Đề tài: Một số giải pháp nâng cao chất lợng sản
phẩm ở công ty in hàng không
Lời mở đầu
Phần thông tin kinh tế của tờ bu điện Băng kok đã lu ý đại công chúng khi
mua hàng: "Nếu một món hàng nào mà bạn định mua có mức giấ rẻ hơn bình th-
ờng, hãy xem xét kỹ bản hiệu đã chế tạo ra chúng, để có thể thẩm định uy tín về
chất lợng sản phẩm đó đến đâu. Nếu lời mời chào mua hàng quá hoa mỹ, đang
rót vào nhu cầu mua của bạn những lời đờng mật, hãy bình tâm lại để xem xét
tính năng đích thực của hàng hoá đó, cái giá trị tiêu dùng mà bạn phải bỏ đồng
tiền xơng máu ra để mua, chứ không phải cái hộp giấy màu đựng món hàng đó"
(số 6/1998). Trong nền kinh tế thị trờng sôi động nh hiện nay, thông tin kinh
doanh đang đợc lợi dụng để làm giàu, nhiều nhà sản xuất, các đại lý đã có lúc
xem nhẹ những lợi ích đích thực của ngời mua hàng, khi cung ứng cho họ những
sản phẩm không đạt chất lợng. Đặc biệt khi lý thuyết marketing đã thực sự gia
nhập vào đời sống, đã trở thành cứu cánh cho các nhà sản xuất đang cạnh tranh
với nhau quyết liệt, để hòng chia sẽ thị trờng, chiếm đoạt mức lợi nhuận mỗi
ngày một khan hiếm hơn, thì chất lợng sản phẩm từ những ngời sản xuất, có lúc
đã buộc cơ quan pháp luật phải can thiệp. Vì vậy cạnh tranh càng quyết liệt, yêu
cầu nâng cao chất lợng sản phẩm, để thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng, càng phải
tăng lên. Sự đỗ vỡ sự nghiệp kinh doanh của nhiều hãng sản xuất, kể cả những
hãng lớn trên thế giới, cũng bắt đầu từ sự đổ vỡ uy tín về chất lợng sản phẩm, từ
sự xa lãnh của những ngời tiêu dùng, khi nhu cầu của họ không đợc thoả mãn.
Chất lợng sản phẩm là chất keo gắn kết ngời tiêu dùng với các nhà sản xuất, là
uy tín và sự sống còn của các công ty. Ngời bán không vì cái mà họ đang sản
xuất, mà vì cái mà thị trờng đang cần, trong đó trớc hết là giá trị sử dụng và chất
lợng của hàng hoá dịch vụ. Trong phơng châm kinh doanh đó, hành vi bán của
1
ngời sản xuất đã không chỉ vì lợi ích của ngời mua mà trớc hết vì lợi ích sống còn
của chính họ.
Nh vậy chất lợng sản phẩm không chỉ là yêu cầu của tập hợp ngời tiêu dùng,
không chỉ là sự ngang giá cho đồng tiền mà họ đã quyết định bỏ ra để mua hàng,
ờng. Hay nói cách khác thị trờng đã là hàng hoá mọi sản phẩm dịch vụ, đặt các
nhu cầu mua, cũng nh những hành vi sản xuất để bán, dới sự điều tiết khắc nghiệt
của các quy luật kinh tế khách quan của thị trờng. Cũng trong khái niệm đó, sản
phẩm hàng hoá gồm 2 loại: hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình. Hàng hoá vô
hình là những lợi ích mà ngời tiêu dùng có thể nhận đợc khi tiêu dùng chúng, nh-
ng không thể hiện dới dạng vật chất cụ thể. Ngời ta gọi chúng là các dịch vụ.
Hàng hoá hữu hình là những hàng hoá tồn tại dới hình thái vật chất cụ thể mang
ra trao đổi mua bán trên thị trờng. Nhng ngay trong một hàng hoá hữu hình cũng
bao hàm cả yếu tố hữu hình và yếu tố vô hình. Dù là hàng hoá hay dịch vụ, nhu
cầu tiêu dùng (tức là nhu cầu mua và có khả năng thanh toán) chỉ xuất hiện khi
hàng hoá dịch vụ đó đem lại cho ngời mua một hay nhiều lợi ích nào đó. Nh vậy
3
những hàng hoá hay dịch vụ mà ngời kinh doanh đem bán chỉ là phơng tiện
truyền tải những lợi ích mà ngời tiêu dùng chờ đợi. Những lợi ích đó lại phụ
thuộc vào nhu cầu và ớc muốn của ngời tiêu dùng. Do vậy nhiệm vụ đặt ra cho
các nhà kinh doanh là phải xác định chính xác nhu cầu, mong muốn và do đó, lợi
ích mà ngời tiêu dùng cần đợc thoả mãn, để từ đó sản xuất và cung cấp những
hàng hoá và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích cho ngời tiêu dùng.
Hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp cho ngời tiêu dùng đợc xác định bằng
các đơn vị hàng hoá. Đơn vị hàng hoá là một chỉnh thể riêng biệt đợc đặc trng
bằng các thớc đo khác nhau, có giá cả, hình thức bên ngoài và các đặc tính khác
nữa về một sản phẩm hàng hoá. Những yếu tố, đặc tính và thông tin đó đợc sắp
xếp theo 3 cấp độ tơng xứng với tầm quan trọng của các cấp độ đó:
+ Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm - hàng hoá theo ý tởng. Cấp sản phẩm
hàng hoá theo ý tởng có chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi: Về thực chất, sản
phẩm và hàng hoá này thoả mãn những đặc điểm lợi ích cốt yếu nhất mà khách
hàng sẽ theo đuôỉ là gì? Và chính đó là những giá trị mà nhà kinh doanh sẽ bán
cho khách hàng. Những lợi ích cơ bản tiềm ẩn đó có thể thay đổi tuỳ những yếu
tố hoàn cảnh của môi trờng và mục tiêu cá nhân của các khách hàng, nhóm khách
hàng trong bối cảnh nhất định. Điều quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải
một hay nhiều mong muốn của ngời mua chúng. Đây là yếu tố định tính, thờng
chỉ thông qua sự tiêu dùng hàng hoá mới nhận thức đợc một cách toàn diện và
đầy đủ. Hay nói cách khác, chất lợng sản phẩm là cách hiểu, cách đánh giá của
con ngời bằng kinh nghiệm, bằng nhận thức, băng ớc đoán và mang nhiều đặc
tính chủ quan hơn là cách đánh giá và hiểu về số lợng.
Cái còn lại, lu giữ mãi, những ấn tợng sâu sắc tốt đẹp với ngời tiêu dùng về
một sản phẩm của doanh nghiệp nào đó là chất lợng sản phẩm. Ngời tiêu dùng
họ có thể quên kiểu dáng, kích cỡ... của hàng hoá, nhng nhắc đến tên các hãng
sản xuất hay các doanh nghiệp kinh doanh là họ nhớ ngay đến sản phẩm làm ra
với những lời nhận xét mà chỉ chất lợng sản phẩm mới phản ánh đợc. Làm tan vỡ
5
trong họ lòng tin về chất lợng một sản phẩm nào đó, cũng tức là loại bỏ hàng hoá
đó khỏi các nhu cầu tiêu dùng, cũng đồng nghĩa với việc đóng cửa sản xuất. Chất
lợng sản phẩm đã là thớc đo năng lực cạnh tranh, uy tín và khả năng tồn tại của
một doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Bởi vì trong cơ chế thị trờng hiện nay,
rất nhiều các doanh nghiệp mới ra đời, rất nhiều các sản phẩm mới đợ làm ra đa
dạng phong phú, sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt khốc liệt. Đặc biệt khi có sự
trợ giúp của khoa học kỹ thuật công nghệ, một mặt giúp cho các doanh nghiệp có
cơ hội thuận lợi hơn để phát triển, một mặt với sự phát triển nh vũ bão nó lại đặt
các doanh nghiệp trong những tình thế cạnh tranh mới. Các doanh nghiệp luôn
luôn phải đổi mới mọi mặt, thích nghi trong mọi hoàn cảnh mà thị trờng đặt ra
cho nó. Trên thị trờng không chỉ có một ngời sản xuất với một mặt hàng duy nhất
của anh ta. Những ngời cùng sản xuất loại hàng hoá đó, cũng ngấm ngầm tìm
giải pháp tranh giành khách hàng với đối thủ của mình. Họ cũng thay đổi mẫu
mã, hạ giá bán, mời chào ngời mua, hứa hẹn những dịch vụ tốt nhất với khách
hàng "thị trờng giống nh cái sân chơi trên đó các nhà kinh doanh tha hồ thi thố tài
lực của mình. Ai chiếm đợc nhiều phần sân chơi nhất, sẽ hành động thuận lợi,
kinh doanh phát triển, ngợc lại, ai đuối sức hơn, sẽ bị đối thủ cùng chơi lấn át, và
kết cục, anh ta sẽ nhận lấy phần thất bại" (Paul Sammelson - Kinh tế học tập I -
Viện quan hệ quốc tế xuất bản - 1989).
Chất lợng sản phẩm bao trùm trên mọi khâu, mọi giai đoạn của quá trình tái
sản xuất của doanh nghiệp. Mặt khác, chất lợng sản phẩm, từ muôn thủa luôn là
lợi ích của ngời tiêu dùng. Nhng chính nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán
của họ lại trở thành mệnh lệnh và sự quyết định thành bại của các hãng kinh
doanh. Do đó, phơng châm "nâng cao chất lợng sản phẩm" là đặt ra với bất cứ
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào trên thị trờng. Nó giúp cho các doanh
nghiệp đứng vững trong cạnh tranh, đánh bại các đối thủ cùng kinh doanh mặt
hàng đó và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Nâng cao chất lợng sản phẩm, có
thể tập trung vào các vấn đề sau:
(+) Thứ nhất, tăng cờng thiết bị công nghệ kỹ thuật hiện đại. Khoa học kỹ
thuật công nghệ, với sự phát triển nh vũ bão đã thổi vào các doanh nghiệp những
7
luồng sinh khí mới. Nó giúp cho năng suất lao động tăng lên không ngừng, sản
phẩm làm ra ngày một nhiều. Đặc biệt những công nghệ hiện đại đã tạo ra sản
phẩm rất đa dạng phong phú, thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng và khắt
khe của ngời tiêu dùng. Đầu t vào việc mua sắm các thiết bị công nghệ hiện đại
cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tăng cờng năng lực sản xuất, tăng cờng
sức cạnh tranh trên thị trờng. Sản phẩm làm ra đảm bảo độ chính xác cao hơn, có
nhiều tính năng hơn, thu hút khách hàng nhiều hơn, và do đó tạo chỗ đứng vững
chắc trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên khi đầu t mua sắm các thiết bị
công nghệ mới hiện đại phải chú ý một số điểm sau:
- Các thiết bị mua sắm phải phù hợp với tình hình sản xuất chung của doanh
nghiệp. Có nghĩa là các thiết bị lắp đặt phải hài hoà với đầu vào, đầu ra của doanh
nghiệp. Nguyên nhiên vật liệu phải đảm bảo tối u sao cho công suất hoạt động
của máy móc đạt tối đa. Mặt khác, việc tiêu thụ các sản phẩm sản xuất của doanh
nghiệp phải là tốt nhất để thu hồi vốn nhanh, vòng sản xuất của doanh nghiệp
không bị gián đoạn.
- Thiết bị công nghệ đợc mua phải tơng xứng với trình độ hiểu biết và
chuyên môn của ngời lao động trong doanh nghiệp. Có nh vậy họ mới vận hành
máy móc đợc chính xác, sản phẩm làm ra đảm bảo yêu cầu chất lợng.
khả năng và trình độ của họ...
Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà các doanh nghiệp có thể sử dụng biện pháp
đào tạo tại chỗ hay nhờ đào tạo, hay phối kết hợp nhiều biện pháp sao cho hiệu
quả đào tạo là tốt nhất.
(+) Thứ ba, nâng cao chất lợng sản phẩm còn liên quan đến bao bì, mẫu
mã, đóng gói và nhãn hiệu sản phẩm. Sự thay đổi về kiểu dáng, mẫu mã cũng là
một biện pháp lôi kéo các khách hàng tiêu dùng. Mẫu mã, bao gói, nhãn hiệu
phải thay đổi thờng xuyên liên tục đáp ứng thị hiếu của ngời tiêu dùng. Ngời tiêu
dùng a chuộng sản phẩm đẹp về thẩm mỹ, gọn nhẹ về kiểu dáng. Do đó đòi hỏi
các doanh nghiệp có những bí quyết hữu hiệu trong việc thờng xuyên cải tiến
mẫu mã, nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ, không chỉ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tức
9
thời, mà còn kích thích những nhu cầu mới ở dạng tiềm năng khuyếch đại thị tr-
ờng, kể cả những thị trờng "khó tính" mà đối thủ của nó phải bó tay. Thành công
trong cạnh tranh là "Doanh nghiệp biết làm những việc mà doanh nghiệp không
thể làm đợc".
(+) Thứ t, mọi cán bộ, nhân viên doanh nghiệp nh gia đình của mình, họ nỗ
lực vì sự thịnh vợng của doanh nghiệp, đồng thời sự phát triển của doanh nghiệp
lại là tiền đề để tăng thu nhập và những phúc lợi giành cho họ. Bí quyết quản lý
và cách sử dụng con ngời để phát huy hiệu quả các hoạt động kinh doanh hiện đ-
ợc xem là lợi thế cạnh tranh mạnh nhất của các doanh nghiệp. Suy cho cùng,
chiến lợc, sáng tạo những phơng thức kinh doanh độc đáo đều đợc thực hiện bởi
con ngời và vì mục tiêu do con ngời vạch ra. Các doanh nghiệp phải có các chính
sách u đãi, khuyến khích ngời lao động, tạo cho họ niềm say mê gắn bó hơn với
công việc sản xuất. Có nh vậy toàn bộ ngời lao động trong doanh nghiệp mới là
một khối đoàn kết thống nhất, cùng cố gắng nỗ lực cho sự phát triển của doanh
nghiệp.
(+) Thứ năm, để nâng cao chất lợng sản phẩm còn kết hợp nhiều yếu tố
khác nữa. Đó là đẩy mạnh hoạt động của hệ thống dịch vụ Marketing của doanh
nghiệp, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nắm vững thị trờng mà nó đang phục
nhãn mác của ngành. Xởng in là một đơn vị phục vụ, hạch toán phụ thuộc, đáp
ứng một số yêu cầu nhỏ thờng nhật với chất lợng không cao của Tổng cục hàng
không dân dụng. Lúc mới thành lập xởng có 34 cán bộ CNV (chuyển từ Bộ Quốc
phòng sang) với lực lợng thiết bị chính gồm: 3 máy in Typo loại 4 trang, 6 trang
và 8 trang của Trung Quốc, một số máy chữ, hệ thống tạo màu, chế bản nửa cơ
khí. Những thiết bị của xởng in là loại có công suất thấp, đã qua sử dụng nhiều
năm, công nghệ lạc hậu. Mặc dù là một xởng phục vụ cho công tác in ấn của
ngành, nhng nhiều tài liệu, mẫu biểu, đặc biệt là vé máy bay, ngành vẫn phải thuê
ngoài. Trong giai đoạn từ 1985 - 1990, hoạt động của xởng hoàn toàn theo kế
hoạch của Tổng cục, hầu nh không làm dịch vụ cho ngoài ngành, không phải
cạnh tranh, không phải tính toán lỗ lãi. Tổ chức sản xuất và quản lý của xởng vẫn
mang dáng dấp của một đơn vị phục vụ quân đội. Tính chất bao cấp trong sản
12
xuất rất nặng nề. Vốn, thiết bị và nhân lực có đợc sự bổ sung nhng cha thể tạo ra
sự thay đổi lớn về sản xuất kinh doanh của xởng.
Đến năm 1990 do tổ chức lại hoạt động của ngành hàng không dân dụng
theo hớng hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới, các đơn vị phục
vụ, phù trợ của ngành cũng đợc tổ chức lại. Ngày 3 - 3 - 1990 theo quyết định số
174/ TCHK của Tổng cục trởng Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam, xởng
in chuyển thành xí nghiệp in hàng không, là một đơn vị kinh tế hạch toán độc lập.
Cũng năm này, xí nghiệp đợc trang bị một máy in ofset, in màu nhiều trang, vốn
do Tổng cục hàng không dân dụng giao là 300 triệu, tổng số cán bộ CNV là 52
ngời. Một số cán bộ quản lý đợc cử đi đào tạo nâng cao, nhiều công nhân đứng
máy in Typo trớc đây đợc chuyển nghề và nâng cao trình độ để phục vụ máy in
hiện đại hơn. Xí nghiệp đã đảm nhận thêm nhiều phần việc in ấn phục vụ sản
xuất kinh doanh của ngành hàng không dân dụng, kể cả một số dịch vụ trớc đây
phải thuê ngoài. Tuy nhiên, do cha dứt hẳn khỏi cơ chế quản lý bao cấp, đồng
thời năng lực thiết bị và trình độ đội ngũ CNV cha đủ đáp ứng yêu cầu của cơ chế
cạnh tranh, nên sản xuất kinh doanh của xí nghiệp về cơ bản, vẫn là một đơn vị
phục vụ, khép kín, qui mô sản xuất hàng năm cha lớn, cha vơn ra thị trờng đứng
và tổ chức hành chính. Công ty tổ chức quản lý theo mô hình trực tiếp, tham mu.
Giám đốc, với 1 phó giám đốc giúp việc, trực tiếp chỉ đạo sản xuất kinh doanh
đến các phân xởng. Các phòng nghiệp vụ có chức năng tham mu, giúp giám đốc
theo phần việc đã đợc chuyên môn hoá.
Phòng kế hoạch gồm 6 cán bộ nhân viên, có nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch
sản xuất hàng tháng, quí và năm, xây dựng các kế hoạch về vật t, cung ứng, tiêu
thụ những hợp đồng gia công sản xuất với các đơn vị ngoài ngành, làm các cân
đối và giúp giám đốc vạch tiến độ sản xuất kinh doanh cho các bộ phận của công
ty.
14
Tạo mẫu
Chế bản in
In trên máy
Gia công Hoàn thiện SP
Phòng tổ chức hành chính gồm 10 cán bộ, nhân viên giúp giám đốc các
nhiệm vụ về quản lý nhân sự, điều phối lao động thực hiện các chính sách, chế độ
theo qui định của Nhà nớc đối với cán bộ CNV, tổ chức bảo vệ nội bộ, văn th,
hành chính, bảo đảm các điều kiện làm việc cho bộ máy quản lý.
Phòng kế toán có 8 cán bộ, nhân viên giúp giám đốc quản lý và sử dụng các
nguồn tài chính, bảo đảm vốn (bằng tiền và hiện vật) cho sản xuất kinh doanh,
thực hiện các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn, quản lý chi phí tính giá thành,
tính lơng, khấu hao và thực hiện nghĩa vụ về tài chính đối với Nhà nớc. Mô hình
quản lý và tổ chức sản xuất của công ty in hàng không nh sau:
Chi nhánh phía nam đợc tổ chức thành một phân xởng, vừa sản xuất vừa
thực hiện các hoạt động dịch vụ, đại diện và kinh doanh sản xuất. Nhiệm vụ sản
15
Giám đốc
P. Giám đốc
P. kế hoạch P. kế toán
P. TC - HC
từ 45 - 50% khối lợng trang in, một nửa công suất thiết bị và nhân lực của công ty
tuỳ thuộc vào khả năng khai thác từ thị trờng ngoài ngành. Ngoài một số bạn
16