Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1. Khái niệm
Thực tế hiện nay không có một khái niệm chung cho tất cả các quốc
gia trên thế giới thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng không thể
phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của các doanh nghiệp này vào sự phát
triển chung của nền kinh tế. Bởi thế, dựa vào đặc điểm, điều kiện kinh tế,
môi trường kinh doanh mà mỗi nước đều xây dựng riêng cho mình một số
những tiêu chí nhất định để đưa ra khái niệm cụ thể về loại hình DNV&N.
Nhìn chung, DNV&N được phân loại dựa trên 2 nhóm tiêu thức phổ biến:
Tiêu chí định tính: tiêu chí này dựa trên những đặc trưng cơ bản như
trình độ chuyên môn hóa thấp, trình độ quản lý chưa chuyên nghiệp… Các
tiêu chí này có thể phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng khó có thể
xác định được chính xác trong thực tế nên thường được ít quốc gia lựa
chọn. Nó chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng.
Tiêu chí định lượng: dựa trên các chỉ tiêu như số lao động, vốn đầu
tư, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng….Các chỉ tiêu này có thể dùng độc
lập hay kết hợp, trong đó số lao động hay vốn sản xuất là các chỉ tiêu phản
ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào; còn doanh thu, lợi nhuận và giá trị
gia tăng phản ánh kết quả đầu ra.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới phân loại DNV&N chủ yếu dựa
trên tiêu chí định lượng:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nước Tiêu chí
Canada Số lao động, doanh thu
Hồng Kông Số lao động
Indonesia Số lao động, tổng giá trị tài sản, doanh thu
đặc trưng về quy mô, các cấp quản trị trung gian không nhiều, chủ doanh
nghiệp nhanh chóng nắm bắt được thông tin chủ động trong việc ra quyết
định mà các DNV&N linh hoạt điều chỉnh mục tiêu, chiến lược và khẩn
trương đi từ quyết định sang hành động. Chính nhờ điều này các DNV&N
cũng dễ dàng thích nghi với các biến đổi của môi trường, của điều kiện
kinh doanh để tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh mà những doanh
nghiệp lớn không muốn tham gia hoặc chưa thể xâm nhập. Nó tạo nên một
lượng cung hàng hóa và dịch vụ phong phú đa dạng đáp ứng đầy đủ kịp
thời nhu cầu sản xuất tiêu dùng dù là nhỏ nhất của mọi tầng lớp trong xã
hội. Do đó việc mở rộng TDNH cho các doanh nghiệp này là khá dễ dàng
và có thể giúp cho NH phân tán rủi ro.
Thứ hai, DNV&N có vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Để thành lập được một doanh nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
không lớn điều này xuất phát từ chính đặc điểm riêng có của loại hình
doanh nghiệp này. Theo kết quả điều tra DN do Tổng cục Thống kê và
Ngân hàng Thế giới tiến hành cho thấy: tại Việt Nam, DN nhỏ và siêu nhỏ
có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tỷ lệ khá cao, tới 41,8%, từ 1-5 tỷ
đồng chiếm 37,03 % và 8,18 % là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng, bình quân số
vốn DNV&N chỉ khoảng 1.800 triệu đồng. Sự chênh lệch về vốn giữa các
DNN&V với các DN lớn và DN Nhà nước là rất đáng kể. Nếu chia tỷ lệ
bình quân thì một DN chỉ có 4 tỷ đồng vốn, trong khi đó với các DN Nhà
nước con số này là 167 tỷ đồng và với DN có vốn đầu tư nước ngoài là 134
tỷ đồng vốn… DNV&N thường có chu kỳ sản xuất ngắn, việc tăng tốc độ
luân chuyển vốn, tăng tốc độ vòng quay vốn không chỉ giúp cho bản thân
doanh nghiệp trong việc quay vòng vốn đầu tư vào công nghệ mới tiến bộ
mà còn là một ưu thế trong việc dễ dàng nhận được nguồn vốn tài trợ từ
NH. Khi NH mở rộng TD cho các DNV&N sẽ có khả năng thu hồi vốn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhanh chóng tiếp tục tái cấp TD để đầu tư vào chu kì kinh doanh tiếp theo,
lớn DNV&N. Việc sử dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới hiện
đại hóa dây chuyền sản xuất đã kéo theo hiệu quả sử dụng vốn thấp, đồng
thời chi phí sản xuất tăng. Đặc biệt ở Việt Nam hiện nay vấn đề này càng
được thể hiện rõ. Theo số liệu thống kê cho thấy hiện nay phần lớn công
nghệ mà các DNV&N Việt Nam đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm,
có khi vài chục năm: 76% thiết bị máy móc thuộc về những năm 50-60,
trong đó hơn 70% đã khấu hao hết, gần 50% máy móc cũ được tân trang
dùng lại. Trình độ kỹ thuật, công nghệ được xem xét qua việc trang bị tài
sản cố định của doanh nghiệp cũng ở mức khá thấp, bình quân 1 lao động
chỉ đạt 152,7 triệu đồng giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Số doanh
nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 86% tổng số
doanh nghiệp. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt
Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Tình trạng này khiến các
doanh nghiệp chưa đủ năng lực tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao
và có khả năng cạnh tranh thắng lợi (ngay cả trong thị trường nội địa) và là
một bất lợi lớn của các DN khi muốn tiếp cận với nguồn vốn vay từ NH.
Thứ năm, DNV&N có năng lực quản lý và trình độ lao động còn hạn chế.
Năng lực của ban lãnh đạo là vô cùng quan trọng trong việc lập
chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý DN. Nhưng thực
tế cho thấy phần lớn chủ các DNV&N thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật
viên tự đứng ra thành lập và vận hành DN. Họ vừa là người quản lý lại vừa
tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn hóa trong quản lý
không cao.
Theo số liệu thống kê, DNV&N nước ta có tới 55,63% số chủ doanh
nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ
doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể,
số người là tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học
37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mỹ, xuất khẩu đóng góp khoảng 25% vào tăng trưởng kinh tế và tạo ra
khoảng 12 triệu công ăn việc làm. Đối với Việt Nam số lượng DNV&N
không ngừng phát triển theo thời gian. Kết quả điều tra của Tổng cục
Thống kê cho thấy, các DNV&N hiện đang chiếm tới 99% số lượng cơ sở
sản xuất kinh doanh của cả nước, 25% tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng
77% lực lượng lao động phi nông nghiệp.
Không chỉ tăng lên về số lượng mà các DNV&N đã có bước phát
triển về chất. Nếu như năm 2006 các DNV&N đóng góp khoảng 25% tổng
sản phẩm xã hội (GDP) thì đến năm 2007 con số này đã lên tới 40% GDP.
Không những vậy tỷ trọng DNV&N tham gia vào các ngành sản xuất cũng
rất lớn như trong công nghiệp chế biến chiếm 86%, trong công nghiệp khai
thác mỏ khoảng 84%, trong sửa chữa lắp ráp cơ khí nhỏ, mô tô-xe máy đồ
dùng chiếm 93%, trong phân phối điện, khí đốt và nước khoáng chiếm
93%.
Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNV&N là những nhà thầu phụ cho
các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm
cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, DNV&N được ví là thanh
giảm sóc cho nền kinh tế.
Những điều này cho thấy các DNV&N hiện nay đang ngày càng giữ
một vị trí quan trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia nói chung và Việt
Nam nói riêng. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho các DN này phát triển là
điều vô cùng cần thiết đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, DNV&N góp phần làm năng động nền kinh tế.
DNV&N có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh hoạt động (xét về mặt lý
thuyết). Với một số lượng lớn và không ngừng gia tăng hoạt động trong
nhiều lĩnh vực các DNV&N đã tạo nên một sự linh hoạt trong kinh doanh
đồng thời tạo nên môi trường cạnh tranh sôi động. Trước sức ép bởi một
khối lượng lớn các DN trên thị trường các DN sẽ phải tích cực nâng cao
phát triển các làng nghề thủ công truyền thống. Qua đó giúp nâng cao đời
sống, trình độ phát triển của địa phương. Cùng với đó có thể hạn chế được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tình trạng mất cân đối về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, giữa
các vùng, giữa thành thị và nông thôn.
Thứ năm, DNV&N tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho
người lao động, từ đó góp phần tăng thu nhập dân cư, ổn định xã hội.
Vấn đề việc làm luôn là vấn đề bức thiết của các quốc gia và các
DNV&N luôn là cửa ngõ đón nhận lực lượng nhân công mới hoặc trước
đây đã bị gạt bỏ trong nền kinh tế. Nếu như ở Mỹ, các DNV&N chiếm tới
99,7% lực lượng sử dụng lao động, tạo công ăn việc làm cho một nửa số
người Mỹ không làm việc trong nhà nước trong khi hàng năm tạo thêm
60% đến 80% số công ăn việc làm mới (ngoài chính phủ) thì tại Việt Nam
các DNV&N đã thu hút 77% lượng lao động. Theo đề án của Chính phủ,
đến năm 2010 cả nước sẽ có 500.000 DNV&N và phấn đấu tạo việc làm
cho khoảng 20 triệu lao động. Đây là một điều có ý nghĩa hết sức to lớn về
mặt phúc lợi xã hội. Việc tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động
không chỉ hạn chế được tình trạng thất nghiệp mà còn góp phần tăng thu
nhập dân cư từ đó tiến tới xóa đói giảm nghèo, phòng tránh được tệ nạn xã
hội. Như vậy, DNV&N là một trong những loại hình mang tính xã hội hóa
cao cần được có sự hỗ trợ và khuyến khích tạo điều kiện phát triển.
1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNV&N
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tín dụng ngân hàng
1.2.1.1. Khái niệm
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại
người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng
với các cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác trong xã hội,
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực
công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn bổ sung
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và
dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao
động, nhiên liệu.
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ
tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản vay để trang trải các chi
phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
- Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại: cho thuê vận
hành và cho thuê tài chính.
b. Theo thời hạn cho vay
Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 3 loại sau:
- Cho vay ngắn hạn
Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay trung
hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố
định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh xây
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể,
mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay. Hoặc
cho vay này được áp dụng theo kỹ thuật thấu chi.
- Cho vay không có thời hạn cụ thể:
Đối với loại cho vay không có thời hạn thì ngân hàng có thể yêu cầu
hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng.
e. Theo xuất xứ tín dụng
Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại.
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán.
Các loại cho vay gián tiếp:
+ Chiết khấu thương phiếu.
+ Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp.
+ Nghiệp vụ thanh tín hay là nghiệp vụ mua các khoản phải thu.
Ngoài các loại cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ
bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao khả năng khả năng tiếp cận vốn
TDNH của các DNV&N
1.2.2.1. Các hình thức TDNH áp dụng đối với DNV&N
a. Cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn của NH dành cho DN thường dùng để đáp ứng
nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Cho vay ngắn hạn được thực hiện thông qua các hình thức:
- Cho vay ứng trước: là phương thức tài trợ trực tiếp cho người đi
nguồn vốn của Nhà nước, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước và doanh
nghiệp cổ phần hoá, 35,24% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số
doanh nghiệp không tiếp cận được. Trong khi đó theo ước tính 80% lượng
vốn cung ứng cho DNV&N là từ nguồn vốn TDNH. Điều này cho thấy
nguồn TDNH với các hình thức đa dạng đang ngày càng giữ một vị trí
quan trọng trong việc tài trợ vốn cho các DNV&N.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển của các
DNV&N.
Để hình thành doanh nghiệp cần có nhiều điều kiện, trong đó điều
kiện đầu tiên và quan trọng nhất chính là vốn. Tình trạng thiếu vốn sản xuất
kinh doanh luôn được coi là khó khăn hàng đầu của các DNV&N. Doanh
nghiệp cần vốn để đầu tư máy móc nhà xưởng, trang thiết bị ban đầu, cần
vốn để phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh… Với tư cách là trung gian
tín dụng, NH đã góp phần đáp ứng được nhu cầu này của doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp ra đời hạn chế về vốn không có khả năng sử dụng
công nghệ hiện đại dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, thiếu
sức cạnh tranh trên thị trường. Nhờ có vốn TDNH đã giúp cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục. Nó
chính là đòn bẩy tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển.
Thứ hai, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Khi sử dụng vốn TDNH, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng
tín dụng đã kí kết, phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đầy đủ đúng hạn. Ngoài ra
các NH khi cho vay cũng tiến hành thẩm định đầy đủ kỹ càng mọi yếu tố
liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là tính hiệu quả, tính khả thi
của phương án, dự án cần vay vốn. Do đó để vay được vốn từ NH, ngay từ
khi thiết lập phương án sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có sự
nghiên cứu, phân tích sâu về mặt hàng dự định sản xuất, về yếu tố kỹ thuật
của phương án, thị trường đầu vào, đầu ra…Hơn nữa, để hạn chế rủi ro tín
thực hiện tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ để
thực hiện cho vay, TDNH còn giúp các DNV&N có khả năng tiếp cận
nhiều hơn các nguồn vốn từ nước ngoài. Nếu chất lượng hoạt động tín dụng
của NH tốt, các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, góp phần tạo ra một cơ
sở hạ tầng tài chính của nền kinh tế vững mạnh, từ đó sẽ tăng cường thu hút
vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, gián tiếp cũng như các nguồn vốn hỗ trợ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phát triển của tổ chức nước ngoài. Và như vậy, nguồn vốn để các DNV&N
phát triển sẽ ngày càng được mở rộng.
1.3. MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNV&N
1.3.1. Sự cần thiết mở rộng TDNH đối với DNV&N
Mở rộng TDNH đối với DNV&N là những hoạt động tín dụng của
ngân hàng nhằm thỏa mãn và mở rộng hơn hữa đối tượng khách hàng là
các DNV&N. Mở rộng TDNH đối với DNV&N là thực sự cần thiết đối với
ngân hàng cũng như bản thân các DNV&N và cả nền kinh tế. Đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay khi đất nước ta đã gia nhập WTO điều kiện bảo hộ
cho thị trường nội địa đã và đang dần bị phá vỡ.
- Đối với Ngân hàng:
Sự đối mặt với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong lĩnh
vực ngân hàng và trong hoạt động tín dụng đã buộc các ngân hàng nước ta
phải không ngừng đổi mới các hoạt động kinh doanh đa dạng hình thức huy
động vốn, các loại hình tín dụng, tăng cường dịch vụ ngân hàng hiên đại,
mở rộng khách hàng, đổi mới, hoàn thiện phong cách phục vụ khách
hàng… Trong đó, việc nghiên cứu mở rộng, đa dạng đối tượng khách hàng
là một hướng đi quan trọng, giúp NH không những phân tán được rủi ro mà
còn góp phần tăng trưởng lợi nhuận. Tiếp cận và cho vay đối với các
DNV&N đang là xu hướng phổ biến của các NHTM hiện nay bởi đây là
đối tượng hết sức tiềm năng. Đặc biệt, hiện nay đứng trước những đối thủ
cạnh tranh là các NH nước ngoài có tiềm lực vốn lớn, trang thiết bị công
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
1.3.2. Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng tín dụng Ngân
hàng đối với DNV&N
Việc mở rộng TDNH đối với DNV&N dược thể hiện thông qua khả
năng thoả mãn ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khác hàng là DNV&N về
khối lượng tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, thông qua việc đa dạng hoá các
sản phẩm tín dụng cho các DNV&N. Trên cơ sở chung đó, mức độ mở
rộng TDNH đối với DNV&N được đánh giá cụ thể qua các chỉ tiêu sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.2.1. Mở rộng số lượng khách hàng là các DNV&N
a. Mức tăng số lượng khách hàng là các DNV&N
M
SL
= S
t
- S
t-1
Trong đó:
- M
SL
: là mức tăng số lượng khách hàng là các DNV&N.
- S
t
: là số lượng khách hàng DNV&N năm thứ t.
- S
t-1
: là số lượng khách hàng DNV&N năm thứ t-1.
b. Tốc độ tăng số lượng khách hàng là DNV&N
100%
giải ngân cho khách hàng DNV&N trong một khoảng thời gian nhất định.
a. Mức tăng doanh số cho vay đối với DNV&N
M
DS
= DS
t
- DS
t-1
Trong đó:
- M
DS
: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNV&N.
- DS
t
: là doanh số cho vay đối với DNV&N năm thứ t.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- DS
t-1
: là doanh số cho vay đối với DNV&N năm thứ t-1.
b. Tốc độ tăng doanh số cho vay đối với DNV&N
100%
DS
M
TL
1t
DS
DS
×=
−
Trong đó:
- M
DN
: là mức tăng dư nợ tín dụng đối với DNV&N.
- DN
t
: là dư nợ tín dụng đối với DNV&N năm thứ t.
- DN
t-1
: là dư nợ tín dụng đối với DNV&N năm thứ t-1.
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về số tuyệt đối của dư nợ tín
dụng đối với DNV&N.
b.Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNV&N
100%
DN
M
TL
1-t
DN
DN
×=
Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng của dư nợ tín dụng đối với DNV&N
năm nay so với năm trước.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
c. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với DNV&N
100%
DN
b. Môi trường chính trị
Trong một môi trường chính trị ổn định, các DNV&N sẽ yên tâm sản
xuất kinh doanh và có khả năng tăng cường mở rộng sản xuất, kết quả kinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh thuận lợi, cầu tín dụng tăng lên và cùng với đó tăng khả năng mở
rộng tín dụng đối với DNV&N.
c. Môi trường pháp lý
Tác động của hoạt động NH đến nền kinh tế luôn mang tính lan
truyền, nhất là những ảnh hưởng tiêu cực sẽ để lại những hậu quả nặng nề,
bởi vậy những hoạt động của NH luôn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của
Nhà nước thông qua công cụ pháp luật. Trong đó, hoạt động TDNH tiềm
ẩn nhiều rủi ro lại càng phải được kiểm soát chặt chẽ hơn, để đảm bảo cho
hoạt động này được diễn ra bình thường trong một khuôn khổ pháp lý nhất
định. Một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với các văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động TDNH liên quan đến việc cấp tín dụng cho
DNV&N sẽ thực sự giúp các NH có cơ sở để tiến hành hoạt động của mình
một cách trôi chảy cũng như có điều kiện để mở rộng TDNH cho các
DNV&N hơn.
d. Môi trường văn hoá – xã hội
Văn hoá – xã hội là một trong các yếu tố hình thành lên những phong
tục, tập quán và những thông lệ trong đời sống thường ngày, trong đó có
thói quen tiêu dùng của người dân. Từ đây, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá
được tạo lập từ những thói quen này và nó ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực
hoạt động, khả năng tiêu thụ hàng hoá của các DNV&N cũng như khả năng
mở rộng sản xuất kinh doanh của DN, do đó ảnh hưởng ít nhiều đến việc
mở rộng TDNH đối với DNV&N. Ngoài ra, môi trường văn hoá – xã hội
này còn tác động đến tư cách đạo đức của người vay hay sự sẵn lòng trả nợ
của người vay, mà đây lại chính là cơ sở cho NH tiếp tục mở rộng TD đối
với khách hàng. Như vậy, yếu tố văn hoá – xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến
Thông qua việc mở rộng, đa dạng linh hoạt các yếu tố trên của chính
sách tín dụng sẽ góp phần tăng sức hấp dẫn đối với khách hàng là
DNV&N, tăng khả năng tiếp cận vốn TDNH của họ và như thế khả năng
mở rộng TDNH cho các DNV&N tăng lên.
b. Chính sách huy động vốn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NH chỉ có thể mở rộng tín dụng khi huy động được lượng vốn lớn và
đa dạng về thời hạn, quy mô. Trên cơ sở đó, giới hạn tín dụng cho các
khách hàng sẽ được mở rộng và các DNV&N có nhiều khả năng tiếp cận
nguồn vốn của NH.
c. Trình độ, năng lực của cán bộ NH
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà NH cung cấp phụ thuộc rất lớn vào
yếu tố con người. Với đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực tốt sẽ giúp NH
nhanh chóng nắm bắt được những diễn biến của thị trường, dự đoán được
những rủi ro có thể xảy ra, từ đó có thể tư vấn cho khách hàng sao cho hoạt
động có hiệu quả cao nhất. Qua đó, NH tạo dựng được niềm tin ở khách
hàng, thúc đẩy khả năng mở rộng hoạt động TDNH, đảm bảo an toàn vốn,
tăng uy tín của NH.
d. Hệ thống thông tin của NH
Thông tin đã trở thành tiền đề thiết yếu trong điều kiện môi trường kinh
doanh luôn biến động. Một hệ thống thông tin chất lượng, phân tích được mọi
diễn biến của thị trường một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời sẽ giúp NH đưa
ra được các quyết định đúng đắn trong lựa chọn khách hàng, mở rộng khả năng
tiếp cận vốn cho các DNV&N thực sự có tiềm năng.
e. Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của NH
Đây là yếu tố đầu tiên tác động vào tâm lý của khách hàng khi có
quan hệ giao dịch với NH. Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tốt sẽ tăng
cường thu hút khách hàng. Từ đó, bên cạnh việc duy trì được mối quan hệ
với những khách hàng truyền thống, NH sẽ tạo lập được cho mình thêm
Mỹ là nước có nền kinh tế mạnh vào bậc nhất thế giới, nhưng các
DNV&N với những đặc tính vốn có của mình gặp rất nhiều khó khăn trong
việc vay vốn của các NHTM. Để giúp đỡ các DNV&N, Chính phủ Mỹ đã
thành lập “Ngân hàng cho doanh nghiệp nhỏ” nhằm cung cấp tín dụng cho
các DN nhỏ với lãi suất ưu đãi và thực hiện các dịch vụ về tín dụng cho các
DN này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368