Website: Email : Tel : 0918.775.368
A.Lời mở đầu:
Doanh nghiệp nào cũng phải đi lên từ nguồn vốn ban đầu, không có một
công ty hay tổ chức nào có thể đi lên mà không có điều kiện ban đầu đó. Một
công ty thành công hay lớn mạnh trước hết là nhờ khả năng huy động vốn và
sau đó chính là sử dụng vốn, hai quá trình này luôn tồn tại và phát triển cùng
nhau, không thể tách rời. Như vậy huy động vốn là một quá trình thiết yếu mà
bất cứ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng phải đối mặt. Trước hết chúng ta
cần tìm hiểu vốn mang vai trò cơ bản nào:
Vốn là một điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp thành
lập và tiến hành các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Tuỳ theo loại hình
doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các hình
thức huy động vốn khác nhau. Trong mọi doanh nghiệp vốn đều bao gồm 2
bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ. Mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều
khoản mục khác nhau tuỳ theo tinh chất của chúng. Mỗi doanh nghiệp sẽ tuỳ
vào khả năng, điều kiện khách quan và chiến lược của mình mà chọn một cơ
cấu vốn cho thích hợp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức
huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn
vốn trong nền kinh tế.
Tuy nhiên việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ
không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố như:
-Trạng thái của nền kinh tế.
-Nghành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
-Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
-Trình độ khoa học- kỹ thuật và trình độ quản lý
-Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Thái độ của chủ doanh nghiệp.
-Chính sách thuế v.v…
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang chi phối toàn bộ nền kinh tế
b, Thực trạng:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ưu điểm: của nguồn này là rất thuận tiện và dễ dàng trong việc huy
động. Thêm vào đó là chi phí của nguồn này thấp, nên đây là nguồn được ưu
tiên hàng đầu.
Nhược điểm:
-Thứ nhất là doanh nghiệp phải đăng ký với nhà nước một số vốn ban
đàu cần thiết và quy mô vốn thường không lớn do bị giới hạn bởi tài sản của
các chủ doanh nghiệp. Do đó thường trong doanh nghiệp, tỉ lệ vốn chủ sở hữu
thường không chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu vốn.
- Thứ 2: Cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh
nghiệp Nhà nước nói riêng chưa có thay đổi phù hợp với tình hình thực tế.
Vd: trong một công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng gớp là yếu tố quyết
định để hình thành công tyu, mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và
chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên,
các công ty cổ phần cũng có 1 số dạng tương đối khác nhau, do đó cách thức
huy động vốn cổ phần cũng khác nhau. Điều này đương nhiên là gây phức tạp
cho các cơ quan quản lý tài chính.
2/Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
a,Định nghĩa :đây là nguồn vốn doanh nghiệp tích luỹ từ hiệu quả sản
xuất kinh doanh, bằng cách lấy lợi nhuận thu được (một phần hay tất cả) đem
đầu tư để tái sản xuất mở rộng.
Phương thức: Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia-nguồn vốn nội bộ là
một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của doanh
nghiệp, vì nó giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí cũng như sự phụ thuộc vào
bên ngoài. Nó có ưu thế hơn vốn chủ sở hữu là quy mô vốn có thể tăng lên
nhờ tăng doanh thu, lợi nhuận, nhờ đó giải quyết vấn đề nhu cầu vốn ngày
càng tăng của doanh nghiệp. Tuy nhiên thì nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
chỉ có thể có khi doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, nghĩa là nếu trong giai
phát hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu được phát hành phân ra làm hai loại là cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên.
Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất, và là chứng khoán
quan trọng nhất được trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu ưu tiên là cổ phiếu có đặc điểm là thường có cổ tức cố định.
Người sở hữu cổ phiếu ưu tiên có quyền được thanh toán lãi trước các cổ
đông khác. Và trong trường hợp doanh nghiệp không đủ tiền trả cổ tức cho
các cổ đông, thì những người nắm cổ phiếu ưu tiên sẽ có quyền được nhận cổ
tức trước, còn lại bao nhiêu mới chia cho các cổ đông khác. Cổ phiếu ưu tiên
thường chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong số cổ phiếu đựoc phát hành.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phương thức:Khi phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải chú ý đến các
yếu tố sau:
-Giới hạn phát hành: là quy định ràng buộc có tính pháp lý, quy định số
cổ phiếu mà doanh nghiệp được phat hành ra thị trường.
-Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư.
-Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường.
-Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty.
-Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của uỷ ban chứng
khoán nhà nước.
-Quyền hạn của cổ đông nắm giữ cổ phiếu
b. thực trạng: thị trường chứng khoán (TTCK) là định chế bậc cao trong
nền kinh tế thị trường, nó đồng thời vừa là thước đo vừa là công cụ phát triển
nền kinh tế cả ở cấp vĩ mô lẫn vi mô. Việc mua cổ phiếu của doanh nghiệp
được phát hành trên TTCK đồng nghĩa với việc nhà đầu tư “bỏ phiếu” lựa
chọn các doanh nghiệp có triển vọng phát triển tốt. Hành động này mang lại
nhiều lợi ích cho nhiều bên. Tuy nhiên, hiệu quả việc phát hành cổ phiếu của
doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào một phía. Trước hết em xin phép nói
về thực trạng về khía cạnh lợi ích:
cũng là một bất cập
II.Nợ:
Để bổ sung cho nguồn vốn kinh doanh, ngoài vốn chủ sở hữu, doanh
nghiệp có thể sử dụng nợ từ 3 nguồn:
1/Vốn vay ngân hàng:
Có thể nói vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng
nhất, không chỉ với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn cả với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các doanh
nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại
cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn. Không một doanh nghiệp
nào có thể tồn tại vững chắc trên thương trường mà không vay vốn ngân
hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về mặt thời gian, vốn vay ngân hàng phân làm 3 loại: vay dài hạn (từ 3
đến 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1năm đến 3 năm), và vay ngắn hạn
(dưới 1 năm). Các tiêu chuẩn này có thể thay đổi tuỳ theo quốc gia, và cũng
có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương mại.
Tuỳ theo mục đích sử dụng tài sản, cũng có thể phân ra làm các loại như
sau: cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay để đầu tư tài sản lưu động, cho
vay để thực hiện dự án. Cũng có những cách phân chia khác như: cho vay
theo nganh kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức bảo đảm tiền
vay. Ưu điểm của nguồn này là có khối lượng huy động khá lớn, đảm bảo có
đủ vốn cho các dự án mở rộng sản xuất, hay đầu tư sản xuất vào chiều sâu của
doanh nghiệp.
Tuy vậy nguồn vốn này vũng có những hạn chế nhất định. Đó là các hạn
chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn
(lãi suất):
-Điều kiện tín dụng: muốn vay vốn của ngân hàng, đầu tiên, doanh
nghiêpj cần đáp ứng các yêu cầu về đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng.
3. Phát hành trái phiếu công ty:
Trái phiếu (còn được gọi là trái khoán) là tên chung của các giấy vay nợ
dài hạn và trung hạn. Trái phiếu bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu
công ty. Trên các nước hiện nay thường lưu hành các loại trái phiếu công ty
như sau:
-Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại thường được sử dụng nhiều nhất,
phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Đặc điểm của loại trái
phiếu này là có lãi suất ghi trên mặt phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ
hạn của trái phiếu. Đồng thời việc thanh toán lãi phiếu cũng được ghi rõ trên
trái phiếu, ví dụ trả 2 lần trong một năm.
-Trái phiếu có lãi suất thay đổi: là loại trái phiếu có lãi suất phụ thuộc
vào một số nguồn lãi suất quan trọng khác, ví dụ lãi suất LIBOR (London
Interbank Offered Rate), hay lãi suất cơ bản Pr (Prime Rate). Loại trái phiếu
này phát huy tính ưu việt của nó trong điều kiện thị trường có mức lạm phát
cao, và lãi suất không ổn định. Tuy nhiên thì nó cũng có một vài nhược điểm:
doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay, gây khó khăn một
phần cho việc lập kế hoạch tài chính. Đồng thời việc quản lý trái phiếu đòi hỏi
nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi
suất.
-Trái phiếu có thể thu hồi: một số doanh nghiệp chọn cách phát hành
những trái phiếu có thể thu hồi được, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào
một thời gian nào đó. Khi phát hành doanh nghiệp phải thông báo rõ thời gian
và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại những trái phiếu đó. Ưu điểm của loại
trái phiếu này là có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn mà doanh
nghiệp sử dụng. Khi không cần thiết, doanh nghiệp có thể mua lại trái phiếu,
tức giảm số vốn vay. Và doanh nghiệp có thể thay đổi nguồn tài chính do phát
hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trái phiếu đó. Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là nếu không có điều kiện gì
dân doanh Việt Nam là lực lượng “sinh sau, đẻ muộn” chưa qua giai đoạn
“tích lũy nguyên thủy”.
Để huy động vốn cho dự án đầu tư, các doanh nghiệp dân doanh nước ta
đang theo những kênh nào?
Kênh thứ nhất
Website: Email : Tel : 0918.775.368