đốc ngân hàng đó quy định.
Tại Việt Nam hoạt động phát hành thẻ bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường.
- Thẩm định khách hàng phát hành thẻ.
- Cấp hạn mức tín dụng đối với thẻ tín dụng.
- Thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng.
- In nổi, mã hóa thẻ và tạo số PIN cho khách hàng.
- Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng.
- Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng.
- Quản lý thông tin khách hàng.
- Cung cấp dịch vụ khách hàng.
- Tổ chức thanh toán bù trừ với các tổ chức thẻ quốc tế.
17
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
Quá trình thực hiện hoạt động thanh toán thẻ giữa ngân hàng phát hành
ngân hàng thanh toán và đơn vị chấp nhận thẻ có thể được tiến hành theo hai
cách: Online và Offline, trong đó thanh toán Online với tốc độ và quy trình rất
nhanh chỉ mất 10 giây cho mỗi giao dịch.
1.2.6. Tầm quan trọng của thẻ đối với hoạt động thanh toán qua ngân hàng.
1.2.6.1. Đối với ngân hàng.
Sự phát triển của thẻ ngân hàng đã mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân
hàng đồng thời cũng tác động đến nhiều hoạt động quan trọng khác của ngân
hàng, như việc triển khai các hoạt động thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ
như trả phí bảo hiểm, tiền điện, nước, trả cước điện thoại cố định, điện thoại di động…
Hiện nay, khách hàng chủ yếu sử dụng thẻ ngân hàng nhằm mục đích là
rút tiền mặt, chiếm 60% trên tổng các giao dịch. Do vậy, các khoản giao dịch rút
tiền mặt đem lại một nguồn thu không nhỏ cho ngân hàng.
Các ngân hàng hiện nay cũng đang tính toán chi phí đầu tư vào máy ATM,
máy POS (máy quẹt thẻ), đầu tư vào trang thiết bị, công nghệ thông tin để từng
bước đa dạng hóa các sản phẩm thẻ tạo cho khách hàng nhiều cơ hội được sử
dụng các loại thẻ với nhiều tiện ích khác nhau, từ đó thúc đẩy hoạt động thanh
toán bằng thẻ từng bước thay thế việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông.
Bên cạnh đó, thẻ ngân hàng còn có tầm quan trọng đối với hoạt động của
ngân hàng đó là tạo ra những mối quan hệ hợp tác làm ăn lâu dài. Mối quan hệ
giữa ngân hàng phát hành với ngân hàng thanh toán, với các đơn vị chấp nhận
thẻ, với các đơn vị hoạt động kinh doanh mua bán hàng hóa, dịch vụ và với các
tổ chức thanh toán trên toàn thế giới…
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
18
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
1.2.6.2. Đối với khách hàng.
Thẻ ngân hàng với tư cách là một phương tiện thanh toán dùng thay thế
Khi thanh toán bằng thẻ, các cơ sở chấp nhận thẻ có thể tránh được hiện
tượng khách hàng sử dụng tiền giả. Đồng thời cũng để đảm bảo an toàn cho cơ
sở vì tiền thu của cơ sở sẽ được hạch toán chuyển khoản từ tài khoản của chủ thẻ
sang tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ.
1.2.6.4. Đối với nền kinh tế.
Ở nước ta, thói quen sử dụng tiền mặt đã tồn tại lâu đời và gây ảnh hưởng
không nhỏ tới nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, việc sử dụng thẻ ngân hàng
trong thanh toán chính là biện pháp tốt nhất để làm giảm khối lượng tiền trong
lưu thông, giảm áp lực của tiền trong nền kinh tế dẫn tới kích thích nền kinh tế
phát triển. Nhanh, chính xác, an toàn và văn minh là những tiện ích của việc sử
dụng thẻ mang lại.
Một nền kinh tế phát triển hiện đại luôn sử dụng rất ít tiền mặt, do vậy
việc sử dụng thẻ là một biện pháp giúp Nhà nước giảm nhiểu nhiều chi phí liên
quan tới việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, tính đếm tiền mặt. Nhất là hiện nay,
nền kinh tế của Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, không gian
kinh tế ngày càng mở rộng cùng với quá trình toàn cầu hóa, đòi hỏi các phương
tiện thanh toán phải đáp ứng được với yêu cầu mới đó là nhanh chóng, an toàn
và hiệu quả trong khi đó thì tiền mặt không đáp ứng được những yêu cầu này,
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
20
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
trái lại việc sử dụng quá nhiều tiền mặt có thể dẫn tới tình trạng lạm phát. Do
vậy, việc phát triển rộng rãi thị trường thẻ ở Việt Nam là một yếu tố khách quan.
Việc sử dụng thẻ ngân hàng chính là sự thể hiện sự tiến bộ của xã hội. Nếu
như việc sử dụng thẻ không được quan tâm phát triển thì sẽ kéo theo những mặt
tiêu cực của xã hội như gian lận, thuế thương mại, tham nhũng có cơ hội phát triển…
1.3. Chất lượng hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng Thương mại
tại Việt Nam.
1.3.1. Khái niệm về chất lượng.
Chất lượng là sự trông đợi của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ
được nâng lên, thị phần của từng loại dịch vụ của ngân hàng không ngừng được
giữ vững và tăng lên. Thí dụ như: thanh toán quốc tế, thanh toán thẻ… Để đạt
được mục tiêu đó, tất nhiên là còn tuỳ thuộc vào sự đa dạng dịch vụ, nghiệp vụ
Marketing, uy tín và danh tiếng của ngân hàng, quy mô và mạng lưới của ngân
hàng. Song đương nhiên là chất lượng dịch vụ sẽ tạo lên danh tiếng, uy tín lâu
dài cho ngân hàng, thu hút khách hàng.
1.4. Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kinh doanh thẻ.
1.4.1. Nhân tố khách quan.
Có 4 nhân tố khách quan chính ảnh hưởng trực tiếp và lớn tới chất lượng
hoạt động kinh doanh thẻ đó là:
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
22
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
Thứ nhất, sự cạnh tranh về chất lượng dịch vụ thẻ của các Ngân hàng
thương mại trong thời gian gần đây diễn ra mạnh mẽ. Với nhiều cách thức, tính
chất tiếp thị ngày càng tinh vi hơn, quyết liệt hơn, biểu hiện rõ nét là chính sách
khách hàng sử dụng dịch vụ được chú trọng, mạng lưới chi nhánh được mở rộng
khắp nơi, nhất là khu vực tập trung dân cư có thu nhập cao. Sự cạnh tranh nhiều
khi đến độ gay gắt, phức tạp, làm ảnh hưởng tới tâm lý, khả năng chăm sóc, tiếp
thị của một ngân hàng.
Thứ hai, do chính sách, cơ chế thay đổi. Do chính sách của Chính phủ,
của bộ ngành chủ quản hoặc do chính sách của chính bản thân các ngân hàng
như chính sách đầu tư phát triển, chính sách cơ cấu vốn… từ đó có thể làm cho
hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào sự khách quan gây ra tình trạng bị động
trong việc phát triển dịch vụ này.
Thứ ba, các đơn vị chấp nhận thẻ. Ở Việt Nam, các đơn vị chấp nhận thẻ
tập trung chủ yếu tại các ngành hàng, dịch vụ phục vụ cho người nước ngoài như
hàng thủ công mỹ nghệ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, các đại lý bán vé máy bay.
Các đơn vị chấp nhận thẻ thông qua đó thu hút được một khối lượng khách hàng
lớn, bán được nhiều hàng hơn qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh thẻ,
đảm bảo yêu cầu phục vụ đa dạng các loại hình đối tượng khách hàng là doanh
nghiệp và cá nhân bằng các sản phẩm và dịch vụ phong phú thích hợp với từng
loại đối tượng.
Mai Đức Thọ Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46Q
24
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
* Nguồn vốn.
Nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
động của ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh thẻ nói riêng đó là
nguồn vốn. Một ngân hàng có khối lượng vốn lớn, tăng trưởng không ngừng thì
sẽ đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu của bản thân ngân hàng cũng như nhu cầu
của khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh thẻ, nguồn vốn lớn đảm bảo cho
ngân hàng có thể phát triển các dịch vụ thẻ, cạnh tranh được với các đối thủ trên
thị trường thông qua việc đầu tư các thiết bị máy móc hiện đại, đầu tư để ứng
dụng các thành tựu công nghệ hiện đại, nghiên cứu triển khai xây dựng các hạ
tầng công nghệ, công tác nghiên cứu thị trường, mở rộng mạng lưới liên kết các
cơ sở chấp nhận thẻ, các điểm đặt máy ATM... Ngày nay, hoạt động kinh doanh
thẻ đang là một nhiệm vụ trọng tâm của các ngân hàng, vì vậy để đảm bảo chất
lượng dịch vụ thẻ cũng như vị trí của mình trên thị trường thẻ đòi hỏi các ngân
hàng phải có một nguồn vốn đủ lớn để đáp ứng được yêu cầu của chính các ngân
hàng đó để ra.
* Nguồn nhân lực.
Để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh thẻ, thì các ngân hàng phải quan
tâm tới yếu tố con người đó là các cán bộ thẻ, họ là những người thường xuyên
và trực tiếp tiếp xúc hàng ngày với khách hàng, với toàn bộ hoạt động kinh
doanh thẻ của ngân hàng. Kiến thức chuyên môn về thẻ ngân hàng và ý thức của
đội ngũ cán bộ thẻ là yếu tố phản ánh trực tiếp chất lượng dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp và họ chính là nhân tố quyết định đến sự thành bại của ngân hàng trong
thời buổi cạnh tranh gay gắt nguồn nhân lực ngày nay.