H Ni 2014
Khảo sát chơng trình đào tạo và định hớng
công việc khi ra trờng của dợc sỹ trung học
tại trờng trung cấp y dợc tuệ tĩnh hà nội
năm 2011-2013 LUN VN DC S CHUYấN KHOA CP 1
CHUYấN NGNH: T CHC V QUN Lí DC
M S: CK60.72.04.12 Ni thc hin: Trng i hyocj Dc H Ni
Trng Trung cp Y Dc Tu Tnh H Ni
Thi gian: thỏng 11/2013 n thỏng 3/2014
Giỏo viờn hng dn: PGS.TS Nguyn Th Thỏi Hng
H Ni 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học lớp chuyên khoa cấp I của Trường Đại học
Dược Hà Nội khóa 15, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ chu đáo, chỉ bảo
trang
1.1
Sơ đồ tổ chức bộ máy của trường Trung cấp Y Dược
Tuệ Tĩnh Hà Nội - năm 2013
21
3.1 Biểu đồ Phân bố trình độ giáo viên cho các ngành học 31
3.2
Biểu đồ cơ cấu giáo viên dược của trường qua
các năm từ 2011 đến 2013
32
3.3 So sánh số học sinh theo học qua 3 năm 2011 - 2013 34
3.4 Biểu đồ mức độ đánh giá giáo trình phục vụ học tập 42
3.5 Biểu đồ so sánh chương trình đào tạo 46
3.6 Tỷ lệ cơ cấu thời gian các môn chuyên môn 48
3.7 Biểu đồ môn học chung học sinh yêu thích 50
3.8 Biểu đồ môn học cơ sở học sinh yêu thích 51
3.9 Tỷ lệ môn học chuyên ngành ưa thích nhất 53
3.10 Biểu đồ phương pháp giảng dạy 54
3.11 Phương pháp học bài của học sinh 56
3.12 Biểu đồ biểu thị tỷ lệ học sinh xếp loại tốt nghiệp 57
3.13 Biểu đồ định hướng lựa chọn ngành Dược 59
3.14
Biểu đồ tỷ lệ học sinh lựa chọn việc làm sau khi ra
trường
60
3.15 Biểu đồ khả năng tìm được việc khi ra trường 61
3.16 Biểu đồ nhu cầu học nâng cao 62
DANH MỤC BẢNG
BYT
Bộ Y tế
CĐ
Cao đẳng
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
CNKT
Công nhân Kỹ thuật
DSTH
Dược sỹ trung học
ĐH
Đại học
GD-ĐT
Giáo dục - Đào tạo
HĐQT
Hội đồng quản trị
HSSV
Học sinh sinh viên
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
KHCN
Khoa học công nghệ
LĐKT
Lao động kỹ thuật
NVSP I
Nghiệp vụ sư phạm 1
NVSP II
Nghiệp vụ sư phạm 2
TCYD
Trung cấp y dược
1.2
Thách thức & giải pháp trong phát triển nguồn nhân lực 11
1.2.1
Những thách thức mới đối với nguồn nhân lực Việt Nam
11
1.2.2
Giải pháp để khác phục khó khăn và yếu kém trong phát
triển nguồn nhân lực
12
1.2.3
Điều kiện thực hiện các giải pháp 13
1.3
Đào tạo nhân lực ngành Dược ở Việt Nam 14
1.3.1
Đường lối chính sách GD ĐT VN 14
1.3.2
Vấn đề đào tạo nhân lực Dược 15
1.4
Đặc điểm Trường trung cấp Y Dược Tuệ Tĩnh Hà Nội 19
1.4.1
Lịch sử hình thành và phát triển nhà trường 19
1.4.2
Chức năng nhiệm vụ của Trường 20
1.4.3
Các hệ đào tạo của Trường
22
1.4.4
Bộ môn Dược của Trường. 23
1.4.5
Giới thiệu tổng quát ngành Dược 23
3.1.2
Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của trường 35
3.2
Khảo sát chương trình đào tạo và định hướng công
việc khi ra trường của học sinh
43
3.2.1
Khung chương trình đào tạo của Trường
43
3.2.2
So sánh chương trình đào tạo của trường với khung của
chương trình của Bộ GDĐT
45
3.2.3
Khảo sát thời gian các môn học chuyên môn của trường 47
3.2.4
Môn học được học sinh thích nhất.
49
3.2.5
Phương pháp giảng dạy của giáo viên 54
3.2.6
Phương pháp học bài của học sinh
55
3.2.7
Tỷ lệ học sinh khá giỏi ra trường năm học 2011 - 2013
57
3.2.8
Định hướng chọn ngành học của học sinh
58
3.2.9
Những năm qua đất nước ta phát triển theo hướng nền kinh tế thị
trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa. Công tác giáo dục - đào tạo nói
chung và đào tạo nhân lực Dược nói riêng chịu sự biến động khá lớn.
Chiến lược phát triển ngành dược giai đoạn 2001 - 2010 được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 15/8/2002 đã nêu rõ: “Tăng cường đào
tạo và đào tạo lại các loại hình cán bộ dược, phát triển đào tạo sau đại
học, phát triển bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn cán bộ nghiên cứu có
trình độ cao…”. [30]
Để thực hiện chiến lược đó, những năm qua các trường Đại học
dược và Trung cấp dược trong cả nước đã đào tạo được nhiều cán bộ,
nhân viên kĩ thuật dược, đáp ứng phần lớn yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, góp
phần quan trọng vào việc xây dựng ngành dược Việt Nam ngày càng vững
mạnh và phát triển. Bên cạnh các trường đào tạo dược sĩ đại học, hệ thống
các trường đào tạo trung cấp dược những năm gần đây đã tăng về số
lượng. Hầu hết ở các tỉnh, thành phố trên cả nước đều có các trường có
chức năng đào tạo trung cấp dược. Ngoài hệ thống trường công nói trên,
để đáp ứng nhu cầu về đào tạo nhân lực dược thì hệ thống các trường Tư
thục có chức năng đào tạo y dược cũng hình thành và phát triển ở 1 số
tỉnh, thành phố như: trường Cao đẳng Asean, trường Cao đẳng Dược Phú
Thọ, trường Trung cấp Y Dược Phạm Ngọc Thạch…
Theo xu thế phát triển chung của xã hội, trường Trung cấp Y dược
Tuệ Tĩnh Hà Nội được UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định thành lập
ngày 25/09/1992 với tên ban đầu: “Trường Trung học Dân lập Y học Cổ
truyền Hà Nội” chuyên đào tạo và nâng cao chuyên ngành Y sĩ Y học Cổ
truyền. Đến năm 2010 trường có thêm mã ngành đào tạo Trung cấp Dược,
2
Y sĩ Đa khoa, Y tá Điều dưỡng. Về lĩnh vực đào tạo dược, đến nay nhà
trường đã và đang tổ chức đào tạo Dược trung học đến khóa thứ 3.
Mục tiêu hoạt động của trường là xây dựng và phát triển trường
Trong xã hội hiện đại, tri thức đã trở thành nguồn của cải quan
trọng, đẩy yếu tố tài nguyên xuống hàng thứ yếu. Nếu trước đây, các nhà
Tư bản nói về của cải là nói tới chế độ sở hữu công cụ lao động, công
nghệ và các nguồn vật lực thì ngày nay, người ta chú ý tới khả năng kiểm
soát tri thức. Một nền kinh tế, trong đó có sự sản sinh, truyền bá và sử
dụng tri thức là động lực chủ yếu của tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm
trong tất cả các ngành kinh tế.
Thực tế cho thấy, quốc gia nào có mặt bằng dân trí cao, có hệ
thống giáo dục hiện đại, chú trọng đầu tư cho con người thì có khả năng
sản xuất ra nhiều tri thức mới và tiến tới làm chủ công nghệ mới, nhất là
công nghệ cao.
Đây là yếu tố tạo ra sự phân hoá giàu nghèo giữa những nước có
tài nguyên tri thức với những nước nghèo nàn về phương diện này. Ví dụ,
Nhật Bản là một nước thiếu sự đa dạng và phong phú các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thế giới,
nhưng bù lại, con người Nhật Bản rất cần cù, thông minh và có tri thức
cao. Đây là hệ quả của một nền giáo dục được chú trọng phát triển từ rất
sớm. Chính yếu tố này đã biến Nhật Bản đi đầu trong lĩnh vực công nghệ
cao và trở thành một trong những nước cường quốc về khoa học, kinh tế
trên thế giới. Như vậy, tri thức là “tài nguyên quý” tạo tiền đề cho sự phát
triển. [1,6,17] 4
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
Cùng với sự phát triển không ngừng về công nghệ và khoa học kỹ
thuật trên toàn cầu trong những thập kỉ đầu của Thế kỉ XXI. Việt Nam
cũng đang phải đối đầu với nhiều thách thức mới, đòi hỏi phải đương đầu
và nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn để thực hiện toàn diện công cuộc
đổi mới trên cơ sở phát huy các thành tựu to lớn của Cách mạng Việt Nam
khoảng thời gian xác định của sự phát triển kinh tế - xã hội. [12,13,14]
1.1.3. Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở
chiến lược phát triển KT-XH, chiến lược phát triển Khoa học Công nghệ
và Giáo dục - Đào tạo không chỉ khuôn vào phạm vi quốc gia mà chịu tác
động của các xu thế toàn cầu. Bởi vậy có một số khái niệm cốt lõi liên
quan tới nguồn nhân lực cần được xác định rõ:
* Nguồn Nhân lực chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực
lượng lao động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ đang
học tập văn hoá và nghề nghiệp để tham gia vào lao động xã hội. Hay nói
cách khác thì nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở là các cá nhân có
vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất
định.
* Nhân lực kĩ thuật chỉ những người trong nguồn nhân lực sau khi
được đào tạo ở một trình độ nào đó trờ thành nhân lực kĩ thuật tham gia
vào dội ngũ lao động xã hội.
Cơ cấu trình độ của đội ngũ lao động kĩ thuật gồm :
- Trình độ sau đại học và đại học
- Trình độ trung cấp kĩ thuật, nghiệp vụ ;
6
- Trình độ công nhân kĩ thuật ở 3 cấp: CNKT bán lành nghề;
CNKT lành nghề; CNKT lành nghề diện rộng.
* Cơ cấu lao động thường được chú ý hình thành cân đối, phù hợp
với đòi hỏi của thị trường lao động, gồm 4 yếu tố là: Cơ cấu trình độ, cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền và cơ cấu xã hội.
* Hệ thống giáo dục quốc dân có vai trò quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nguồn nhân lực tương lai của đất nước kể từ tuổi
niên thiếu đến trưởng thành qua các cấp, bậc học từ phổ thông đến giáo
dục nghề nghiệp và đại học. Quá trình đó tập trung vào mục tiêu đào tạo
CNH, HĐH.
* Có thể nêu một số chỉ tiêu quan trọng của chiến lược phát triển
nguồn nhân lực Việt Nam tới năm 2010 và 2020 như sau :
+ Trên 60% thanh niên từ 18-23 tuổi được đào tạo từ Công nhân
kỹ thuật trở lên, trong đó đại học và cao đẳng là 25%, đưa số sinh viên
trên một vạn dân từ 54,4 người (năm 1995) lên 168 người (năm 2010) và
258,9 người (năm 2020).
+ Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm
việc trong nền Kinh tế Quốc dân tăng từ 11% (năm 1995) lên 22 - 25%
(năm 2000) và 60 - 70% (năm 2020).
+ Số lượng học sinh học nghề, THCN và CĐ, ĐH :
Năm 1995 là 158.000/ 110.000/413.183.
Và dự kiến sẽ là :
Năm 2000 : 2.413.445/ 200.000/ 669.420.
8
Năm 2010 : 3.678.465/400.000/ 1.600.080.
Năm 2020 : 5.286.529/ 600.000/ 2.871.700.
(Trích số liệu từ niên giám thống kê Bộ y tế năm 2010)
Những định hướng chiến lược và một vài số liệu minh hoạ đã
phản ánh quyết tâm cao của Chính phủ Việt Nam trong phát triển nguồn
nhân lực với quy mô lớn, chất lượng cao nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH,
HĐH vào những năm đầu của thế kỉ XXI [9,13,16,19,29]
1.1.4. Hiện trạng phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam
1.1.4.1. Về hệ thống đào tạo
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học có nhiệm vụ trực tiếp
đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trên cơ sở tiếp nhận các sản phẩm từ
giáo dục phổ thông, tốt nghiệp lớp 9 (THCS) hoặc tốt nghiệp lớp 12
(THPT).
Tính đến năm 2010, cả nước có 376 trường đại học và cao đẳng
bảo tiếp thu và phát huy kĩ thuật hiện đại trong nền SX-DV mới.
Đáng lưu ý rằng, cả nước chỉ có khoảng 900 ngàn công nhân kỹ
thuật lành nghề được đào tạo chính quy theo hệ chuẩn Quốc gia, trong đó
chỉ có 8% là công nhân kỹ thuật lành nghệ bậc cao. Số năm được đào tạo
nghề bình quân của một lao động ở Việt Nam chí có 0,222 năm là quá
thấp, đã ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng hoạt động nghề nghiệp và
làm hạn chế khả năng thích ứng với điều kiện sản xuất mới. [10,16,18,28]
* Về cơ cấu trình độ
Tỉ lệ lao động có trình độ CĐ, ĐH/ THCN/ CNKT thay đổi từ 1/
2,25/ 7,1 (năm 1979) đến 1/1,68/2,3 (năm 1989) và 1/1,6/3,6 (năm 1995)
10
và 1/1,33/ 4,17 (năm 2000). Cơ cấu trên cho thấy là rất thiếu CNKT,
những người trực tiếp chuyển giao tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất và đời
sống. Trong khi đó, theo kinh nghiệm của thế giới, mỗi giai đoạn phát
triển của tiến bộ kĩ thuật cần có cơ cấu chất lượng lao động theo các trình
độ thích hợp. Nếu ở giai đoạn 3, từ thủ công lên cơ khí hoá như ở Việt
Nam hiện nay thì cơ cấu đội ngũ lao động cần 1ĐH/4 THCN/20 CNKT
lành nghề/60 CNKT bán lành nghề/15 lao động giản đơn. [17,28,29]
* Về cơ cấu ngành nghề
Là một nước nông nghiệp, có tới 80% dân số sống ở nông thôn và
hơn 72% lao động nông, lâm, ngư nghiệp song chỉ có khoảng 14% tổng số
LĐKT và chi có 5,06% tổng số người có trình độ CĐ, ĐH trở lên thuộc
chuyên ngành Nông - Lâm - Ngư, 2,1% người có trình độ CĐ, ĐH về
chuyên ngành Dược. Trong khi đó, LĐKT lại tập trung chủ yếu vào khu
vực dịch vụ (hơn 52%) và khu vực CN và DV là 34%. Điều này phản ánh
sự bất hợp lí ngay trong cấu trúc ngành nghề đào tạo tại các trường đại
học. Ví dụ : Khối ngành Kinh tế - Luật tăng đột biến và chiếm tỉ lệ cao tới
48%. Trong khi đó, khối ngành Kĩ thuật, Sư phạm và Y tế rất cần cho sự
nghiệp CNH, HĐH và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chi chiếm tỉ lệ thấp
+ Sự gia tăng mạnh của dòng đầu tư nước ngoài tới các nước đang
phát triển bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp.
+ Quá trình Quốc tế hoá ngày càng rộng khắp và những thay đổi
cách mạng của ngành công nghiệp dịch vụ.
+ Cạnh tranh Quốc tế mang những đặc trưng mới và ngày càng
12
quyết liệt trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lao động kĩ thuật và bí quyết công
nghệ.
* Nguồn nhân lực Việt Nam phát triển chủ yếu do hệ thống giáo
dục - đào tạo trong nước, song lại đang trong quá trình giải quyết mâu
thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô, vừa phải nâng cao
chất lượng trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn
chế. [14,17,20,21]
1.2.2. Giải pháp để khắc phục khó khăn và yếu kém trong phát triển
nguồn nhân lực
Những chính sách và giải pháp khả thi mà chính phủ Việt Nam
đang tiến hành đã chú trọng tới việc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
thời gian tới trong đó nổi bật là một số giải pháp đang được định hướng và
triển khai là:
- Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo cho thời kỳ
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đã định hướng cho phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam như là điều kiện tiên quyết của sự thành công. Đảm bảo có
tính pháp lí là việc ban hành Luật Giáo dục của Chủ tịch nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 2/12/1998.
- Củng cố hệ thống Giáo dục nghề nghiệp để đảm bảo đào tạo kỹ
thuật viên và công nhân kỹ thuật với quy mô lớn và chất lượng cao. Trong
đó chú trọng xây dưng cấc trường đào tạo chất lượng cao với chuẩn đào
tạo Quốc gia và Quốc tế.
- Nâng cao chất lượng Giáo dục phổ thông, giải quyết tốt vấn đề
14
1.3. ĐÀO TẠO NHÂN LỰC NGÀNH DƯỢC Ở VIỆT NAM.
1.3.1. Đường lối chính sách GD ĐT VN.
Việt Nam với nền kinh tế còn kém phát triển, sản xuất còn nhỏ lẻ,
trình độ quản lý còn yếu, việc am hiểu luật pháp và thông lệ quốc tế còn
chưa được tốt vốn còn ít, cơ sở vật chất nghèo, cơ sở hạ tầng chưa phát
triển
Luật Giáo dục Việt Nam ra đời cùng lúc xu hướng Toàn cầu hóa
tạo ra cơ hội cho giáo dục - đào tạo của Việt Nam bắt kịp với giáo dục -
đào tạo các nước tiên tiến trên thế giới. Toàn cầu hóa cũng tạo ra sự di
chuyển lao động tự do, khi nền giáo dục - đào tạo có chuẩn mực trong khu
vực và trên trường quốc tế thì không những tăng cường chất lượng lao
động cho thị trường trong nước mà còn tạo ra khả năng cạnh tranh ở thị
trường lao động nước ngoài.
Trong một vài năm nay gần đây, chúng ta đã có một sự chuyển
biến trong nhận thức: đã tập trung đầu tư xây dựng phát triển hệ thống các
trường nghề, các trường kỹ thuật; giáo dục tinh thần doanh nghiệp cho học
sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Xu thế toàn cầu hóa, xã hội hóa
giáo dục bắt buộc nền giáo dục của nước ta phải xây dựng được các nhà
trường đạt chuẩn quốc gia, chuẩn khu vực và chuẩn quốc tế. cần đẩy mạnh
việc cải tiến chương trình và nội dung đào tạo của các bậc học cho phù
hợp với mục tiêu của giáo dục đào tạo cùng với việc cải tiến sáng tạo, độc
lập, linh hoạt, quyết đoán của người học
Các nhà trường phải xây dựng chiến lược phát triển với tầm nhìn
xa, phải đưa ra những giải pháp hữu hiệu, phải thực hiện những biện pháp
hiệu quả, mạnh mẽ và khả thi. Trong đó những giải pháp, biện pháp về
tăng cường nguồn nhân lực cho đào tạo, tăng cường vật chất, trang thiết bị
được quyền lựa chọn lĩnh vực ngành nghề yêu thích kể từ khi bắt đầu năm
học thứ 2.
Phần lớn các nước hiện nay đều xây dựng chế độ học tập liên tục.
Người dược sỹ đại học mới tốt nghiệp có thể học thẳng lên thạc sĩ hoặc
tiến sĩ mà không cần thâm niên công tác.
Các chức danh dược tá và dược sỹ trung học tại các nước không
được đào tạo chính thức theo chuẩn quốc gia mà chủ yếu do hội Dược
hoặc các cơ sở sử dụng nhân lực Dược tự đào tạo. Đây là điểm khác biệt
so với công tác đào tạo ở Việt Nam, dược tá và dược sỹ trung học được
đào tạo theo chuẩn quốc gia. [14,20,27]
* Về đào tạo nhân lực dược tại Việt Nam
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công không được bao lâu,
cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ngành Dược vừa thiếu mhân lực
vừa thiếu trang thiết bị, vật tư, lại thiếu cả kinh nghiệm tổ chức, quản lý
nhưng vẫn phải tổ chức sản xuất thuốc và dụng cụ y tế để phục vụ cho
quân đội và nhân dân.
Công tác đào tạo dược thời kỳ này được đẩy mạnh, các lớp trung
cấp Dược được mở ở Thanh Hoá, dược đại học được mở ở Việt Bắc, các
liên khu mở nhiều lớp dược tá. Tuy nhiên giai đoạn này chưa có một nhà
trường đào tạo dược sỹ trung học nào được thành lập
Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, đã thành lập một số Trường
Trung cấp Y - Dược để đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và chăm sóc sức khỏe nhân đân.
Đó là Trường Trung cấp Dược - Bộ y tế, Trường Trung cấp Quân y, v.v
17
Đầu năm 1961, trường Đại học Dược được tách ra từ trường đại
học Y - Dược. Số lượng học sinh học đại học, trung học ngày càng tăng,
đào tạo được đội ngũ đông đảo cán bộ chuyên môn cho cách mạng giải
phóng miền Nam. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã gửi cán bộ sang Trung