NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.......................................................................4
1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập
WTO.............................................................................................................4
1.1. Tình hình kinh tế chung.....................................................................4
1.2. Tình hình kinh tế ngành.....................................................................6
1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành
phố ở nước ta hiện nay..............................................................................8
1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua
.............................................................................................................8
1.3.2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu..........14
2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của
các địa phương và Thành phố..................................................................17
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của các địa
phương và Thành phố và hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát
triển XK hàng nông sản của các địa phương..........................................22
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng nông
sản...........................................................................................................22
3.1.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô...............................................22
3.1.2. Nhân tố thuộc môi trường ngành.............................................24
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sản phẩm Nông sản các địa phương và
Thành phố của nước ta hiện nay.............................................................25
Nguyễn Ngọc Hưng 1 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.2.1. Các nhân tố tự nhiên................................................................25
3.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội.....................................................26
3.3. Chỉ tiêu cho hoạt động xuất khẩu hàng nông sản.............................28

hưởng đến tình hình xuất khẩu Nông sản của địa phương......................46
2.3. Những thành tựu đã đạt được và những vướng mắc cần tháo gỡ
nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản......................................54
3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của các địa
phương và thành phố trong thời gian qua..............................................56
CHƯƠNG III:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở
NƯỚC TA.............................................................................................64
1. Phương hướng và mục tiêu xuất khẩu nông sản phẩm Việt Nam
trong những năm tới.................................................................................64
1.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh của Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố..............................................................................65
1.2. Đẩy mạnh hoạt động thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương
mại và xây dựng thương hiệu..................................................................68
1.3. Chuyển hướng xuất khẩu theo cam kết WTO..................................69
1.4. Ba yêu cầu cho sản xuất và xuất khâu nông sản năm 2008 ............69
2. Định hướng phát triển xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố...............................................................................70
3. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa phương
và Thành phố trong những năm tới.........................................................75
Nguyễn Ngọc Hưng 3 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.1. Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo của các cán bộ địa phương,
nhằm quản lý có hiệu quả các chương trình và dự án của Nhà nước......75
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của Nông sản các tỉnh và Thành phố.............................................76
3.2.1. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Đắc Lắc............77
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản thông qua xây dựng
các chỉ dẫn địa lý, nhằm nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm gạo

vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ được kỳ vọng sẽ dẫn hướng
nền kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ 8,7% trong năm 2008. Hơn nữa, giá cả các
nông sản ổn định hơn có thể sẽ giúp giảm sức ép lạm phát mà sự phát triển kinh tế
liên tục đã gây ra, phản ánh ở tỷ lệ lạm phát năm 2008 ước tính là 8,1%.
Theo báo cáo của Bộ Công thương và Bộ Kế hoạch-Đầu tư, tính đến hết năm
2007, vốn đăng ký đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt trên 16 tỷ USD so với mức
hơn 10,5 tỷ USD của năm 2006. Dự kiến đến năm 2008, tổng vốn đầu tư nước ngoài
có thể đạt xấp xỉ 29 tỷ USD. Nhiều dự án có quy mô lớn, trị giá trên dưới 1 tỷ USD
được các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam, điển hình tại các địa phương
như TPHCM , TP Hà Nội, Đà Nẵng, Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hậu Giang… Cộng
đồng các nhà tài trợ vừa qua đã cam kết cung cấp tín dụng 5,4 tỷ USD trong năm
2008.
Về xuất khẩu, Việt Nam tăng trên 20% so với năm 2006, trong đó có sự thay
đổi cơ cấu: giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế
tạo. Đối với một số mặt hàng nhập khẩu quan trọng có kim ngạch nhập khẩu cao, ta
còn chủ động cắt giảm thuế xuống thấp hơn mức cam kết trong WTO, chẳng hạn như
thuế nhập khẩu ô tô được giảm thêm 20% so với cam kết, thuế nhập khẩu sữa, các
loại thịt cũng được giảm thấp hơn mức cam kết. Theo đánh giá của Diễn đàn Thương
Nguyễn Ngọc Hưng 5 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mại Liên hiệp quốc, Việt Nam đã vươn lên thành một trong 10 nền kinh tế có triển
vọng thu hút đầu tư nhất trên thế giới.Tuy nhiên, sau 1 năm gia nhập sân chơi toàn
cầu, thủ tục hành chính tại Việt Nam vẫn còn quá rườm rà, nhiều cơ chế, chính sách
đi ngược xu hướng chung của thế giới.
1.2. Tình hình kinh tế ngành
Nông nghiệp Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO đã phát triển theo
hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị xuất khẩu nông nghiệp chiếm
19,8% GDP cả nước, đặc biệt 7 chương trình trọng tâm nhằm tăng cường tính bền
cững cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả, tạo sức bật mạnh mẽ cho
nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện. Về xuất

Vấn đề dịch bệnh trên cây trồng, gia súc, gia cầm và vệ sinh an toàn thực phẩm đang
đặt ra hết sức bức xúc. Thế nhưng, việc hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp
trình độ cao mới chỉ manh nha do quy hoạch và quản lý quy hoạch nông nghiệp kém,
trình độ lao động nông thôn thấp, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học nông
nghiệp và thực tiễn hạn chế... Nhằm khắc phục từng bước những vấn đề còn đang tồn
tại trong năm 2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra 6 nhóm
nhiệm vụ cấp bách cần tập trung chỉ đạo trong năm 2008 để đạt mục tiêu tăng trưởng
3,5%, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,5 tỷ USD. Theo đó, diện tích đất nông nghiệp
trồng cây lương thực (lúa, ngô) sẽ tiếp tục giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng nên
công tác giống chống sâu bệnh được đặt lên hàng đầu để sản lượng của 7,25 triệu ha
lúa đạt 36 – 36,5 triệu tấn, sản lượng ngô đạt 5 triệu tấn. Ngành chăn nuôi chủ yếu
tập trung phát triển mạnh đàn lợn, đàn bò và trâu thịt trong đó đặc biệt lưu ý các biện
pháp đảm bảo an toàn dịch bệnh, đảm bảo tốc độ tăng trưởng 9,4%. Trong đó, sản
lượng thịt hơi đạt 4,18 triệu tấn, sữa tươi 282.000 tấn, thức ăn chăn nuôi là 9 triệu
tấn. Ngành thuỷ sản phấn đấu đạt 4,1 triệu tấn sản phẩm với mục tiêu ổn định khai
thác bền vững, tăng nôi trồng. Bên cạnh đó những chương trình hỗ trợ xuất khẩu,
phát triển thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu, chuyển giao khoa học
công nghệ ...sẽ góp phần duy trì tốc độ phát triển bền vững cho nông nghiệp.
Nguyễn Ngọc Hưng 7 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố ở
nước ta hiện nay
1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua
Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế hàng nông sản Việt Nam đã có mặt
trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển kinh tế đất nước. Lợi thế
phát triển hàng hóa nông sản xuất khẩu của ta có nhiều nhưng cũng không ít khó
khăn, bất lợi – mà điều khó khăn bất lợi đó chúng ta có thể khắc phục được nếu như
chúng ta có biện pháp thích hợp và kiên quyết. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của
quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa

nước ở Châu á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đã thay đổi theo hướng giảm
dần và tăng ở các nước khối EU và Châu Mỹ. Nhìn chung, trong 10 năm qua cơ cấu
thị trường xuất khẩu tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn chậm và
chưa rõ nét, mang nặng tính tình thế, đối phó, nhất là thị trường xuất khẩu nông sản,
các bạn hàng lớn còn ít và không ổn định. Chiến lược thị trường chưa được xây dựng
trên thế chủ động từ các yếu tố lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng.
Trong giai đoạn vừa qua, hàng nông sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam. Bình quân thời kỳ 1997 –
2007 kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản chiếm khoảng 60% và hàng thuỷ sản chiếm
35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm , thuỷ sản. Trong hàng nông sản xuất
khẩu, lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (23,8%), thứ đến là cà phê (13,5%), hạt
điều (4,4%) và cao su (3,2%), còn rau quả chiếm tỷ trọng quá nhỏ ( mới chiếm từ
0.5% đến 1,4%), chưa tương xứng với tiềm năng của ngành. Nhưng xét về tốc độ gia
tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất tương ứng với tiềm năng của ngành.
Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất nhanh, năm
2000 đạt 52 triệu USD, thì năm 2005 là 615 triệu USD và năm 2007 đạt 905 triệu
Nguyễn Ngọc Hưng 9 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
USD tăng gần 1.5 lần so với năm 2005. Thứ đến là hồ tiêu hạt với chỉ số tăng 51%
rồi đến cà phê 28% và cao su 22%.
Bên cạnh những tồn tại về quy mô sản phẩm xuất khẩu còn nhỏ bé, thị phần
trên thị trường thấp, chất lượng sản phẩm còn yếu kém, thì xuất khẩu nông sản của
nước ta còn gặp nhiều khó khăn về giá cả xuất khẩu. Trong thời gian qua, giá cả thị
trường thế giới luôn luôn biến động bất lợi cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam. Việc gấp rút phân tích và đánh giá đúng đắn các lợi thế so sánh và các mặt bất
lợi trong việc phát triển sản xuất- kinh doanh từng loại nông sản xuất khẩu, để đề ra
một đối sách thích hợp là rất quan trọng, tất nhiên phải dựa vào việc xem xét các đối
thủ cạnh tranh, thị trường trong nước và thế giới, về các chi phí cơ hội của từng mặt
hàng trong điều kiện sinh thái tự nhiên và kinh tế – xã hội của nước ta...

được gì, nhưng những nơi này lại là thị trường tiêu thụ lớn và tương đối dễ tính. Các
đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Philipin lại kém lợi thế hơn so với Việt Nam cả về
điều kiện tự nhiên sinh thái, cả về kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và tính cần cù lao
động của người nông dân trong việc tròng trọt các loại rau quả đó.
Thứ tư: Một số ít nông sản được các nước phát triển ở Châu Âu; Bắc Mỹ ưa
chuộng như nhân hạt điều, dứa, lạc lại có thể trồng ở Việt Nam trên các đất bạc màu,
đồi núi trọc ( như điều ) hay trên đất phèn, mặn (như dứa), lạc vụ 3 xen canh nên
không bị các cây trồng khác cạnh tranh, mà trên thực tế vẫn còn có khả năng mở rộng
sản xuất.
Thứ năm: Các nước Đông Âu, SNG và Trung Quốc vốn là thị trường truyền
thống với quy mô lớn và tương đối dễ tính đối với cacs mặt hàng nông sản của Việt
Nam. Mặt khác, trên các nước này hiện có một lượng doanh nhân và doanh nghiệp
Việt Nam đang làm ăn phát đạt ở đó. Đây là một lợi thế lớn để nối lại thị trường tiêu
thụ mà bấy lâu nay nước ta đã bỏ qua chưa khai thác có hiệu quả.
Thứ sáu: Nhiều tư liệu sản xuất dùng trong quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản vẫn còn phải nhập khẩu, mà phần lớn phải nhập với giá cao hơn giá thế giới,
chi phí để sản xuất các loại tư liệu đó trong nước rất cao. Do vậy mở cửa hội nhập
Nguyễn Ngọc Hưng 11 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế, tự do hoá thương mại sẽ làm cho giá nhập khẩu mặt hàng này rẻ hơn, làm cho
giá thành sản xuất và chế biến các loại hàng nông sản phẩm của nước ta giảm xuống
một lượng đáng kể do đó sẽ tạo thêm ưu thế cạnh tranh.
Thứ bảy: Thể chế chính trị ổn định, môi trường đấu tư và hệ thống pháp luật
của Việt Nam ngày càng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng dần với tiến trình tự
do hoá thương mại trong khu vực và toàn cầu.
Những bất lợi:
Thứ nhất: Nhìn chung, tuy Việt Nam đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung nhưng khối lượng hàng hoá còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới
thấp, chất lượng chưa đồng đều và ổn định. Việt Nam chưa hình thành được các vùng
chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy

giữa khâu kỹ thuật với khâu kinh tế... chưa thiết lập được một cách vững chắc để
đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng cũng như hiệu quả sản xuât kinh
doanh hàng nông sản xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường.
Thứ năm: Tuy chủng loại hàng hoá xuất khẩu của ta đa dạng hơn nhưng nhìn
chung thì diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự thay đổi đột biến về chủng
loại, về chất lượng, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào một vài mặt hàng chủ lực, truyền
thống như gạo, cà phê, cao su, hải sản...mà phần lớn chúng ta đều tiềm ẩn nguy cơ
tăng trưởng chậm dần do gặp phải những hạn chế mang tính cơ cấu như diện tích có
hạn, năng suất có hạn.. và khả năng cnạh tranh ngày càng giảm dần.
Thứ sáu: Bộ máy quản lý hành chính Nhà Nước vẫn còn quan liêu trì trệ, chưa
thông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng câc nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài
nước và làm tăng giá thành sản xuất và giá thành sản phẩm xuất khẩu. Do vậy, lợi thế
tiềm năng không được phát huy hết.
Thứ bảy: Trong quá trình tự do hoá thương mại, một số doanh nghiệp kinh
doanh hàng nông sản làm ăn thua lỗ, không có khả năng cạnh tranh sẽ bị phá sản theo
quy định của luật. Điều bất lợi này Việt Nam cũng phải chấp nhận một cách tự
nhiên, bình thường theo vận hành của quy luật kinh tế thị trường. Một số mặt hàng
Nguyễn Ngọc Hưng 13 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nông sản tiêu thụ nội địa trong nhiều năm qua sẽ bị cạnh tranh và dảm dần hoặc mất
thị trường ngay trên quê hương mình. Điều đó cũng dễ hiểu và chúng ta phải chấp
nhận nó như một việc bình thường, không phải chỉ với chúng ta mà đối với tất cả các
nước khác. Nhưng trước mắt, điều bất lợi này sẽ gây ra những tác động tiêu cực tạm
thời cả lĩnh vực kinh tế - xã hội và chính trị.
Tóm lại, xét về tổng thể, hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam tuy đã
đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ và có nhiều lợi thế cần khai thác nhưng vẫn
còn nhiều tồn tại và bất lợi. Những tồn tại và bất lợi này đều có sự liên quan chặt chẽ
với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau đòi hỏi phải được xử lý một
cách dứt điểm và toàn diện.
Nền nông nghiệp Việt Nam đang trên đà phát triển và hoà nhập vào xu thế

có tới 5 mặt hàng là thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị
xuất khẩu từ 1-3 tỷ USD.
Cùng với những ưu thế sẵn có của nông sản Việt Nam, việc gia nhập WTO tiếp
tục tạo đà thuận lợi cho xuất khẩu nông sản. Bên cạnh những bạn hàng truyền thống,
hầu hết các ngành hàng xuất khẩu trong năm nay đều tiếp nhận thêm những bạn hàng
mới. Nếu như nhiều năm trước đây, xuất khẩu cao su của Việt Nam chủ yếu tập trung
vào thị trường Trung Quốc thì năm qua đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Từ đầu năm đến
nay sản lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc giảm chỉ còn khoảng 59%, trong
khi xuất sang các thị trường khác như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Đức lại tăng
đáng kể.
Cà phê đang là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng
nông, lâm sản và là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉ
USD.
Các chuyên gia cho rằng cà phê VN có tính cạnh tranh cao nhờ môi trường và
khí hậu ưu đãi, chi phí sản xuất thấp, sản lượng thuộc hàng cao nhất thế giới. Tuy
nhiên, cà phê VN có chất lượng tương đối thấp do thiết bị chế biến, sấy khô nghèo
nàn, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu. Cà phê VN chưa có thương hiệu và các nhà
Nguyễn Ngọc Hưng 15 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
XK thiếu kỹ năng tiếp thị, do vậy chỉ chào bán được mức giá thấp hơn so với giá
trung bình của thế giới. Song điều quan trọng là VN có tiềm năng nâng cao chất
lượng thông qua việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch, lưu kho và chế biến. Với vị trí
vững chãi đã có trên thị trường thế giới, nếu có chiến lược cải thiện được chất lượng
đúng đắn, cà phê VN sẽ ở hàng "bá chủ".
Bên cạnh đó, sản lượng cao su xuất sang thị trường Malaixia trong năm nay đã
tăng 3 lần so với năm trước và đây được đánh giá là thị trường chiến lược của cao su
Việt Nam trong tương lai.
Với ngành chè, những nỗ lực cải thiện chất lượng chè Việt Nam sau khi gia
nhập WTO còn mang lại kết quả rõ nét hơn. Theo Hiệp hội hội Chè Việt nam, sau
những nỗ lực của ngành chè trong việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế

Thứ ba là công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá thương
hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập.
Thứ tư là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân diện tích đất còn rất thấp, khoảng 0,7-1
ha/hộ, vì vậy muốn sản xuất với quy mô lớn, chất lượng đồng đều là rất khó. Thứ
năm là giá thành sản xuất vẫn còn cao, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa
được quan tâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thị trường…
Để nông nghiệp-nông thôn và nông dân thực sự vững vàng với WTO, thì cùng
với việc quy hoạch, định hướng sản xuất và tăng cường ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực
nông nghiệp, việc tăng cường nâng cao trình độ, năng lực sản xuất, ứng dụng khoa
hoạ kỹ thuật và nắm bắt xu thế thị trường của các doanh nghiệp nông nghiệp và nông
dân vẫn là nhiệm vụ quan trọng.
2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của các địa
phương và Thành phố
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con
người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong
Nguyễn Ngọc Hưng 17 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài
người, không ngành nào có thể thay thế được. Trên 40% số lao động trên thế giới
đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu
phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế.
Chúng ta đều biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp, vấn đề sản xuất và xuất
khẩu nông sản giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp nói riêng và tăng
trưởng kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nổi lên là một
nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới, có những mặt hàng Việt
Nam còn được coi là “đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ tác
động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh, chưa
tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.

khi xuất khẩu nông sản tăng lên, thị trường được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho vùng
đó sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao nhất. Đây cũng là lý do tại sao Việt Nam lại
tạo những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu gạo của đồng bằng sông Cửu
Long, cà phê của các tỉnh miền Trung Tây Nguyên, vải Lục Ngạn, nhãn Hưng Yên,
thanh long Bình Thuận, bưởi Diễn…
Bốn là, xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công nghiệp
chế biến và thị trường, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa
học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh
tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường. Vì vậy, xuất khẩu nông sản tạo điều
kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho nông sản, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát
triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, điều này rất phù hợp với điều kiện
hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, xuất khẩu nông sản còn có vai trò tích cực trong
Nguyễn Ngọc Hưng 19 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc cung cấp thông tin cho người sản xuất, tạo ra sự phù hợp tốt hơn giữa người sản
xuất và thị trường.
Năm là, xuất khẩu nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Xuất khẩu nông sản tăng làm đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm, từ đó góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị cao, đảm bảo vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường thế
giới. Xuất khẩu nông sản tăng hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, tạo
thuận lợi cho việc chăm sóc, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và xoá bỏ dần cách thức sản
xuất manh mún, nhỏ lẻ trước đây.
Từ những vấn đề trên, có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết xuất khẩu nông sản và
tăng trưởng nông nghiệp có mối quan hệ thuận chiều, nhưng trên thực tế các quốc gia

Chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ này ở góc độ trực tiếp hơn, đó là mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản và xuất khẩu nông nghiệp.
Bảng 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng XK nông sản và
tăng trưởng XK nông nghiệp
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Kim ngạch XKNS (triệu
USD) (1)
2396,6 2672,0 3383,6 5463,3 6910,0
TTXKNS (%) - 11,5 26,6 61,5 26,6
Kim ngạch XKNN(triệu
USD) (1)
4616,1 5066,9 5972,5 9023,8 10520,3
TTXKNN(%) - 9,8 17,9 51,1 16,6
Tỷ trọng
XKNS/XKNN(%)
51,9 52,7 56,7 60,5 65,7
Nguồn: (1) Niên giám Thống kê 2007 số liệu từ 2003 – 2007

Từ Bảng 2 có thể nhận thấy, trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, nông
sản chiếm tỷ trọng khá lớn. Năm 2003 tỷ trọng của XKNS/XKNN là 51,9% đến năm
2006 là 65,7%. Điều này nói lên tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản đối với xuất
khẩu nông nghiệp và sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự biến động
Nguyễn Ngọc Hưng 21 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam. Biến động này qua các năm được thể hiện:
năm 2004 tốc độ tăng xuất khẩu nông sản là 11,5% tương ứng tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu nông nghiệp là 9,8%, năm 2005 là 26,6% tương ứng là 17,9%, 2006 là
61,5% tương ứng 51,1% và năm 2007 là 26,5% tương ứng là 16,6%.
Từ việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa xuất khẩu
nông sản và tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam qua một số năm, có thể đưa ra một số

Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường này thường được lưu ý là:
- Quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của đảng
cầm quyền.
- Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm mục tiêu của Chính
phủ và khả năng điều hành của Chính phủ.
- Mức độ ổn định chính trị – xã hội.
- Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã hội.
- Thái độ và phản ứng của dân chúng.
- Hệ thống pháp luật với mức độ hoàn thiện của nó và hiệu lực thực hiện luật
pháp trong đời sống kinh tế xã hội.
c.Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên.
Các yếu tố cơ sở hạ tầng là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động
kinh doanh.Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin,
hệ thống cảng... Các nước có nền kinh tế phát triển thường có hệ thống cơ sở hạ tầng
tốt, đó là một điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Điều kiện tự nhiên là
yếu tố cần được quan tâm, những biến động của tự nhiên như nắng mưa, bão lũ, các
dịch bệnh cần được chú ý để phòng ngừa vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
của nông sản phẩm.
Nguyễn Ngọc Hưng 23 Lớp: Thương mại 46B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
d. Môi trường kinh tế và công nghệ.
Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế và công nghệ đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Các yếu tố thuộc môi trường này quy
định cách thức doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong việc sử dụng tiềm năng của
mình và qua đó cũng tạo cơ hội kinh doanh cho từng mặt hàng xuất khẩu.
Các yếu tố quan trọng của môi trường này và tác động của nó đến cơ hội kinh
doanh:
- Tiềm năng của nền kinh tế: Yếu tố tổng quát, phản ánh các nguồn lực có thể
được huy động và chất lượng của nó: tài nguyên, con người, vị trí địa lý, dự trữ quốc
gia...

Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp.
Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều
kiện tự nhiên nhất định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất, nước và
khí hậu. Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây, con cụ thể trên từng
lãnh thổ, khả năng áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời có ảnh
hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi.
a) Đất đai
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi.
Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất
và sự phân bố cây trồng, vật nuôi. Đất nào, cây ấy. Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ
vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp.Nguồn tài nguyên đất
nông nghiệp trên thế giới rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên, trong khi số
dân vẫn không ngừng tăng lên. Tuy diện tích đất hoang hoá còn nhiều, nhưng việc
khai hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức
và tiền của. Đó là chưa kể đến việc mất đất do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa
Nguyễn Ngọc Hưng 25 Lớp: Thương mại 46B

Trích đoạn Tình hình xuất khẩu hàng nông sản năm 2008 Tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam Thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu của Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status