LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay chắc chắn không ai có thể phủ nhận được vai trò quan trọng
của việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ đối với sự tồn tại và phát
triển ổn định của đời sống kinh tế xã hội nói chung và với các doanh nghiệp nói riêng.
Tuy vậy, sự nhận thức của tuyệt đại bộ phận trong chúng ta về vấn đề
chất lượng cho đến nay đều thông qua sự cảm nhận từ thực tế thường là cảm
tính. Muốn nâng cao nhận thức về vai trò của công tác nâng cao chất lượng
cũng như quản lý chất lượng thì điều kiện tiên quyết cần phải nâng cao nhận
thức về mặt lý luận khoa học kết hợp với thực tiễn.
Đến đây ta đặt ra câu hỏi: Cái gì quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp? Câu trả lời ở đây chính là thị trường. Nếu như sản phẩm dịch
vụ của doanh nghiệp mà không được thị trường chấp nhận thì tất yếu doanh
nghiệp đó sẽ đi tới diệt vong. Vậy thì muốn tồn tại và phát triển đi lên thì
không còn cách nào khác là doanh nghiệp phải làm như thế nào đó để thoả
mãn được thị trường bằng chính những sản phẩm và dịch vụ mà họ cung cấp.
Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ vận tải cũng
không nằm ngoài quy luật hà khắc đó. Đặc biệt trong những năm trở lại đây
với chính sách mở cửa của nhà nước thì sức ép của đối thủ cạnh tranh ngày
càng gay gắt dẫn đến thị phần của doanh nghiệp ngày càng bị đe doạ thì việc
nâng cao chất lượng dịch vụ là hết sức cần thiết đối với công ty hiện nay cũng
như trong tương lai. Để làm sáng tỏ vấn đề trên với khoảng thời gian thực tập
tại Công Ty, tôi mạnh dạn đề cập đến công tác quản lý chất lượng hoạt động
dịch vụ của Công Ty với mục đích mở rộng thị phần, với tên đề tài: “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ vận tải nhằm mở rộng
thị trường tại Công Ty Vận Tải và Đại Lý Vận Tải”.
1
Kết cấu đề tài bao gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ, chất lượng dịch vụ và vai trò
của nó đối với việc mở rộng thị trường.
Phần II: Thực trạng chất lượng dịch vụ vận tải và công tác nâng cao
chất lượng hoạt động dịch vụ vận tải taị Công Ty Vận Tải và Đại lý Vận Tải .
người cung cấp cũng hết sức quan trọng do việc cung cấp dịch vụ. Việc cung
cấp hoặc sử dụng sản phẩm hữu hình có thể là một phần của việc cung cấp
dịch vụ. Dịch vụ có thể gắn với việc sản xuất và việc cung cấp, sản xuất sản
phẩm hữu hình.
Ngày nay khó có thể phân biệt rõ ràng lĩnh vức sản xuất và dịch vụ. Mọi
hoạt động sản xuất đều bao gồm cả dịch vụ nhỏ, dịch vụ cung ứng, dịch vụ
phân phối, dịch vụ bảo hành, dịch vụ hướng dẫn lắp đặt, sử dụng. Thậm chí
3
một sản phẩm khi đến tận tay khách hàng sẽ trở thành một dịch vụ và một
dịch vụ thường có bán kèm hàng hóa (đồ ăn, xăng dầu...).
Như vậy, dịch vụ là một hàng hoá đặc biệt. Tuy nhiên nó khác với hàng
hoá vật chất, dịch vụ có những đặc điểm sau đây:
+ Dịch vụ không có hình thức cụ thể, nó thường mang tính vô hình,
chúng ta không thể sờ, nếm và không thể thấy chúng được. Các hình thức hữu
hình như món ăn trong nhà hàng, xe ô tô, các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày
v.v... là để thể hiện dịch vụ nhưng bản thân chúng không phải là dịch vụ. Khi
những thứ này ngừng hoạt động thì ngay lập tức người tiêu dùng không được
hưởng dịch vụ tương ứng. Đặc điểm này làm cho chất lượng dịch vụ chủ yếu
phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng, nhưng không phải bao giờ khách
hàng cũng có sở thích và sự cảm nhận như nhau. Ví dụ: Khi đi ô tô không
phải ai cũng thích sử dụng máy điều hòa.
+ Tính không đồng nhất, các dịch vụ đều có sự biến động lớn so với
các sản phẩm vật chất bởi việc tạo ra chúng bao hàm sự đóng góp cơ bản của
con người và quá trình rất khó tiêu chuẩn hoá kết quả của nó phụ thuộc vào
những người liên quan.
+ Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng diễn ra trong khoảng thời
gian: Quá trình cung cấp dịch vụ với sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào
quá trình. Vì vậy một nhà hàng bán thức ăn ngon nhưng lại bị đánh giá thấp
về chất lượng thấp như việc phục vụ chậm, tính tiền lâu, thái độ nhân viên,
hình thức, đi đứng, nói năng của nhân viên làm phật lòng khách hàng.
- Nền văn minh đã phát triển mức cao.
Từ đó hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, nhận thức của con người
nâng cao lên một cách rất rõ. Cung hàng hoá lớn hơn cầu, nhu cầu của con
người rất cao và yêu cầu đối với sản phẩm đòi hỏi rất khắt khe trong xã hội
văn minh đồng thời tự do thông tin và thương mại toàn cầu dẫn đến việc cạnh
tranh diễn ra ngày càng gay gắt và chất lượng là một yếu tố hàng đầu để đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
5
Chất lượng là gì?
Theo quan điểm triết học, chất lượng là phần tồn tại cơ bản bên trong
của sự vật hiện tượng. Theo Mác thì chất lượng là mức độ, là thước đo giá trị
của một thực thể.
Theo quan điểm của hệ thống XHCN trước đây thì chất lượng sản phẩm
là tập hợp các đặc điểm kinh tế kỹ thuật nội tạng, phản ánh giá trị sử dụng và
chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu cầu đã định trước cho nó
trong những điều kiện về kinh tế kỹ thuật. Theo quan điểm này thì chất lượng
thực sự không gắn với hiệu quả của kinh doanh và điều kiện sản xuất của từng
doanh nghiệp. Hạn chế này do trong các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ
còn tồn tại cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm theo kế hoạch trên giao cho nên chất lượng hàng hoá không phù
hợp với nhu cầu.
Chuyển sang cơ chế thị trường, nhu cầu thị trường được coi là xuất phát
điểm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì khái niệm chất lượng trên
không còn phù hợp nữa. Vì nó không gắn với nhu cầu chiến lược cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Theo Philip Crosby, một nhà quản lý chất lượng người Mỹ nổi tiếng cho
rằng “chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu hay đặc tính nhất định chứ không
phải là sự thanh lịch tao nhã”. Điều này nó khác với các khái niệm truyền
thống về chất lượng mà ở đó không đề cập đến cách thức mà một hạng mục
hàng hoá có thể được tạo ra, hoặc phương pháp mà qua đó các dịch vụ được
phẩm, tức là sản phẩm bao gồm cả dịch vụ. Chất lượng dịch vụ là thoả món
cuả khỏch hàng khi họ cảm thấy đồng tiền mà họ bỏ ra xứng đáng với những
gỡ người cung cấp phục vụ họ
7
Đặc điểm của chất lượng dịch vụ: Do dịch vụ là một loại sản phẩm đặc
biệt, thường là vô hình cho nên chất lượng dịch vụ có đặc điểm riêng của nó
khác chất lượng sản phẩm thông thường.
Một trong những đặc điểm nổi bật cần quan tâm đó là sự ổn định của
chất lượng dịch vụ, sự ổn định xác định mức độ lặp lại của việc cung cấp dịch
vụ hay tại các địa điểm khác nhau cùng cung cấp một loại dịch vụ. Nó bao
hàm việc đạt được sự đồng bộ trong việc cung cấp hay thực hiện của tất cả
các khía cạnh về thời gian, địa điểm, tình huống và người cung cấp dịch vụ.
Sự ổn định không có nghĩa là không phục vụ theo yêu cầu cá nhân của khách
hàng.
- Sự ổn định về địa điểm: Cho dù các chi nhánh, cửa hàng đại lý có quy
mô lớn hay nhỏ đặt ở đâu không phải là yếu tố quyết định tính hiệu suất cuối
cùng và chất lượng dịch vụ. Đây là đòi hỏi phải có sự cung cấp chất lượng sản
phẩm như nhau ở các chi nhánh đại lý doanh nghiệp ở bất kỳ đâu.
- Sự ổn định về sản phẩm phục vụ: Khía cạnh tiếp theo của khả năng
biến động chất lượng dịch vụ đó là chính bản thân sản phẩm nghĩa là có một
sản phẩm được phục vụ tốt với chất lượng tốt ổn định. Vì vậy muốn nâng cao
chất lượng dịch vụ thì cần phải giảm khả năng biến động cho chất lượng sản
phẩm và việc kiểm soát đòi hỏi phải xây dựng trên cơ sở nào đó.
- Sự ổn định về người phục vụ: Sự biến động về dịch vụ bị quyết định
chủ yếu do người phục vụ và người được phục vụ (khách hàng). Do vậy nó là
nguyên nhân giải thích tại sao không thể quản lý, kiểm soát và tiêu chuẩn hoá
được dịch vụ như sản phẩm chế tạo.
Nhìn chung thì khách hàng quen biết thường được đối xử tốt hơn và
nhanh hơn những khách hàng mới và ít đến, những khách hàng lớn thì được
đối xử, quan tâm phục vụ tốt hơn những khách hàng nhỏ. Nhiều khi điều đó
hiện nay lĩnh vực kinh doanh vận tải có một số đặc điểm cơ bản như sau:
9
- Hoạt động vận tải diễn ra trên một phạm vi rộng, phân tán: Đây là một
đặc điểm rất dễ nhận thấy bởi vì bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh
nào cũng cần đến vận tải. Vận tải chuyển nguyên liệu đầu vào đến nơi sản
xuất đồng thời đưa sản phẩm đầu ra tới nơi tiêu thụ.
- Tốc độ vận chuyển phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và thời tiết:
+ Cơ sở hạ tầng gồm: hệ thống cầu, đường giao thông tác động trực
tiếp tới tốc độ, chất lượng vận chuyển trên mặt đất. Nếu chất lượng đường
giao thông kém, hệ thống cầu phà không tốt dẫn đến tắc nghẽn sẽ làm giảm
tiến độ vận chuyển. Mặt khác, chất lượng đường giao thông kém sẽ ảnh
hưởng tới chất lượng hàng hoá được vận chuyển.
+ Thời tiết là yếu tố tác động mạnh tới vận chuyển bằng đường hàng
không, đường biển, đường bộ. Thời tiết xấu các phương tiện vận tải sẽ không
hoạt động được hàng hoá bị ứ đọng không được lưu thông, phân phối trên thị trường.
- Các nguồn hàng, khối lượng hàng hoá và hành khách vận chuyển
ngày càng gia tăng nhưng tỷ lệ tăng thấp hơn so với mức tăng của các phương
tiện, doanh nghiệp vận tải.
- Vốn đầu tư ban đầu cho các phương tiện vận tải nhiều, khấu hao của
phương tiện trong quá trình hoạt động lớn, chi phí giá thành cho vận tải như
chi phí nhiên liệu, giá phụ tùng thay thế, các loại phí, lệ phí đưòng, cầu,...
tăng cao. Phụ tùng thay thể của các phương tiện vận tải hầu như phải nhập từ
nước ngoài nên giá thành tương đối đắt.
4. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ.
Như chúng ta đều biết thì dịch vụ mang tính vô hình. Khách hàng là
người duy nhất đánh giá được chất lượng dịch vụ vì chất lượng giống như sắc
đep, nó phụ thuộc vào mức độ cảm nhận của mỗi người, am hiểu về nó của
mỗi người... Chất lượng dịch vụ không chỉ tuân thủ những đặc tính đơn thuần
mà còn là sự tuân thủ với các đặc tính do người tiêu dùng đưa ra, yêu cầu giữa
hai đặc điểm này có sự khác biệt, nó thể hiện qua sơ đồ sau:
chức
đến khách hàng thì dù cho hàng vận chuyển có đảm bảo đến đâu hoặc là có
giảm phí chuyên chở đến đâu đi chăng nữa thì khách hàng cũng sẽ rất không
vừa lòng. Hoặc trong nhà hàng nếu thực đơn kê khai các món ăn ngon mà
không đủ khả năng phục vụ thì bản thân khách hàng cảm thấy khó chịu như
thể mình bị lừa. Dịch vụ cả hai trường hợp trên đều không thể có chất lượng
cao được.
Chất lượng dịch vụ được tạo nên bởi các yếu tố sau đây:
4.1. Thành phần hữu hình.
Là thành phần trông thấy được của dịch vụ như trang thiết bị, phương
tiện vật chất... do con người tạo ra và cung cấp chúng. Vì bản thân dịch vụ là
một quá trình chứ không phải là vật thể cho nên khách hàng không thể cảm
nhận được về mặt vật chất và rất khó có thể cảm nhận được về mặt tiếp xúc.
Cho nên khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ không qua thành phần hữu
hình.
Thành phần hữu hình tạo nên chất lượng dịch vụ một cách trực tiếp và
gián tiếp. Trực tiếp là chất lượng của phương tiện vật chất, gián tiếp là chất
lượng thông qua phương tiện vật chất dẫn tới yếu tố tâm lý cảm thấy tốt hơn.
Một cách để tạo ra ấn tượng dịch vụ là chú ý đến những chi tiết nhỏ,
tưởng chừng như không quan trọng lắm, thậm chí nó dường như không liên
quan nhưng cũng lại có thể tạo nên một ấn tượng về chất lượng với khách
hàng. Ví dụ: tại một nhà hàng khi khách hàng bước vào khu vực bảo vệ sẽ tạo
cho khách hàng một ấn tượng thật dễ chịu ngay từ ban đầu cho dù có thể phải
chờ. Bãi để xe thật an toàn rộng rãi khiến khách cảm thấy yên tâm khi tiêu
dùng dịch vụ cũng như tạo một số ấn tượng tốt để có lần tiêu dùng tiếp theo.
Các bộ phận hữu hình tác động đến sự nhận thức với chất lượng dịch
vụ theo hai cách như đã nói ở trên. Thứ nhất ta đưa ra một sự gợi ý mở đầu về
bản chất và chất lượng dịch vụ. Ví dụ: sàn nhà được lau sạch bóng ở một
12
quầy giao dịch sẽ gây thiện cảm cho khách hàng tạo một sự thoải mái yên
phục vụ được coi là khác hàng. Lãnh đạo cấp cao muốn thoả mãn khách hàng
bên ngoài thi trước tiên phải thoả mãn khách hàng nội bộ trong doanh nghiệp
theo mức độ giảm dần từ trên xuống.
• Khách hàng
• Người lao động
• Quản lý
• Quản trị cấp cao
Ngoài ra giữa Công Ty, khách hàng và người lao động có mối quan hệ
qua lại.
Tinh thần trách nhiệm còn thể hiện ở chỗ làm sao để chứng tỏ rằng bạn
rất quan tâm đến sự mong muốn của khách hàng cũng như về bản thân khách
hàng. Ví dụ: các nhân viên lễ tân khách sạn Metropole họ đã nhớ chính xác
tên của một khách hàng đã đến cho dù họ chỉ đến vài lần. Sau một thời gian
công tác khách hàng đó quay lại và được các nhân viên đón tiếp rất chu đáo
và gọi với cái tên rất thân mật. Điều này sẽ làm cho khách hàng thực sự xúc
động về sự quan tâm mặc dù mình không phải là khách hàng thường xuyên
nhưng họ vẫn nhớ tên và công việc của mình. Đây là yếu tố tưởng chừng như
không quan trọng nhưng nó đã trở thành yếu tố vô cùng quan trọng đã dẫn
đến thành công trong kinh doanh dịch vụ.
4.4. Sự đảm bảo.
14
Công Ty
Khách h ngà
Người lao động
(Nhân viên)
Thể hiện tác phong lịch sự, tôn trọng khách hàng và thực sự quan tâm
đến khách hàng. Nó liên quan đến tính lịch sự và sáng tạo của nhân viên trong
việc gây dựng được lòng tin cho khách hàng. Khi khách hàng giao dịch với
những người cung cấp dịch vụ vừa có kiến thức chuyên môn lại vừa có tính
lịch sự trong giao tiếp thì họ tin tưởng rằng họ đang làm việc (làm ăn) với đối
được coi là tốt với người này nhưng lại được coi là không tốt với người khác.
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ.
5. 1. Nhóm yếu tố bên ngoài.
5.1.1. Nhu cầu thị trường.
Là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng dịch vụ và hoàn
thiện chất lượng dịch vụ. Cơ cấu, tính chất đặc điểm và xu hướng vận động
của nhu cầu tác động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ. Do đó đòi hỏi phải tiến
hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường,
phân tích môi trường kinh tế xã hội, xác định chính xác nhận thức của khách
hàng, thói quen phong tục tập quán, truyền thống văn hoá lối sống, mục đích
tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, khả năng thanh toán. Khi xác định chất lượng dịch
vụ của mình thì doanh nghiệp cần phải xác định những phân đoạn thị trường
phù hợp để có những biện pháp cụ thể những chỉ tiêu chất lượng đặt ra. Có
như vậy thì mới mang lại được hiệu quả tốt trong kinh doanh dịch vụ.
5.1.2. Trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Nhân tố này tác động như lực đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm thông
qua tạo khả năng to lớn đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên. Tiến
bộ khoa học kỹ thuật làm nhiệm vụ nghiên cứu, khám phá, phát minh và ứng
dụng các sáng chế đó tạo ra và đưa vào sản xuất công nghệ mới, có các chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật cao hơn tạo ra những sản phẩm có độ tin cậy cao, độ
chính xác cao và giảm chi phí để từ đó được sử dụng vào dịch vụ phù hợp với
khách hàng.
16
Công nghệ là tổng hợp các phương tiên kỹ thuật, kỹ năng, phương pháp
được sử dụng để chuyển hoá các nguồn lực thành một loại sản phẩm hoặc
dịch vụ bao gồm bốn thành phần cơ bản:
* Công cụ máy móc thiết bị, vật liệu được coi là phần cứng của công
nghệ.
* Thông tin.
* Tổ chức phương tiện thiết kế, tổ chức, phối hơp quản lý.
5.2.3. Chế độ tiền lương tiền thưởng.
Hiện nay ở Việt Nam chưa khuyến khích được người lao động phát huy
cao trí tuệ, tài năng và công việc được giao, chưa khuyến khích việc áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào dịch vụ, do đó người lao động ít quan tâm đến
việc nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá nghiệp vụ. Tiền lương
thấp chưa công bằng làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn từ đó làm
giảm chất lượng phục vụ của họ dẫn đến chất lượng dịch vụ cũng giảm
xuống.
Tiền tương đóng một vai trò lớn trong việc đảm bảo chất lượng nói
chung và chất lượng dịch vụ nói riêng của doanh nghiệp nó kích thích người
lao động phát huy lao động sáng tạo, nhiệt tình trong công việc, đây là mộ
nhân tố hết sức quan trọng trong vấn đề phục vụ khách. Vì vậy các doanh
nghiệp cần áp dụng các quy chế thưởng phạt về chất lượng dịch vụ một cách
nghiêm minh nhằm thúc đẩy người lao động nâng cao ý thức trách nhiệm, tích
cực học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề.
5.2.4. Khả năng công nghệ và máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng đến mỗi hoạt động dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ cũng
chịu ảnh huởng vào trình độ hiện đại, cơ cấu, tình hình bảo dưỡng duy trì khả
năng làm việc theo thời gian của máy móc thiết bị.
Nói tóm lại khi xem xét đánh giá chất lượng dịch vụ ta đánh giá một
cách toàn diện các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng
dịch vụ. Phải phân tích được các nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến chất
18
lượng dịch vụ và tuỳ theo khả năng, điều kiện cụ thể để đưa qua giải pháp phù
hợp nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Phát huy những ưu điểm và hạn chế
những nhược điểm ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ.
II. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
ĐỐI VỚI VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm, nội dung và sự cần thiết của việc mở rộng thị trường đối
với doanh nghiệp.
nào đó.
Cầu là số lượng của các của cải hoặc dịch vụ mà những người mua đã sẵn sàng chấp
nhận với một giá nào đó.
Cung và cầu gặp nhau ở một giá cân bằng.
Để một thị trường tồn tại và phát triển thì cần có những điều kiện sau:
+ Phải có khả năng thanh toán, tức là phải phù hợp với sức mua.
+ Sản phẩm phải có sức hấp dẫn, tức là phải thoã mãn khác hàng.
1.2. Nội dung của thị trường và phân loại thị trường.
Thị trường là lĩnh vực huyền bí đối với các nhà doanh nghiệp, song nó
cũng là một thực thể có khả năng nhận thức được.
Nếu chúng ta đứng trên các quan điểm khác nhau thì chia thị trường
thành các loại khác nhau.Thông thường người ta căn cứ vào các tiêu thức sau
đây:
+ Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi ta có:
- Thị trường dịch vụ.
- Thị trường hàng hoá (bao gồm các thị trường các yếu tố sản xuất và
thị trường hàng tiêu dùng).
+ Căn cứ vào quan hệ cung cầu ta có:
- Thị trường lý thuyết.
- Thị trường thực tế.
20
- Thị trường tiềm năng.
+ Căn cứ vào vai trò, số lượng người mua và người bán trên thị trường
người ta chia:
- Thị trường độc quyền.
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
1.3. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường đối với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một hệ thống mở, có mục đích, có chỉ huy để đảm bảo
Tải và Đại Lý Vận Tải cũng không nằm ngoài quy luật đó. Thị trường giúp
cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách bình
thường. Nó chính là bộ phận chủ yếu quan trọng của quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp không có thị trường thì việc tiêu thụ sản
phẩm không được thực hiện, lập tức sẽ kéo theo sự ngừng rrên tất cả các hoạt
động kinh doanh. Cụ thể mọi hoạt động của công ty vận tải và đại lý vận tải
sẽ bị ngừng nếu như Công Ty không có thị trường đầu vào và thị trường đầu
ra để thực hiện công việc kiinh doanh của mình. Vì vậy việc mở rộng thị
trường nâng cao vị thế của doanh nghiệp tạo thế lực cho doanh nghiệp thông
qua việc tiêu thụ cho sản phẩm cũng như mở rộng quan hệ với bạn hàng.
Cuối cùng, thị trường có vai trò điều tiết từ đó làm tiền đề cho việc đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm số lượng sản phẩm ngày càng tăng giúp cho quá trình
sản xuất diễn ra được liên tục thông suốt và mục đích cuối cùng là vẫn đem
lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp tạo hướng sản xuất kinh doanh cho doanh
nghiệp.
2. Vai trò của công tác nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ với việc
mở rộng thị trường tại Công Ty Vận Tải và Đại Lý Vận Tải.
Như đã trình bày ở phần trên, việc mở rộng thị trường nâng cao tỉ phần
là hết sức cần thiết và là mục đích vươn tới của tất cả các doanh nghịêp nói
chung và Công Ty Vận Tải và Đại Lý Vận Tải nói riêng. Nhưng muốn đạt
22
được điều này thì đòi hỏi Công Ty phải có hướng đi kế hoạch hướng phát
triển hợp lý.
Chúng ta biết rằng muốn duy trì, mở rộng thị trường thì phải thoả mãn
được những đòi hỏi yêu cầu của thị trường đó. Thoả mãn thông thường không
chưa đủ mà phải thoả mãn được nhu cầu thị trường tốt hơn đối thủ cạnh tranh.
Một yếu tố quyết định để thoả mãn được thị trường là chất lượng hàng hoá
dịch vụ mà Công Ty đưa ra thị trường. Cái mà thị trường cần đó chính là chất
lượng, chất lượng của sản phẩm vật chất thường bị chịu bởi giới hạn trên khả
năng quá trình cụ thể là lực của máy móc thiết bị của một quá trình sản xuất
thành xí nghiệp vận tải nông nghiệp thuộc tổng cục trang bị kỹ thuật - Bộ
nông nghiệp với nhiệm vụ vận chuyển trang thiết bị kỹ thuật và các vật tư
nông nghiệp theo lệnh điều chuyển của Tổng cục trang bị kỹ thuật và của Bộ
nông nghiệp.
Năm 1986 ban đại lý Bộ nông nghiệp sát nhập vào với xí nghiệp vận tải
nông nghiệp, Công Ty Vận Tải và Đại Tý Vận Tải được thành lập trực tiếp
chịu sự quản lý của Bộ nông nghiệp, với nhiệm vụ chủ yếu vẫn là vận chuyển
trang thiết bị, vật tư nông nghiệp theo các chỉ tiêu, điều động của Bộ nông
nghiệp. Ngoài ra Công Ty còn tổ chức làm đại lý vận tải cho các đơn vị khác
trong và ngoài Bộ Nông Nghiệp. Cùng với công cuộc đổi mới, xoá bỏ chế độ
bao cấp, thực hiện chế độ tự chủ hạch toán kinh doanh, các hoạt động vận tải
theo chỉ tiêu, điều động từ cấp trên dần dần không còn, Công Ty Vận Tải và
Đại Lý Vận Tải đã nhanh chóng thích ứng với các điều kiện kinh doanh mới,
24
dần tự khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực cung ứng, tổ chức các
dịch vụ vận tải và mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
Năm 1993 Công Ty được chính phủ cho phép thành lập lại theo nghị
định 388/HĐBT.
Năm 1996 theo chủ trương sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước của
chính phủ, Công Ty chuyển về trực thuộc Tổng công ty xuất nhập khẩu và
chế biến nông sản.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công Ty.
Công Ty có các chức năng, nhiệm vụ chính sau đây:
- Kinh doanh vận tải hàng hoá bằng ô tô. Đây là chức năng nhiệm vụ
chính của công ty ngay từ ngày đầu thành lập. Công Ty tổ chức hoạt động
kinh doanh vận tải ô tô bằng các hình thức:
+ Vận chuyển từ kho tới kho giao nhận hàng.
+ Vận chuyển trung chuyển từ kho tới các địa điểm trung chuyển (ga,
cảng) hoặc từ các địa điểm trung chuyển tới kho giao hàng.
- Đại lý vận tải hàng hoá bằng các phương tiện đường sắt, đường bộ,