BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI LẠI THỊ THU MAI
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRUNG ƯƠNG NĂM 2013 LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI LẠI THỊ THU MAI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRUNG ƯƠNG NĂM 2013
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60720412
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Học viên
Lại Thị Thu Mai
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC 3
1.1.1 Lựa chọn thuốc 4
1.1.2. Mua thuốc 5
1.1.3. Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc 7
1.1.4. Sử dụng thuốc 9
1.2. THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN 11
1.2.1. Khái niệm về thuốc y học cổ truyền 11
1.2.2. Vai trò của thuốc y học cổ truyền 11
1.2.3. Tình hình sử dụng thuốc YHCT trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.2.4 Tình hình cung ứng thuốc YHCT trong bệnh viện. 15
1.3. BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG 17
1.3.1. Một vài nét về lịch sử của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương. 17
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ 17
1.3.3. Mô hình tổ chức bệnh viện 18
1.3.4. Khoa Dược Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu. 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 25
2.1.3. Thời gian nghiên cứu; 25
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
Bệnh viện
Cơ quan
CTCP Công ty cổ phần
DĐVN Dược điển Việt Nam
DLS Dược lâm sàng
DMT Danh mục thuốc
DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện
DMTTT Danh mục thuốc trúng thầu
DMTCY Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu
GSP Good storage practice (Thực hành bảo quản thuốc tốt)
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
HSDT Hồ sơ dự thầu
HSMT Hồ sơ mời thầu
NCKH
KHTC
Nghiên cứu khoa học
Kế hoạch tài chính
STT Số thứ tự
TCKT
TT
Tài chính kế toán
Thứ tự
WHO World health organization ( Tổ chức y tế thế giới)
YDCT Y dược cổ truyền
YHCT Y học cổ truyền
YHHĐ Y học hiện đại
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ lệ mua thuốc Nam-Bắc tại các bệnh viện YHCT 16
Hình 1.2. Chu trình quản lý sử dụng thuốc 10
Hình 1.3. Tỷ lệ sử dụng thuốc đông dược và thuốc tân dược trong các cơ sở
KCB 16
Hình 1.4. Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương 19
Hình 1.5. Sơ đồ tổ chức khoa dược Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương . 22
Hình 3.1. Quy trình xây dựng DMT bệnh viện YHCT TW 29
Hình 3.2. Các bước bổ sung thuốc vào DMTBV 30
Hình 3.3. Kinh phí mua sắm thuốc đông dược năm 2013 37
Hình 3.4. Quy trình đấu thầu thuốc 39
Hình 3.5. Quy trình xét thầu của bệnh viện 40
Hình 3.6 Quy trình cấp phát thuốc thang tại bệnh viện YHCTTW 511
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền y học cổ truyền của Việt Nam có một truyền thống và có lịch sử lâu
đời phong phú. Nó được bắt nguồn từ một nền y học dân gian, thông qua
thực tiễn nhiều đời. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền
lại cho thế hệ sau, đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây
bệnh thường gặp, bệnh mạn tính khó chữa đã được thực hiện và được đánh
giá cao tại nhiều hội nghị trong nước và quốc tế.
Với chức năng và nhiệm vụ trên, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung
ương chuyên khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo
phương pháp YHCT kết hợp với YHHĐ. Thị trường dược liệu trong nước
khá phong phú và đầy biến động, nhưng nguồn nguyên liệu dược liệu chủ
yếu lại không chủ động được mà vẫn phải phụ thuộc tới 70% vào nước
ngoài qua con đường nhập khẩu chính ngạch và không chính ngạch kể cả
trôi nổi. Vì vậy để đảm bảo được vấn đề cung ứng thuốc đông dược đúng
chủng loại, chất lượng tốt đang là một thách thức không nhỏ đối với bệnh
viện cũng như toàn ngành y tế.
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu trách nhiệm toàn bộ công tác dược
cho bệnh viện. Ngoài công tác thông tin, tư vấn sử dụng thuốc thì việc đảm
bảo cung cấp đầy đủ thuốc có chất lượng cho nhu cầu điều trị và nghiên
cứu khoa học trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng của khoa dược. Đặc
biệt là thuốc đông dược mặt hàng rất khó kiểm soát hiện nay. Xuất phát từ
thực tế, với mong muốn nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc tại
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương chúng tôi tiến hành đề tài: “ Phân
tích hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung
ương năm 2013” với các mục tiêu sau:
1. Phân tích một số chỉ tiêu trong 4 nhiệm vụ cung ứng thuốc đông
dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2013
2. Phân tích hoạt động bào chế, sản xuất thuốc YHCT tại Bệnh viện
YHCT Trung ương năm 2013
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài xin đề xuất ý kiến nhằm nâng cao chất
lượng cung ứng thuốc tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương cho
những năm tiếp theo.
Hình 1.1. Chu trình cung ứng thuốc
Cung ứng thuốc là một chu trình khép kín. Mỗi bước trong chu trình là
kết quả hoạt động của bước phía trước đồng thời là tiền đề để thực hiện
bước tiếp theo, mà cơ sở chung là hiệu quả sử dụng thuốc trên bệnh nhân.
Để chu trình hoạt động hiệu quả cần có sự hoạt động tốt của từng bước và
Lựa chọn
( Selection)
Sử dụng
(Use)
c
Mua thuốc
(Procurement)
Cấp phát
(Distribution)
Mô hình bệnh tật
Phác đồ điều trị
Ngân sách
Công
nghệ
Khoa
học
Thông tin
Kinh tế
4
có sự điều phối, gắn kết chặt chẽ các bước trong chu trình thông qua các
5
DMTBV mang tính đặc thù của mỗi bệnh viện và được xem xét điều
chỉnh cho phù hợp trong từng thời kỳ theo yêu cầu điều trị. Khi bệnh viện
xây dựng DMT, các khoa phòng chuyên môn đều có cơ hội tham gia, góp
ý. HĐT & ĐT phải tập hợp, xem xét cân nhắc các ý kiến đóng góp và có
thông tin phản hồi đến các khoa phòng. Các thông tin liên quan xây dựng
DMT cần khách quan trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng và các yêu cầu lựa
chọn thuốc. Cuối cùng HĐT & ĐT thống nhất lựa chọn, xây dựng và phổ
biến nội dung DMT kèm theo những lý do giải thích sự có mặt của từng
thuốc trong danh mục. Đồng thời, xây dựng chính sách và hướng dẫn thực
hiện DMTBV [27].
Việc đánh giá các yêu cầu bổ sung thuốc mới vào DMT cần phải dựa
trên các tiêu chí cụ thể và bằng chứng rõ ràng: Cân nhắc những phương án
điều trị mới cho những bệnh lý mà các biện pháp điều trị bởi các thuốc hiện
thời đáp ứng kém hoặc không còn đáp ứng. Trường hợp phác đồ mới cải
thiện chất lượng điều trị tốt hơn cần căn cứ vào: hiệu lực, hiệu quả điều trị
và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu tin cậy. Chất lượng thuốc đảm bảo,
năng lực kinh nghiệm điều trị của thầy thuốc, trang thiết bị liên quan, tình
hình kinh phí của bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Khi có yêu
cầu bổ sung thuốc mới HĐT & ĐT cần thảo luận và biểu quyết lấy ý kiến
thống nhất. Khoa Dược lưu lại các văn bản đề xuất và ý kiến của HĐT &
ĐT để theo dõi sự tuân thủ và đánh giá tính thích ứng của DMTBV với
MHBT tại bệnh viện [30].
1.1.2. Mua thuốc
Quá trình mua thuốc là một bước quan trọng có thể ảnh hưởng đến các
bước khác trong chu trình hoặc ảnh hưởng đến toàn bộ hiệu quả của hoạt
động cung ứng thuốc. Quản lý mua thuốc không tốt dẫn đến thiếu thuốc, sử
dụng không hợp lý kinh phí gây lãng phí nguồn ngân quỹ. Các chỉ số đánh
giá hoạt động mua sắm thuốc bao gồm:
- Đấu thầu rộng rãi
- Đấu thầu hạn chế
- Chỉ định thầu
- Chào hàng cạnh tranh
- Mua sắm trực tiếp
- Tự sản xuất, pha chế.[8]
Trong hệ thống các bệnh viện công lập, việc cung ứng thuốc được thực
hiện thông qua đấu thầu. Trong khi tất cả các bệnh viện tuyến trung ương
7
lựa chọn hình thức đấu thầu đơn lẻ để cung ứng, mua sắm thuốc thì các
bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện chủ yếu cung ứng thuốc qua kết quả đấu
thầu tập trung [26].
Ký kết các hợp đồng kinh tế mua bán: Sau khi thực hiện công tác đấu
thầu đã lựa chọn được các nhà thầu. Bệnh viện tiến hành ký kết các hợp
đồng kinh tế và thực hiện mua thuốc theo hợp đồng đã ký với các công ty.
Khoa Dược làm dự trù hàng tháng theo nhu cầu thực tế điều trị, các
công ty cung ứng thuốc theo dự trù và vận chuyển thuốc đến tận kho thuốc
của khoa.
Kiểm nhận thuốc: Các thuốc khi nhập vào kho phải được kiểm nhập
đúng quy định. Hội đồng kiểm nhập thuốc gồm: Giám đốc bệnh viện,
Trưởng khoa dược, Trưởng phòng TCKT, Cung ứng, kế toán dược, thống
kê dược, thủ kho. Hội đồng kiểm nhập thuốc tiến hành kiểm tra, đối chiếu
tên thuốc, số lượng, nồng độ, số đăng ký, số kiểm soát, số lô, hạn dùng của
thuốc thực nhập với hóa đơn nhập. Sau khi thống nhất kế toán dược làm
biên bản kiểm nhập, phiếu nhập kho và làm thủ tục thanh toán.
Thanh toán: Phương thức thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản qua
kho bạc nhà nước căn cứ vào hóa đơn nhập hàng, hợp đồng mua bán và kết
quả đấu thầu thuốc để giám sát và chuyển tiền thuốc.
1.1.3. Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc
hiệu chuẩn định kỳ
- Có đủ giá kệ, tủ để xếp thuốc, khoảng cách giữa các giá, kệ đủ rộng
để vệ sinh và xếp dỡ hàng
- Đủ thiết bị cho phòng cháy, chữa cháy (bình cứu hỏa, thùng cát, vòi
nước)[14].
1.1.3.2. Cấp phát thuốc
Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến khoa lâm sàng và từ khoa
lâm sàng đến người bệnh nội trú được xây dựng dựa trên tình hình nhân lực
khoa Dược, nhân lực khoa lâm sàng và yêu cầu điều trị của mỗi bệnh viện.
Cấp phát thuốc phải đảm bảo nguyên tắc: cung cấp thuốc đầy đủ, chính
xác, kịp thời và thuận tiện cho điều trị [5]. Bệnh viện nên tổ chức riêng việc
cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú. Khoa Dược cấp phát
thuốc, hóa chất cho khoa lâm sàng và cận lâm sàng để phục vụ cho bệnh
nhân nội trú từ 1-2 lần/ngày theo phiếu lĩnh thuốc, hóa chất của các khoa
phòng. Trước khi cấp phát, Trưởng khoa Dược hoặc dược sĩ được ủy
nhiệm duyệt phiếu lĩnh thuốc trong giờ hành chính [6]. Tùy thuộc vào
9
nhân lực và điều kiện thực tế của bệnh viện khoa Dược có thể đưa thuốc
đến khoa lâm sàng.
Khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc trực tiếp cho bệnh nhân điều trị
ngoại trú theo đơn của thầy thuốc. Chế độ kê đơn và cấp phát thuốc theo
đơn. Sau khi cấp phát thủ kho phải vào sổ xuất nhập hay thẻ kho theo dõi
thuốc từng ngày cho từng loại thuốc. Kho cấp phát ngoại trú cuối ngày phải
kiểm kê đối chiếu [5].
Các thuốc pha chế theo đơn trong bệnh viện giao cho kho cấp phát lẻ.
Trước khi cấp phát thủ kho phải thực hiện “ 3 kiểm tra, 3 đối chiếu” theo
quy chế cấp phát và sử dụng thuốc [6].
Khoa Dược từ chối cấp phát thuốc trong các trường hợp phiếu lĩnh,
đơn thuốc có sai sót. Phiếu lĩnh hoặc đơn thuốc thay thế thuốc sau khi có ý
Hình 1.2. Chu trình quản lý sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong khu vực
bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Bộ Y
tế đã có văn bản chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh
viện. Trong đó quy định, Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm chỉ đạo hoạt
động của Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn thuốc và sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn, tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế kê đơn
và bán thuốc theo đơn trong bệnh viện [6].
Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế ban hành thông tư 08/TT-BYT hướng dẫn việc
tổ chức, chức năng nhiệm vụ của HĐT&ĐT ở bệnh viện để thực hiện chỉ
thị 03/BYT-CT ngày 25/3/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh
công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện và cho đến nay
tất cả các bệnh viện công lập trên cả nước đã thành lập HĐT&ĐT. Hiện
nay, HĐT&ĐT đã được thành lập và là chỉ tiêu quy định trong chính sách
quốc gia của 76 quốc gia trên thế giới [21].
Những nhiệm vụ chính của Hội đồng thuốc và điều trị bao gồm:
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt các quy định cơ bản về cung
ứng, quản lý và sử dụng thuốc của bệnh viện.
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt danh mục thuốc dùng cho
bệnh viện
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt quy trình cấp phát thuốc,
theo dõi dùng thuốc đồng thời giúp giám đốc kiểm tra việc thực hiện
quy trình khi được phê duyệt
SỬ DỤNG
THUỐC
Chẩn đoán
Giao
phát
thuốc
nước đang phát triển ngày càng tăng, có đến 80% dân số thế giới hưởng
ứng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng YHCT [7].
1.2.3. Tình hình sử dụng thuốc YHCT trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.3.1. Tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền trên thế giới
Mặc dù hiện nay, thuốc tân dược được phát triển mạnh ở hầu khắp các
nơi trên thế giới nhưng đại bộ phận dân cư ở các nước đang phát triển vẫn
ưa sử dụng thuốc cổ truyền, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
12
Cùng với sự phát triển không ngừng của những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
người ta càng nhận biết nhiều hơn những giá trị của thảo dược trong phòng
và chữa bệnh.
Có 1/3 người Mỹ đã sử dụng thuốc cổ truyền. Năm 1990 doanh số bán
ra của thuốc cổ truyền ước khoảng 1 tỷ USD. Năm 1989, 60% dân số Hà
Lan và Bỉ, 74% dân số Anh hài lòng với phương pháp chữa bệnh theo
YHCT [36].
Một trong những quốc gia tiêu biểu sử dụng YHCT trong chăm sóc sức
khỏe phải kể tới Trung Quốc, quốc gia có một nền YHCT lâu đời và có ảnh
hưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác như: Hàn Quốc,
Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…[36].
Nhật Bản với nền YHCT trên 1400 năm, là nước có tỷ lệ người sử dụng
thuốc YHCT cao nhất trên thế giới hiện nay. Việc khám chữa bệnh bằng
YHCT ở Nhật bản được quản lý chặt chẽ, các phòng khám được xây dựng
quy mô trang thiết bị hiện đại. Từ năm 1974 đến năm 1989, ở Nhật Bản sử
dụng các loại thuốc YHCT đã tăng lên 15 lần trong khi các thuốc tân dược
chỉ tăng lên 2,6 lần. Trên 65% bác sĩ ở Nhật Bản khẳng định họ đã sử dụng
phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ [35].
Khu vực Đông Nam á: Chiến lược toàn cầu của tổ chức Y tế thế giới
chú ý vai trò quan trọng của T/CAM trong việc bảo vệ, cải tiến và dự
phòng y tế tốt nhất, phổ biến nhất. WHO khuyến khích tất cả các thành
Hữu Trác (1724-1791) là đại danh y của nước ta. Ngoài việc chữa bệnh tận
tụy tài giỏi ông còn soạn bộ “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66
quyển, trong đó có các quyển chuyên nói về các vị thuốc và bài thuốc
YHCT như “Dược phẩm vậng yếu”, “Y phương hải hội”, “Lĩnh nam bản
thảo”. Bộ sách được coi là bách khoa toàn thư của YHCT Việt Nam [32].
Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945), do ảnh hưởng của phong trào “Tây
hóa” ở các nước phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng, chế độ
thực dân thuộc địa và bán thuộc địa đã kìm hãm ngành YHCT nhưng chủ
yếu chỉ xảy ra tại các đô thị còn đại đa số nhân dân lao động nghèo (nhất là
ở nông thôn và vùng núi) vẫn tin dùng thuốc cổ truyền để chữa bệnh. Nhờ
đó thuốc YHCT Việt Nam vẫn được bảo tồn, duy trì và phát triển [32].
Cách mạng Tháng Tám thành công, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng
và chính phủ luôn quan tâm phát triển YHCT. Trong nhiều năm qua Đảng
và chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo ngành y tế phối hợp
14
với các ngành, các tổ chức xã hội nghiên cứu kế thừa, bảo tồn và phát triển
Y dược học cổ truyền, Kết hợp YHCT với YHHĐ nhằm xây dựng nền Y
dược học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta dù bận trăm công
nghìn việc nhưng Người vẫn quan tâm chỉ đạo việc “kết hợp thuốc đông y
với thuốc tây y”. Hơn hai mươi năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của
Đảng ngành y tế đã đạt được một số thành tựu quan trọng:
- Đã đưa YDHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, có
tổ chức từ trung ương tới các địa phương. Cả nước có 5 viện nghiên cứu;
46 bệnh viện YHCT cấp tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh
viện cấp quận, huyện; 30% trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng
YHCT; có trên 10.000 cơ sở YDHCT tư nhân.
- Đã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với
YDHHĐ, cả nước có 1 học viện YHCT, 2 khoa YHCT thuộc trường đại
Công tác dược liệu là một trong những vấn đề mà Đảng, Chính phủ và
Bộ y tế rất quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng nguồn nguyên
liệu trong nước để sản xuất, chế biến và điều trị chưa tương xứng với tiềm
năng hiện có. Việc quản lý thu hái và trồng trọt dược liệu còn nhiều hạn
chế làm suy giảm nghiêm trọng vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc, chưa
có vùng chuyên canh ổn định. Hoạt động kinh doanh buôn bán dược liệu
chủ yếu là kinh doanh cá thể, hoạt động tự phát, chất lượng dược liệu chủ
yếu dựa vào cảm quan, kinh nghiệm, kho tàng bảo quản không đủ tiêu
chuẩn; cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Việc sản xuất dược
liệu, thuốc từ dược liệu đa số là các cơ sở sản xuất nhỏ, với các dạng bào
chế thông thường như cao thuốc, dung dịch thuốc, hoàn cứng, hoàn mềm.
Vì vậy, chất lượng dược liệu, thuốc từ dược liệu là vấn đề vô cùng phức tạp
và khó khăn hiện nay [27].
Theo những số liệu thống kê gần đây, hằng năm cả nước sử dụng
khoảng 50.000 tấn dược liệu. Nguồn dược liệu nhập khẩu chủ yếu từ
Trung Quốc theo con đường phi mậu dịch. Một số dược liệu nhập không
rõ nguồn gốc, không rõ tiêu chuẩn, không có phiếu kiểm nghiệm. Việc
trồng trọt dược liệu trong nước còn phát triển tự phát, chưa có quy
hoạch. Nhiều cơ sở trồng trọt còn sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực
vật không đúng quy định.
Về nguồn mua, các bệnh viện hiện nay chủ yếu mua thuốc cổ truyền từ
các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoặc các cơ sở kinh
16
doanh dược liệu có đủ tư cách pháp nhân. Bên cạnh đó, một số thuốc nam,
đặc biệt là dược liệu địa phương còn được mua từ nhà dân.
Về chất lượng dược liệu hiện nay được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn
dược điển Việt Nam IV, với tiêu chí chủ yếu: đúng chủng loại, độ ẩm, định
tính, định lượng hoạt chất… Chất lượng dược liệu giảm sút thể hiện
+ Dược liệu bị nhầm lẫn, làm giả, không đúng tên trong dược điển
2008 15,86 84,14 100,0
2009 11,33 86,67 100,0
17
Như vậy tình hình sử dụng thuốc nam có xu hướng giảm đi, tỷ lệ sử
dụng thuốc bắc có xu hướng tăng lên ở các cơ sở khám chữa bệnh bằng
YHCT. Điều đó cho thấy rằng Nhà nước cần sớm có chính sách nuôi trồng
để phát triển nguồn dược liệu trong nước [23].
1.3. BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG
1.3.1. Một vài nét về lịch sử của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là đơn vị đầu ngành của cả nước
về YHCT và là một trong những cơ sở lớn nhất Việt Nam. Tiền thân là
Viện nghiên cứu Đông y được thành lập ngày 7 tháng 6 năm 1957 theo
quyết định số 238/Ttg của Thủ tướng chính phủ. Bệnh viện chịu sự quản lý
chuyên môn của Bộ y tế [20].
Bệnh viện có 417 cán bộ viên chức, 40% cán bộ có trình độ đại học trở
lên, trong đó PGS : 6, TS: 16, ThS: 36, BSCKII: 8, BSCKI: 20…Có 26
khoa phòng và trung tâm, 550 giường bệnh ( 350 giường điều trị nội trú,
200 giường điều trị nội trú ban ngày) [19].
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ
Với chức năng là bệnh viện đầu ngành của cả nước về YHCT, bệnh viện
thực hiện nhiệm vụ Bộ Y tế giao:
- Khám, cấp cứu, điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh ở
tuyến cao nhất về YHCT, kết hợp YHCT với Y học hiện đại.
- Nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật. Xây dựng tiêu
chuẩn thuốc và quy trình sản xuất thuốc cổ truyền.
- Đào tạo cán bộ chuyên ngành Y học cổ truyền cho mạng lưới chuyên
môn kỹ thuật Y dược học cổ truyền trên toàn quốc.
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật. Xây dựng phác đồ điều
trị kết hợp YHCT với YHHĐ. Thực hiện các chương trình Y tế quốc gia về