Sơ lược khái niệm Tánh Không của Kinh Tiểu Không và Đại Không với
Kinh Kim Cang
Lý duyên khởi là nguyên lý bản hữu của vạn pháp, được đức Phật Thích ca tuyên thuyết và bất kỳ ai chứng
thực nguyên lý này, tức cũng thấy được pháp. Do đó, tiến trình tu tập là tiến trình mà lý duyên khởi được áp
dụng xuyên suốt, dù bằng cách này hay cách khác.
A. DẪN NHẬP
Lý duyên khởi là nguyên lý bản hữu của vạn pháp, được đức Phật Thích ca tuyên
thuyết và bất kỳ ai chứng thực nguyên lý này, tức cũng thấy được pháp. Do đó, tiến trình tu tập
là tiến trình mà lý duyên khởi được áp dụng xuyên suốt, dù bằng cách này hay cách khác. Mục
tiêu của sự tu tập là hướng đến giải thoát tối hậu hay niết-bàn toàn diện. Muốn được vậy, ba
căn bản phiền não làm chúng sanh trôi lăn trong sanh tử là tham, sân, si phải được diệt trừ
hoàn toàn. Nhưng nếu không nhờ lý duyên khởi để quán xét vạn pháp là không thật sự tồn tại
về mặt bản chất thì liệu rằng chúng ta có dễ dàng xả ly tất cả lục trần để trừ bỏ tâm tham, sân,
si hay không? Hay cho tất cả là thật và vĩnh viễn tồn tại để rồi mãi cố thủ nó cho riêng mình?
Mà nếu không bỏ được ba căn bản phiền não ấy thì làm thế nào để tâm được an định và
hướng đến chánh trí?
Như trong kinh Khất thực thanh tịnh, đức Phật nói rằng ta nhờ an trú trong tánh không
nên được an trú rất nhiều. Và trong kinh Tiểu không, đức Phật đã dạy các tỳ-kheo quán tánh
không bằng cách quán các pháp là duyên khởi. Trong kinh Kim cang bát-nhã, tánh không của
các pháp được diễn tả qua lý luận tức-phi. Vậy tánh không trong các kinh này có sự giống và
khác nhau như thế nào?
B. NỘI DUNG
1. Ý nghĩa Tánh không trong kinh Tiểu không và kinh Đại không
1.1. Tánh không trong kinh Tiểu không
Đoạn đầu tiên của kinh Tiểu không[1], ngài A-nan nhắc lại câu nói của Thế tôn: “Này A-
nan! Bởi an trú tánh không nên nay ta được an trú rất nhiều”.[2] Sau đó, Thế tôn giảng rộng
thêm ý nghĩa của pháp an trú này. Trong kinh Khất thực thanh tịnh, Thế tôn cũng đã khẳng định
rằng:
Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này
Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh.[3]
“địa biến tưởng” nên “bất không”. Thành tựu địa biến tưởng là thì mức độ thiền đã rất thâm sâu,
từ đó có thể đạt được đệ tứ thiền thuộc Sắc giới. Sau đó vượt qua địa biến xứ tưởng để nhập
vào vô lượng không xứ tưởng, là một tầng thiền ở Vô sắc giới.
Như vậy, cái không ở đây không phải là không có gì cả, mà là không của cái không có,
và có của cái có. Cũng như trong giảng đường Migāramātu, nó là không vì là không có trâu
bò..., nhưng cái giảng đường thì có tỳ-kheo – bất không. Căn cứ theo lối giải thích này mà Du-
già sư địa luận nói:
Lại nữa, sao gọi là khéo thọ trì nghĩa không? Do ở trong này, cái khác đều không có; do
vì cái khác không có nên đúng đắn mà ghi nhận là không. Lại do trong này có cái khác thì như
thật mà biết là nó có. Như vậy gọi là ngộ nhập vào không tánh một cách như thật không điên
đảo.[4]
Theo đây, nghĩa của “không tánh” này mang hàm nghĩa là sự không có mặt của một cái
gì đó; và cái hiện có trong phạm vi nhận biết cũng quán rằng nó do duyên kết hợp thành, nên
cái có, về bản chất, cũng là không tánh.
Pháp quán tánh không này thích ứng với những người đang ở nơi a-lan-nhã (arañña)
mà triển khai pháp quán, cho nên nó được thuyết nơi a-lan-nhã, là một nơi vô sự, an tịnh,
không bị trần cảnh sôi động khuấy nhiễu. Hành giả chuyên tâm ức niệm (tác ý) về vô sự tưởng
(arañña-saññā), không khởi tưởng về làng xóm, về người…, vì khi khởi tưởng về chúng tức sẽ
chạy theo những diễn biến tốt xấu của chúng thì phiền não sẽ đồng thời khởi lên, do không khởi
lên tưởng về chúng tức các tưởng về làng xóm… là “không”. Khi đó, tưởng về làng xóm, về
người là không, nhưng vô sự tưởng là “bất không”, gọi là “hành chân thật tánh không, không có
điên đảo”[5].
Tiến thêm một bước nữa, không ức niệm nhân tưởng (manussasañña) và vô sự tưởng,
mà chuyên nhất ức niệm địa tưởng, quán mặt đất bằng phẳng như bàn tay. Như vậy, nhân
tưởng là không, vô sự tưởng cũng là không, mà địa tưởng là bất không. Đây cũng gọi là hành
chân thật tánh không, không điên đảo. Cũng thế, theo thứ tự tiến tu, chuyên niệm không vô
biên xứ tưởng mà địa tưởng… thì không. Chuyên niệm thức vô biên xứ tưởng bất không mà
không vô biên xứ tưởng… thì không. Chuyên niệm vô sở hữu xứ tưởng, không niệm thức vô
biên xứ tưởng… thì thức vô biên xứ tưởng là không mà vô sở hữu xứ tưởng là bất không. Đây
cũng là hành chân thật tánh không, không có điên đảo. Dù quán đến vô tưởng tâm định[6] thì
nhất và an định nội tâm.” Sau khi an định nội tâm, hành giả không được thích thú, tham đắm với
những cảm giác an lạc mà mình đã đạt được do thiền định mà phải tiếp tục viễn ly:
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một
trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng
thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm... Tam thiền... chứng và trú Tứ
thiền. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm.
Tâm viễn ly tất cả pháp bằng cách không tác ý về tất cả pháp, như trong kinh
Sa-môn quả, Phật dạy tỳ-kheo không nên tác ý tướng chung hay riêng của tất cả pháp: “Đại
vương, thế nào là Tỳ kheo hộ trì các căn? Này Đại vương, khi mắt thấy sắc, Tỳ kheo không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”.[9]
Cũng vậy, khi tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc với các pháp cũng không cũng không giữ
tướng chung và riêng của chúng. Nếu nắm giữ tướng của chúng và các xúc cảm do chúng
mang lại thì tham ái, ưu bi, khổ não và các bất thiện pháp sẽ khởi lên. Điều cần thiết quan trọng
là hành giả không được hoan hỉ và tham đắm trong nội không:
Vị ấy tác ý nội không. Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh
tín, không an trú, không hướng đến nội không. Sự kiện là như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo biết
như sau: "Trong khi ta tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không
hướng đến nội không". Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
Về pháp quán nội không này, Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm cũng có giải thích:
Sao gọi là nội không? Như một vị tỳ-kheo, đối với tất cả các pháp bên trong, hoặc một
pháp xứ bên trong (6 nội xứ), tư duy rằng nó là không, biết rằng nó là không, hiểu rõ rằng nó là
không, ghi nhận nó là không. Căn cứ gì để nói về nghĩa không này? Vì ngã là không nên ngã
sở cũng không, (chúng) là thường không, (bản chất) không này là không thể làm cho khác đi.
Như vậy quán sát (nghĩa không) của chúng một cách không phóng dật thì đắc định, tâm được
an trụ, trụ một cách chân thật, đó gọi là nội không.[10]
Khi quán ngã là không thật có, chẳng qua nó là một sản phẩm của tâm lý nên từ trong
bản chất nó đã là không nên những gì thuộc về cái ngã đó thì cũng đều là không.
Sau khi an trú nội không, hành giả quán sát ngoại không, tức là trong bốn oai nghi, khi
thiền tọa, kinh hành..., vị ấy luôn quán sát các bất thiện pháp hay các hữu lậu bên ngoài có xâm
nhập vào tâm qua các căn hay không? Đồng thời, vị ấy không phóng dật hí luận các pháp thế
không và nhân không; trong ấy, lấy huệ không làm chủ đạo.[16]
Mở đầu kinh này, ngài Tu-bồ-đề (Subhūti) nêu ra câu hỏi rằng:
Như có kẻ thiện nam tín nữ nào phát khởi tâm bồ-tát thừa thì chúng làm sao an trụ, làm
sao tu tập và làm sao điều phục tâm?[17]
Đây là một câu hỏi quan trọng đối với một người phát tâm tu theo Đại thừa nói riêng và
Phật giáo nói chung. Bởi lẽ, an trụ tâm, tu tâm, hàng phục tâm đều là vấn đề quan trọng trong
sự tu hành. Ngay trong kinh nguyên thủy, đức Phật đã đặc biệt quan tâm đến nó. Mục tiêu của
sự tu hành là trừ bỏ qua nghiệp căn bản phiền não là tham, sân, si; mà tham, sân, si đều là
những trạng thái thuộc về tâm cả. Như trong Tạp A-hàm đã nói:
Này các tỳ-kheo! Phải khéo tư duy quán sát tâm mình. Vì sao vậy? Từ lâu tâm này đã bị
tham dục làm nhiễm ô, bị sân nhuế, ngu si làm nhiễm ô. Này các tỳ-kheo! Tâm này bị phiền não
thì chúng sanh bị phiền não; tâm thanh tịnh thì chúng sanh được thanh tịnh.[18]
Vì vậy, đối với tâm mình, hành giả tu tập phải luôn luôn cảnh giác, không cho phiền não
khởi lên. Được như vậy thì sự tu hành mới mong đạt được kết quả khả quan, làm an lạc chính
mình. Do đó, câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề dù là lấy đối tượng hành bồ-tát thừa làm cơ sở, nhưng
thật sự nó là nghi vấn chung của mọi thành phần cần tu tập. Ngài Vô trước (Asaṅga) giải rằng:
Như kinh nói: bồ-tát phải trụ như thế nào...? Phải trụ đó là dục-nguyện; phải tu hành là
khế hợp với tam-ma-bát-để; hàng phục tâm là chiết phục phiền não. Dục ở đây là người cầu;
nguyện là vì đối tượng cầu (Phật quả) nên tâm khởi tư duy, ghi nhớ. Khế hợp với tam-ma-bát-