BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Vũ Hữu Chí
KHẢO SÁT CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THUỐC
TẠI TỈNH HÀ NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN 2010
Luận văn chuyên khoa I
Hà Nội - 2013
trình học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn quản lý và Kinh tế
Dược Trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Tổ chức quản lý dược.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS
Thái Duy Thìn - người thầy đã giành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp Dược sĩ chuyên khoa I này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm Kiểm nghiệm
Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm Hà Nam, Ban giám đốc Trung tâm, tập thể các
phòng ban, các phòng chức năng, cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi
điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ, tạo điều kiện quý báu đó!
Hà Nam, tháng 03 năm 2012 DS. Vũ Hữu Chí
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Phần 2. Tổng quan
2
15
2.4.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế 15
2.4.2 Đặc điểm ngành dược Hà Nam 15
Phần 3. Đối tượng, phương pháp, nội dung nghiên cứu
17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
Phần 4. Kết quả và bàn luận
19
4.1 Tổ chức nhân sự
21
4.2 Năng lực kỹ thuật kiểm nghiệm
22
4.3 Trang thiết bị
23
4.4 Công tác tuyến cơ sở
25
5.2.2 Với cấp tỉnh 45
5.2.3 Đối với hệ kinh doanh 46
5.2.4 Đối với tuyến huyện 46
DANH MỤC BẢNG
TT Bảng Tên bảng
1 Bảng 4.1 Tình hình nhân sự trung tâm năm 2008,2009 và 2010
2 Bảng 4.2 Các phương pháp KN được áp dụng trong 3 năm 2008-2010
3 Bảng 4.3 Thống kê trang thiết bị hiện có tại Trung tâm năm 2008-2010
4 Bảng 4.4 Kết quả công tác quản lý tuyến cơ sở năm 2008,2009 và 2010
5 Bảng 4.5 Tình hình chất lượng thuốc 3 năm 2008-2010
6 Bảng 4.6 Tình hình chất lượng thuốc trong 3 năm 2008-2010 theo nơi
lấy mẫu
7 Bảng 4.7 Tình hình chất lượng thuốc 3 nưm 2008-2010 theo vùng địa
lý
8 Bảng 4.8
Chất lượng thuốc 3 năm 2008-2010 theo nhóm tác dụng
9 Bảng 4.9 Tình hình chất lượng thuốc 3 năm 2008-2010 theo các dạng
tác dụng
9 Hình 4.8 Biểu đồ biểu diễn tình hình thuốc kém chất lượng theo dạng
bào chế
10 Hình 4.9 Biểu đồ biểu diễn tình hình thuốc kém chất lượng theo nguồn
gốc thuốc nội và thuốc ngoại
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký
hiệu
Ý nghĩa Ký
hiệu
Ý nghĩa
4M Material - Method - Man -
Machine
QA Quality asurane
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam
Á
QC Quality Control
CP Cổ phần QLCL
Quản lý chất lượng
sức khoẻ và được quy định cụ thể bởi quy chế Quản lý chất lượng thuốc. Ngày
14 tháng 06 năm 2005 Luật dược chính thức được thông qua là một bước tiến
quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về dược nói chung và công tác quản
lý chất lượng thuốc nói riêng.
Hiện nay trong cơ chế thị trường ngành dược cũng có thay đổi căn bản tạo
ra thị trường thuốc phong phú, thuận lợi cho người sử dụng. Nhưng bên cạnh đó
đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp mới cần phải giải quyết, mà nổi cộm lên là:
Chất lượng và đảm bảo chất lượng thuốc. Thuốc kém chất lượng, thuốc giả,
thuốc hết hạn dùng, thuốc không được phép lưu hành vẫn xuất hiện trên thị
trường và đang có chiều hướng gia tăng.
Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm tỉnh Hà Nam là
một cơ quan có nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc lưu hành
trên địa bàn tỉnh, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng thuốc và nâng cao
hiệu quả phòng bệnh và chữa bệnh cho cộng đồng.
Trên đây là những lý do để tôi chọn đề tài: “Khảo sát công tác quản lý
chất lượng thuốc lưu hành tại tỉnh Hà Nam từ năm 2008 đến năm 2010”.
Với đề tài này chúng tôi nhằm 2 mục tiêu:
1. Khảo sát đánh giá thực trạng tình hình chất lượng thuốc thông qua hoạt
động của Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm tỉnh Hà Nam
trong 3 năm từ năm (2008-2010). Từ đó rút ra được các mặt còn hạn chế trong
công tác kiểm tra giám sát chất lượng thuốc và đề xuất giải pháp thích hợp để
khắc phục, nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm tra chất lượng.
2. Từ đó có ý kiến đề xuất với các cơ quan quản lý cấp trên có những nhìn
nhận, bổ sung cácgiải pháp về công tác quản lý chất lượng thuốc nhằm đạt hiệu
quả ngày càng tốt hơn.
2
PHẦN 2: TỔNG QUAN
2.1 Một số khái niệm về chất lượng thuốc. [3,12,13]
Thuốc:
ứng đầy đủ những mức chất lượng trong tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký về
các chỉ tiêu: Tính chất, độ đồng đều khối lượng, độ rã, độ hoà tan, tạp chất, định
tính, định lượng, độ vô trùng, chất gây sốt, độ ổn định của thuốc). Những chỉ
tiêu này liên quan mật thiết đến hiệu quả điều trị và độ an toàn của thuốc.
* Tác hại của thuốc kém chất lượng đối với người tiêu dùng:
Mức độ tác hại của thuốc kém chất lượng đối với người tiêu dùng tuỳ
thuộc vào loại thuộc gì, chỉ tiêu chất lượng nào không đạt.
Nếu thuốc kém chất lượng do không đạt các chỉ tiêu khác như: độ rã, pH,
độ hoà tan thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu của thuốc, ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả chữa bệnh. Nếu thuốc không đạt về chỉ tiêu hàm
lượng, giới hạn nhiễm khuẩn, chất gây sốt thì gây tác hại lớn và có thể gây hậu
quả nghiêm trọng cho người sử dụng. Do vậy Bộ Y tế đã có những quyết định
về việc thu hồi hoặc huỷ bỏ thuốc kém chất lượng tuỳ theo mức độ vi phạm về
các chỉ tiêu chất lượng.
2.1.4 Kiểm tra chất lượng (KTCL- Quality Contronl = QC): [[10,11]]
Là một khâu then chốt trong quá trình đảm bảo chất lượng của thuốc, liên
quan đến việc lấy mẫu xác định, tiến hành những thử nghiệm cần thiết, đảm bảo
chính xác, trung thực được chứng minh bằng văn bản. Sản phẩm chỉ được xuất
xưởng khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chất lượng đã đăng ký. Hiện nay việc
kiểm tra chất lượng phải chú ý đến nguồn làm thay đổi chất lượng của thuốc,
người ta gọi là KTCL 4M.
- Nguyên liệu (Material).
- Máy móc (machine)
- Con người ( Man)
- Phương pháp (method).
4
2.1.5 Đảm bảo chất lượng (ĐBCL - Quality assurane = QA) : [10,12]
Bao gồm từ việc nghiên cứu, triển khai trong quá trình sản xuất kiểm tra
chất lượng trong khi sản xuất, tồn trữ và phân phối đến các thông tin cung cấp
GMP
5
2.2 Thực trạng ngành Dược Việt Nam: [7,16]
Trong những năm gần đây, cùng với chính sách đổi mới nền kinh tế chính
sách thuốc quốc gia của Việt Nam ra đời, đã chỉ ra những mục tiêu chiến lược,
giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, chất lượng
tốt, giá cả phù hợp và đảm bảo cho việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cho người
bệnh. Cùng với những thành tựu bước đầu trong việc cung ứng thuốc, số lượng
thuốc được Bộ Y tế Việt Nam cấp số đăng ký cho phép sản xuất và lưu hành
ngày càng tăng. Từ hơn 600 số đăng ký (SĐK) được cấp vào năm 1989, đến 31
tháng 12 năm 2010 đã có 25.497 SĐK được cấp với 12.244 thuốc sản xuất trong
nước và 13.253 thuốc nhập khẩu nước ngoài với 947 hoạt chất.
Như vậy số lượng thuốc được phép lưu hành trên thị trường Việt Nam là
tương đối nhiều. Mặt hàng thuốc đa dạng, phong phú đã đáp ứng được nhu cầu
chữa bệnh cho nhân dân, song cũng nảy sinh nhiều yêu cầu mới trong công tác
quản lý, đặc biệt là khâu giám sát đảm bảo chất lượng thuốc.
Để đạt được mục tiêu trên này 13/8/1996 Chính phủ đã có quyết định số
547/CP thành lập Cục quản lý Dược. Đó là một quyết định đúng đắn củng cố về
tổ chức và mở rộng phạm vi hoạt động của Cục quản lý Dược. Đồng thời Bộ Y
tế ra Quyết định số 1516/BYT-QĐ về việc: Triển khai, áp dụng các nguyên tắc,
tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” - GMP của Hiệp hội các nước Đông
Nam Á ( ASEAN), nhằm từng bước đưa công nghiệp dược Việt Nam phát triển,
nâng cao chất lượng thuốc trong nước, phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khoẻ
nhân dân và tạo điều kiện cho thuốc của Việt Nam hoà nhập thị trường trong
khu vực và thế giới.
Nhận thức được điều đó chỉ trong hơn 3 năm kể từ khi Bộ Y tế ban hành
quyết định số 1516/BYT-QĐ về việc triển khai, áp dụng các nguyên tắc, tiêu
chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc” của khối ASEAN đã có 15 xí nghiệp
Dược phẩm được công nhận đạt tiêu chuẩn, trong đó có 09 doanh nghiệp trong
nước và 06 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào liên doanh. Sản p hẩm của
- Thiết bị phân tích và hiệu chỉnh thiết bị phân tích.
- Thuốc thử chất đối chiếu và động vật thí nghiệm.
- Mẫu thử.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật và phương pháp phân tích.
7
- Thực nghiệm và đánh giá kết quả.
- Hệ thống chất lượng.
- Hồ sơ tài liệu.
- An toàn trong phòng thí nghiệm.
Thực hiện tốt bảo quản, tồn trữ, mua và phân phối thuốc (GSP, GDP,
GPP) đảm bảo cho thuốc ở khâu lưu không phân phối có chất lượng và duy trì
được chất lượng trong suốt quá trình lưu thông, không còn thuốc giả, thuốc kém
chất lượng lưu hành. [4,5,6]
Để chấn chỉnh tình hình thuốc không có số đăng ký lưu hành trên thị
trường và nhằm ngày càng chặt chẽ, hoàn thiện công tác xét duyệt, đăng ký
thuốc, Bộ Y tế ban hành “Quy chế đăng ký thuốc” quyết định số 1203/BYT -
QĐ ngày 10/7/1996. Quy chế không những góp phần củng cố nguyên tắc trong
sản xuất thuốc của ngành dược Việt Nam mà còn bắt buộc các nhà sản xuất kinh
doanh phải có trách nhiệm về thuốc của mình đồng thời giúp các cơ quan quản
lý phòng chống thuốc nhập lậu, thuốc giả có hiệu quả .
Nghị định 46/CP ngày 06/8/1996 của Chính phủ và một công cụ pháp lý
hữu hiệu trong công tác thanh tra, kiểm tra để giữ trật tự, kỷ cương sản xuất,
kinh doanh, lưu thông phân phối thuốc hiện nay. [18]
Ngày 18/7/2000 Bộ Trưởng Bộ Y tế chính thức ban hành quyết định số
1276/2000/BYT - QĐ về việc ban hành văn bản “Quy định chức năng, nhiệm vụ
và tổ chức bộ máy của Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm
thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Quyết định này nhằm
củng cố tổ chức, mở rộng phạm vi hoạt động cho các Trung tâm Kiểm nghiệm
Thuốc - Mỹ hẩm - Thực phẩm để đạt được hiệu quả tốt hơn trong công tác kiểm
tra chất lượng thuốc.
hành tốt phân phối thuốc - GDP” đối với các cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm, kinh
doanh, phân phối, xuất khẩu, nhập khẩu, tồn trữ, bảo quản vắc xin và sinh phẩm
y tế.
Công tác kiện toàn cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước về Dược.
Thực hiện quyết định 154/2006/QĐ-TTg ngày 30/ /2006 của Thủ tướng
Chính phủ. Bộ Y tế đã xây dựng kế hoạch và triển khai kiện toàn bộ máy tổ
chức của Bộ Y tế và các cơ quan quản lý Nhà nước về dược theo hướng phù hợp
với tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới: Bộ Y tế giao chức năng nhiệm
9
vụ quản lý Nhà nước về vắcxin sinh phẩm y tế từ Cục y tế dự phòng về Cục
quản lý Dược. Đồng thời Bộ Y tế đã thường xuyên chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương củng cố và kiện toàn cơ quan quản lý Nhà
nước về dược ở địa phương để thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra và xử
lý các vi phạm trong việc thực hiện các quy định, quy trình chuyên môn về
Thuốc, Vắc xin, Sinh phẩm y tế và Mỹ phẩm lưu hành trên địa bàn tỉnh và các
hoạt động liên quan đến cấp phép cho các tổ chức cá nhân kinh doanh thuốc,
Vắc xin, sinh phẩm y tế và Mỹ phẩm trên địa bàn tỉnh.
2.3 Tình hình chất lượng thuốc hiện nay.
2.3.1 Tình hình chất lượng thuốc trên thế giới [19,20]
- Theo đánh giá của Tổ chức y tế (WHO) thì vấn đề thuốc giả, thuốc kém
chất lượng vẫn tồn tại trên khắp thế giới kể cả những nước phát triển và đặc biệt
trầm trọng ở những nước kém phát triển. Phần lớn thuốc giả được sản xuất ở các
nước có nền công nghiệp phát triển rồi tung ra bán ở các nước chậm phát triển
và một số nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Nạn thuốc giả đang là vấn
đề đáng báo động ở Trung Quốc và Ấn Độ, ở các nước Đông Nam có tỷ lệ thuốc
kém chất lượng còn tương đối nhiều so với tổng doanh số thuốc sản xuất trong
khu vực và thuốc lưu hành trên thị trường. Theo Tổng giám đốc liên đoàn hiệp
hội dược quốc tế thì ở nhiều nước Đông Nam Á có khoảng 10% thuốc lưu hành
là thuốc giả. Tỷ lệ thuốc giả ở Trung Quốc trung bình chiếm từ 10% - 15% có
nơi lên đến 50%, còn ở Ấn Độ tình hình cũng rất đáng lo ngại tỷ lệ thuốc giả
+ Về hệ thống văn bản pháp luật: Còn chưa đồng bộ, các quy chế chuyên
môn chưa được bổ sung sửa đổi kịp thời để đáp ứng được yêu cầu quản lý, cả
thanh tra và kiểm nghiệm với các cơ quan quản lý có liên quan khác.
+ Về công tác quản lý kiểm tra chất lượng thuốc còn chưa thật sự phù hợp
tập trung nhiều vào công tác kiểm nghiệm, xác định chất lượng thuốc mà chưa
quan tâm đến công tác kiểm tra giám sát thực hiện quy chế liên quan đến công
tác đảm bảo chất lượng, thu hồi thuốc.
2.3.2.1 Hệ thống và nội dung kiểm tra chất lượng thuốc [3,14]
Tất cả các thuốc và nguyên phụ liệu làm thuốc đều phải được kiểm tra
chất lượng, chỉ khi đạt tiêu chuẩn chất lượng mới được sản xuất, pha chế và lưu
hành.
11
* Hệ thống tổ chức kiểm tra chất lượng thuốc:
- Cơ quan kiểm tra chất lượng thuốc của Nhà nước:
+ Ở Trung ương: Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương và Viện Kiểm
nghiệm TP Hồ Chí Minh.
+ Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Trung tâm Kiểm nghiệm
Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm.
+ Phòng kiểm tra chất lượng thuốc của đơn vị: Phòng kiểm tra chất lượng
thuốc của đơn vị sản xuất kinh doanh: Là bộ phận tự kiểm tra chất lượng thuốc
của cơ sở.
* Nội dung kiểm tra chất lượng thuốc:
- Các tổ chức quản lý, kiểm tra của Nhà nước về chất lượng thuốc tiến
hành kiểm tra các đơn vị sản xuất, buôn bán, tồn trữ thuốc theo các nội dung
sau:
+ Kiểm tra các điều kiện, yếu tố đảm bảo chất lượng thuốc.
+ Kiểm tra chất lượng thuốc theo tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký.
-Các đơn vị sản xuất, buôn bán, tồn trữ thuốc phải tự kiểm tra chất lượng
theo các nội dung:
lượng kiểm soát viên chất lượng trong ngành dược làm nhiệm vụ kiểm soát chất
lượng thuốc lưu hành thuốc trên thị trường theo đúng tinh thần của luật chất
lượng sản phẩm và hàng hoá 2007.
- Ban hành Dược điển Việt Nam IV.
2. Kiện toàn tổ chức cơ quan quản lý chất lượng.
- Thành lập 3 Trung tâm thử tương đương sinh học, đánh giá sinh khả
dụng.
- Thành lập 3 Trung tâm Kiểm nghiệm khu vực và nâng cấp 2 Viện Kiểm
nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao năng lực của hệ thống kiểm tra
chất lượng thuốc đủ khả năng, phân tích kiểm nghiệm chính xác, nhanh chóng
phục vụ công tác giám sát chất lượng thuốc lưu hành trên thị trường và điều tra
phòng chống thuốc giả.
13
3. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong ngành với các cơ
quan hữu quan:
- Kết hợp chặt chẽ giữa Cục Quản lý Dược, Thanh tra Bộ Y tế và các
Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương để quản lý chất lượng thuốc trên hạm vi
toàn quốc. Sở Y tế chỉ đạo Phòng quản lý dược, Thanh tra, Trung tâm Kiểm
nghiệm để quản lý thuốc trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng và tăng cường kế hoạch thanh tra về kiểm tra định kỳ, đột
xuất các thuốc lưu hành trên thị trường, xác lập cơ chế phối hợp liên ngành với
các cơ quan Công an, Quản lý thị trường, Hải quan trong công tác kiểm tra chất
lượng thuốc nhằm phát hiện các loại thuốc nhập lậu, thuốc giả đặc biệt chú trọng
tới các thuốc đông dược.
4. Công tác thu hồi thuốc và phòng chống thuốc giả. [8,9]
- Tiến hành xây dựng quy trình thu hồi thuốc cũng như sửa đổi quy chế
quản lý chất lượng thuốc cụ thể hơn trách nhiệm của các nhà sản xuất kinh
doanh thuốc đổi với việc thu hồi thuốc.
- Tham gia vào các hoạt động của Ban chỉ đạo 127 nhằm xây dựng cơ chế
không đạt chất lượng trong đó tập trung chủ yếu ở các nhóm thuốc sau: Kháng
sinh 14 mẫu thuốc hạ sốt chống viêm, giảm đau 11, Vitamin và thuốc bổ 18,
thuốc đông dược 12, các thuốc khác 30.
Để đảm bảo chất lượng thuốc, lưu thông phân phối trên địa bàn tỉnh Hà
Nam, Trung tâm nhanh chóng triển khai kiểm tra khi có công văn thuốc đình chỉ
lưu hành. Qua kiểm tra đã phát hiện được 02 loại thuốc đình chỉ lưu hành (Viên
nén prednisolon 5 mg có số lô 9PSN08-HD: 14/11/2012 của INDIA sản xuất,
Thuốc Viên nang cảm xuyên hương TR-G có Số kiểm soát 180909-HD:
09/2011-SĐK: VD-7199-09 của Xí nghiệp Dược phẩm 120 sản xuất Trung
tâm đã niêm phong các thuốc không được phép lưu hành và lập biên bản báo cáo
Sở Y tế xử lý kịp thời. Sở dĩ Trung tâm không phát hiện được nhiều thuốc bị
đình chỉ lưu hành là do việc triển khai thông tin từ Cục quản lý Dược đến Sở Y
tế, từ Sở Y tế đến Trung tâm còn chậm chễ nên một số cơ sở có thông tin đã tự
xử lý trước, mặt khác do cơ chế quản lý thống nhất chặt chẽ nên thuốc lưu hành
tại Hà Nam tương đối ổn định về mặt chất lượng.
15
2.4 Đặc điểm địa lý, kinh tế và Ngành dược của tỉnh Hà Nam [1,2]
2.4.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế.
Tỉnh Hà Nam là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ có tuyến
quốc lộ Bắc Nam và phía Bắc giáp danh với Thành phố Hà Nội, phía Nam giáp
với tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp với tỉnh Nam Định, Thái Bình và Hưng
Yên, phía Tây giáp với Hoà Bình. Mặc dù thuộc vùng đồng bằng bắc bộ nhưng
Hà Nam lại có địa hình tương đối phức tạp, 80% diện tích nằm trong vùng đồng
bằng châu thổ Sông Hồng và khoảng 20% diện tích đồi núi chủ yếu là phía Tây
và phía Nam với diện tích là 85.958,8 ha. Hà Nam có 116 xã, phường và thị trấn
với 05 huyện, 01 thành phố và dân số khoảng 831.020 người, mật độ dân số
trung bình tính chung toàn tỉnh là 967 người / km
2
, mật độ dân số phân bố không
đồng đều giữa các huyện trong tỉnh. Hà Nam là một tỉnh thuần nông, nhân dân
Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm.
Phòng quản lý dược, Thanh tra dược, Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc -
Mỹ phẩm - Thực phẩm có nhiệm vụ quản lý, giám sát, kiểm tra chất lượng thuốc
và các hoạt động ngành dược trong tỉnh. Tư vấn và báo cáo đầy đủ cho Ban
Giám đốc về tình hình ngành Dược của tỉnh.
Các Phòng Y tế huyện có 01 Dược sỹ phụ trách công tác dược.
Các khoa dược, các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, các quầy của Công
ty chịu sự kiểm tra giám sát về chất lượng thuốc, về việc thực hiện các quy chế
chuyên môn của ngành.
17
PHẦN 3- ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động của Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm
Hà Nam trong 3 năm 2008, 2009 và 2010 về các mặt nhân sự, phương tiện,
chuyên môn kỹ thuật.
Các loại thuốc lưu hành phân phối trên địa bàn tỉnh Hà Nam gồm: Thuốc
của các Công ty dược, nhà thuốc bệnh viện tỉnh, huyện, nhà thuốc tư nhân, quầy
thuốc tư nhân và các đại lý bán thuốc.
Chất lượng một số thuốc trên thị trường tỉnh Hà Nam trong 3 năm 2008,