Vai trò của môn triết học trong đời sống xã hội - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Không phải ngẫu nhiên có ngời coi triết học nh là khoa học của mọi
khoa học. Cũng không phải ngẫu nhiên trong lịch sử, nhà triết học đợc gọi là
nhà thông thái, nhà hiền triết, ngời nắm đớc bí mất của sự vật thậm chí
trong lịch sử nhân loại, có thời kỳ mà xã hội đặt nhà triết học vào vị trí cao
nhất, có nhà cải tạo đặt nhà triết học vào vị trí cao nhất của cơ cấu tổ chức xã
hội (Platon với mô hình "Nhà nớc lý tởng")
Tất cả những điều ấy khiến triết học trở thành một môn thú vị, một cái
gì đó kì bí làm con ngời ở mọi thời đại đam mê, ham muốn hiểu sâu hơn và
đóng góp sức mình vào cái lâu đài kì bí và hoa lệ đó. Kể từ khi ra đời trải qua
nhiều giai đoạn phát triển đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ thì triết học luôn
phản ánh sự phát triển trí tuệ loài ngời và thúc đẩy t duy loài ngời, đôi khi
còn trở thành vũ khí sắc bén nhất cho những gì tiến bộ của sự phát triển đó.
Ngày nay triết học đã thực sự trở thành khoa học, đã hoàn chỉnh hơn vì vậy ý
nghĩa là động lực cho sự phát triển của đời sống xã hội càng rõ nét hơn, con
ngời càng đợc hoàn thiện hơn về t duy lý luận.
Đó là mặt tác động đến đời sống xã hội từ bản thân khoa học triết học.
Ngày nay, mặc dù sự phát triển nh vũ báo của khoa học kỹ thuật, sự phát
triển về mặt vật chất của đời sống xã hội cũng không hề làm giảm đi tính
chất kì bí và vai trò đối với thực tiễn của triết học, mà vấn đề là phải có một t
duy lý luận, đúng đắn để không bị "lạc lối" trong sự phát triển đó, hơn nữa,
sự phát triển về mặt xã hội của khoa học kỹ thuật cũng tác động ngợc trở
lại khoa học triết học: chứng minh hay bác bỏ những quan điểm triết học,
nhận chân đợc những t tởng đúng đắn
Với vai trò to lớn của triết học với sự phát triển t tởng xã hội và với
thực tiễn đời sống xã hội nh vậy, tiểu luận này chỉ mong tổng hợp lại một
số vai trò đã đợc thừa nhận của triết học trong đời sống xã hội.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận " Vai trò của triết học trong đời sống xã hội"gồm 3 phần:

hàm những nội dung giống nhau:
Triết học nghiên cứu thế giới với t cách là một chỉnh thể, tìm ra những
quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể nói chung, của xã hôi
loài ngời, của con ngời trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó
một cách có hệ thống dới dạng duy lý.
Vậy: Triết học là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con ngời về
thế giới, về vị trí vai trò của con ngời trong thế giới ấy.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
II. Triết học với t cách là một khoa học.
Ngày nay, Triết học không còn là bí mật mà chỉ những nhà Triết học
mới biết nữa (Ph.Ăngghen, "Chống Đuy-rinh") nó từ "Hhoa học của các khoa
học" đã trở thành một môn khoa học độc lập.
Là một môn khoa học độc lâp, Triết học cần phải có: Đối tợng riêng của
nó, phải có phơng pháp nghiên cứu ( gần phơng pháp luận và phơng pháp
riêng); có các vấn đề cơ bản; có các khái niệm và các phạm trù; các quy luật.
1. Đối tợng của Triết học.
Theo Ph.ăngghen: "Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất sử
sự vận động và phát triển của thế giới; từ tự nhiên, xã hội và cả t duy", (Ph.
ăng ghen, "chóng Đuy-rinh")
Nh vậy có thể coi đối tợng của Triết học là tự nhiên, xã hội và t duy của
con ngời: nhng Triết học không phải là khoa học tự nhiên, khoa học về xã
hội, khoa học về t duy (logic học) mà là khoa học chung nhất, nó coi thế giới
là "một chỉnh thể thống nhất " các mặt trên.
2. Phơng pháp nghiên cứu.
- Có một điều đặc biệt của khoa Triết học, đó là, với khoa học này thì sự
khác nhau về phơng pháp luật là cơ sở để phân biệt các trờng phái Triết học
(siêu hình hay biện chứng), thể hiện tính khoa học hay phản động của một hệ
thống Triết học. Nguyên nhân của hiện tợng này xuất phát từ đối tợng của
Triết học: Coi thế giới nh là một chỉnh thể, nghiên cứu bao trùm thế giới: tự

liên hệ chung trên một lĩnh vực nhất định của hiện thực thuộc phạm vi
nghiên cứu của môn khoa học chuyên ngành đó. Khác với điều đó, các phạm
trù của phép biện chứng duy vật nh:"(vật chất", "ý thức", "vận động", "đứng
im", "mâu thuẫn" là những khái niệm trung nhất phản ánh những mặt những
thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không phải chỉ của
một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực, mà của toàn bộ thế giới hiện
thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và t duy. Mọi sự vật, hiện tợng đều có
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động biến đổi, đều có mâu
thuẫn... nghĩa là đều có những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ đợc
phản ánh trong các phạm trù của Triết học.
- Khi Triết học duy vật biện chứng ra đời; nó trở thành vũ khí lý luận
sắc bén cho giai cấp tiến bộ, nó kết tinh mọi tinh hoa của t tởng nhân loại, vì
vậy nó là "khoa học nhất"; là "triệt để và hoàn mỹ nhất", là "sâu sắc và toàn
diện nhất" (V.I. Lênin; "Ba nguồn gốc của chủ nghĩa Mác"). Vì vậy có thể
coi các quy luật của Triết học duy vật biện chứng là quy luật cơ bản của khoa
học Triết học. Triết học duy vật biện chứng gồm ba quy luật cơ bản:
+ Quy luật mâu thuẫn: nói lên nguồn gốc và động lực vận động và phát
triển của thế giới, cả về các mặt: tự nhiên, xã hội, và t duy.
+ Quy luật về mối quan hệ giữa mặt lợng với mặt chất
Nói lên cách thức của sự phát triển.
+ Quy luật phủ định của phủ định: nói lên con đờng tất yếu của sự phát
triển.
III. Đặc điểm của khoa học triết học
1. Triết học tồn tại nh một hình thái ý thức xã hội
Nh các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, khoa học ) Thì
triết học cũng tồn tại với t cách là một hình thái ý thức xã hội, từ là có đặc
tính biến đổi phụ thuộc vào sự biến đổi của tồn tại xã hội và tác động trở lại
những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, triết học là một hình thái ý thức xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status