MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Nhà trường từ chỗ
khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với
nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng. Nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt
tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận, phân tích,
tổng hợp, sáng tạo những tri thức, thông tin.
Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khoá IX đã chỉ rõ: “Tập trung chỉ đạo
đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo chuẩn hoá, hiện đại
hoá tiếp cận trình độ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho đất nước”.
Mỗi nội dung chương trình đổi mới thì PPDH phải được cải tiến và biến đổi
theo. Một trong những điều kiện quyết định chất lượng dạy học ở các nhà trường
nói chung và trường đại học nói riêng là phương pháp quản lý hoạt động dạy
học. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp quản lý dạy học có tính
chất khả thi để đưa vào áp dụng trong các nhà trường nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục trong thời kỳ đổi mới là vấn đề cần thiết, cần được quan tâm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006)
tiếp tục đưa ra định hướng phát triển giáo dục là: “ưu tiên hàng đầu cho việc
nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình nội dung, phương pháp
dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ GV và tăng cường cơ sở vật chất của
nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh
viên…” [5,109].
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay
và trong thời đại bùng nổ thông tin trong bối cảnh toàn cầu, làm thế nào để có
thể đi tắt, đón đầu, để con người Việt Nam có thể vươn lên tầm cao trí tuệ thế
giới? Một trong những vấn đề mấu chốt là phải đầu tư, phát triển giáo dục, phải
biết ngoại ngữ.
1
Tiếng Anh có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo
và trong sự phát triển của đất nước. Nói chung, không những vì biết Tiếng Anh
là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quy trình công
dạy học môn Tiếng Anh có hiệu quả là một vấn đề cấp thiết và cần được quan
tâm nghiên cứu một cách cụ thể.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài : “Một số giải pháp quản lý hoạt
động dạy học m«n Tiếng Anh ở Trường ĐHCN.TP.HCM - Cơ sở Thanh
Hoá”. Hy vọng rằng, với những nhận thức lý luận trong quá trình học tập và
những kinh nghiệm bản thân đã tích luỹ trong công tác, đề tài sẽ đóng góp một
phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy – học Tiếng
Anh ở cơ sở Thanh Hóa và tất cả các cơ sở trong trường ĐHCN.TP.HCM nói
chung và môn Tiếng Anh nói riêng.Trên cơ sở đó có thể mở rộng ra cho các
đơn vị trường khác.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động dạy
học, để nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học môn Tiếng Anh ở Trường
ĐHCN.TP.HCM- Cơ sở Thanh Hoá.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở Trường
ĐHCN.TP.HCM - Cơ sở Thanh Hoá.
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Anh ở Trường ĐHCN.TP.HCM - Cơ sở Thanh Hoá.
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở
Trường ĐHCN.TP.HCM - Cơ sở Thanh Hoá.
4. Giả thuyết khoa học
3
Nếu thực hiện các giải pháp quản lý như luận văn đã đề xuất thì sẽ nâng
cao chất lượng hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở Trường ĐHCN.TP.HCM -
Cơ sở Thanh Hoá.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của đề tài.
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở
Trường ĐHCN.TP.HCM - Cơ sở Thanh Hoá.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
ANH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Để nâng cao chất lượng giảng dạy, các giải pháp quản lý có vai trò hết sức
quan trọng. Đây là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm. Họ
đã nghiên cứu từ thực tiễn các nhà trường để tìm ra các giải pháp quản lý hiệu
quả nhất. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các giải pháp quản lý ho¹t ®éng dạy
học các môn lý thuyết cơ sở và các môn học chung, đặc biệt là môn Tiếng Anh
với SV không chuyên ở các trường ĐH thì chưa được quan tâm và nghiên cứu
một cách có hệ thống. Cho đến những năm gần đây, việc nghiên cứu về quản lý
giảng dạy môn Tiếng Anh ở trường đại học đã được quan tâm, cũng có một số
bài báo đề cập đến vấn đề này chưa giải quyết hết các vấn đề cấp thiết hiện nay.
Hơn nữa, do bị hạn chế bởi phạm vi, mục đích nên việc nghiên cứu chưa cụ thể,
chưa sâu rộng. Có thể nói việc giảng dạy môn Tiếng Anh ở các trường ĐH đã
được xem xét và nhìn nhận khá cụ thể. 51,7% SV tốt nghiệp không đáp ứng
được yêu cầu về kỹ năng Tiếng Anh. Đó là kết quả khảo sát được Vụ Giáo dục
ĐH (Bộ GD-ĐT) thống kê từ báo cáo tình hình giảng dạy Tiếng Anh của 59
trường ĐH không chuyên ngữ trong cả nước. Con số này được công bố tại hội
thảo “Đào tạo Tiếng Anh trong các trường ĐH không chuyên ngữ” do Bộ GD-
ĐT phối hợp với Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ vừa tổ chức tại Hà Nội.
Bà Trần Thị Hà, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cho biết
“Chỉ 10,5% số trường ĐH đã thực hiện khảo sát đánh giá khả năng đáp ứng yêu
cầu công việc về kỹ năng sử dụng Tiếng Anh của SV tốt nghiệp. Kết quả cho
thấy khoảng 49,3% SV đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, 18,9% SV
không đáp ứng được và 31,8% SV cần đào tạo thêm”.
6
Qua các ý kiến của đại diện của các cơ sở đào tạo cho thấy đa số các trường ĐH
có xu hướng chọn TOEIC làm chuẩn đánh giá trình độ Tiếng Anh đầu vào và
chuẩn trình độ tốt nghiệp đối với SV. Từ chỗ có sáu trường áp dụng chuẩn Tiếng
ĐHCN.TP.HCM – cơ sở Thanh Hoá như thế nào? Làm thế nào khắc phục
những bất cập hiện nay và thực hiện được các giải pháp để đạt được mục tiêu
đào tạo đặt ra? Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Anh ở Trường
ĐHCN.TP.HCM chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận
văn này.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ
HĐDH MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC.
1.2.1. Quản lý
Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ xuất hiện theo: quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con
người với xã hội và cả con người với chính bản thân mình. Điều này làm nảy
sinh nhu cầu quản lý. Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến
xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng phát triển
theo. Đó là tất yếu lịch sử. Khái niệm quản lý ngày nay nhiều người thừa nhận
rằng quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành
một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan
đến mọi người. Hiện nay, nước ta đang thực hiện cơ chế thị trường dưới sự quản
lý của Nhà nước, đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải cách mở
cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, vấn đề sử dụng và phát huy những ưu việt
sẵn có xuất phát từ bản chất xã hội phần lớn phụ thuộc vào quản lý và trình độ tổ
chức quản lý, vào hiệu quả và chất lượng quản lý.
8
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc.
Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý xin được nêu ra
một vài định nghĩa sau :
Tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng,
có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về
tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng
được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [15,34]. Qua các
- Kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách
thể quản lý, nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức.
Chức năng quản lý có thể được minh hoạ bằng sơ đồ sau:Sơ đồ 1.1 : Minh họa các chức năng quản lý
1.2.2.Quản lý giáo dục
Khái niệm về quản lý giáo dục
Khái niệm “quản lý giáo dục” được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau nhưng
có hai cấp độ chủ yếu trong quản lý giáo dục thường thấy là : cấp vĩ mô và cấp
vi mô.
10
Lập kế hoạch
Tổ chức
Quản líKiểm tra
Chỉ đạo
Đối với cấp vĩ mô : Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là
nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý, lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử
dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống
đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi
trường bên ngoài luôn biến động.
Đối với cấp vi mô : Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ
thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
1.2.3. Dạy học
Dạy là hoạt động thế hệ trước truyền cho thế hệ sau tiếp thu các kinh
nghiệm lịch sử-xã hội (tri thức, kỹ năng, thái độ, giá trị, ). Đó là sự điều khiển
tối ưu hóa quá trình chiểm lĩnh khái niệm khoa học của nguời học và là quá trình
người GV tổ chức hoạt động nhận thức cho người học.
Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại
(trong Từ điển Tiếng Việt ) [29,437]. Nói cách khác, học (hoạt động học tập) là
một quá trình hoạt động tự giác, tích cực của người học nhằm lĩnh hội tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, trí tuệ và thể chất, hình thành nhân cách bản thân. Như vậy,
học là một hoạt động nhằm thay đổi, phát triển bản thân mình cho phù hợp với
yêu cầu của xã hội, hoặc học là nhằm biến những yêu cầu của xã hội thành
những phẩm chất năng lực của các nhân.
1.2.4.Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy: Trong quá trình dạy học (QTDH) GV là chủ thể của hoạt
động dạy (HĐD), tổ chức, điều khiển lãnh đạo hoạt động học (HĐH) của SV;
đảm bảo cho SV tiếp thu tri thức, nghiên cứu khoa học có chất lượng, đạt được
những yêu cầu được quy định của chương trình đào tạo.
Hoạt động học: SV là đối tượng của HĐD vừa là chủ thể của hoạt động
nhận thức có tính chất nghiên cứu. Nói cách khác, SV là khách thể của HĐD
vừa là chủ thể của hoạt động tích cực độc lập sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo liên quan đến nghề nghệp tương lai của bản thân.
Sơ đồ 1.3: Hoạt động dạy học
12
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Hoạt động họcHoạt động dạy
Hoạt động phối hợp
của GV và SV
Hoạt động độc lập
của SV
Hoạt động độc lập
luật về sự thống nhất giải chứng giữa dạy và học là quy luật cơ bản, giữ vai trò
quyết định trong hệ thống các quy luật của quá trình dạy học. Bởi vì quy luật
này phản ánh mối quan hệ tất yếu, bền vững giữa GV với hoạt động dạy và sinh
viên với hoạt động học. Mặt khác quy luật này bao trùm nội dung các quy luật
khác, là những quy luật nội tại của quá trình dạy học. Ngược lại các quy luật
khác chỉ có thể phát huy tác dụng tích cực, hoặc tiêu cực dưới ảnh hưởng của
quy luật này. Do đó, nắm vững các quy luật khách quan của quá trình dạy học,
người thầy có thể thiết kế và tổ chức quá trình dạy học phù hợp và có hiệu quả
nhất.
Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động nhận thức nhằm chiếm lính
tri thức trong kho tàng văn hóa nhân loại. Nét độc đáo trong học tập của sinh
viên vừa lĩnh hội tri thức, vừa tìm tòi phát hiện cái mới. Quá trình đó diễn ra
dưới sự tổ chức, điều khiển của GV, sinh viên không ngừng phát huy tính tích
cực, độc lập sáng tạo biến kho tàng tri thức của nhân loại thành vốn kiến thức
riêng của mình. Như vậy quá trình học tập của sinh viên có thể đạt tới ba mục
tiêu: trí dục (nắm vững tri thức), đức dục và phát triển tư duy (vận dụng tri
thức). Ba mục tiêu này gắn bó với nhau hữu cơ với nhau “khai trí tiến đức” là
14
điều cổ nhân đã dạy, “đến một trình độ cao, tri thức với tư tưởng, đức dục với trí
dục là một. Trí dục dẫn tới đạo đức, đạo đức là sự tất yếu của sự hiểu biết”
Về bản chất, hoạt động học của sinh viên đóng vai trò quyết định quá trình
dạy học. Nó vừa là tiêu chí phấn đấu của hoạt động dạy học, vừa là sự thể hiện
giá trị nhân văn trong hoạt động giáo dục nói chung, quá trình dạy học ở đại học
nói riêng. Bởi vì trong thực tế có trường hợp thầy giảng tốt người nghe thấy hay,
hệ thống tri thức-khái niệm đầy đủ nhưng trò lại không tiếp thu, không biến
được nội dung bài giảng thành hệ thống tri thức của mình, do đó không có khả
năng tự học, tự nghiên cứu. Việc dạy học như vậy chỉ là hình thức, còn quá trình
nhận thức của người học không diễn ra. Theo nghĩa đó chúng tôi cho rằng bản
chất quá trình dạy học ở đại học là tạo ra một quá trình nhận thức của người
học, mà kết quả của nó phải là khối lượng tri thức có chọn lọc được sinh viên
học sinh.
- Bảy là chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học.
-Tám là chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và kế
hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học.
Quản lý hoạt động giảng dạy - Chức năng quản lý hoạt động giảng dạy:
* Quản lý hoạt động giảng dạy: Quản lý hoạt động giảng dạy là sự tác
động hợp quy luật của chủ thể quản lý (CTQL) lên khách thể quản lý bằng các
giải pháp phát huy các chức năng quản lý hoạt động giảng dạy nhằm đạt đến
mục đích.
* Quản lý hoạt động giảng dạy có bốn chức năng cơ bản sau:
- Lập kế hoạch: Chủ thể quản lí xây dựng kế hoạch, đề ra mục tiêu, dự
kiến phân công giảng dạy, đề xuất những cách thức để đạt tới mục đích dạy
16
học.GV bộ môn phải dạy theo đúng kế hoạch chương trình do Bộ GD&ĐT quy
định. Chủ thể quản lý chỉ làm nhiệm vụ: phân công GV có đủ năng lực dạy các
môn đúng chuyên môn được đào tạo, lập thời khoá biểu khoa học; duyệt kế
hoạch giảng dạy của cá nhân…
- Tổ chức: Thiết lập cơ cấu và cơ chế hoạt động, với các nội dung sau:
Phân công Phó Hiệu trưởng tập trung nhiệm vụ chỉ đạo chuyên môn, đây là
nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường nhằm thực hiện “Dạy tốt, học tốt”; chỉ định
tổ trưởng chuyên môn, xây dựng các màng lưới cốt cán chuyên môn; phối hợp
chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể tạo ra cơ chế đồng bộ, hoạt động nhịp nhàng
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
- Chỉ đạo: là hướng dẫn công việc, biết liên kết, liên hệ, động viên các bộ
phận và cá nhân trong nhà trường thực hiện mục tiêu. Chỉ đạo thực hiện nghiêm
các văn bản pháp quy, qui chế của Nhà nước và của ngành giáo dục về nề nếp
dạy học: chỉ đạo xây dựng và thực hiện các nội qui của nhà trường về nền nếp
dạy học; chỉ đạo thực hiện các kế hoạch về dạy học đã được xây dựng, thực hiện
chương trình kế hoạch các môn học, thời khoá biểu lên lớp, nề nếp ra vào lớp
2. Những vấn đề quản lý, cơ chế quản lý, các quy chế, cách thức tổ chức,
kiểm tra, đánh giá chất lượng.
3. Đội ngũ GV và động lực đội ngũ này.
4. Học sinh và động lực học tập của học sinh.
5. Cơ sở vật chất và tài chính.
6. Mối quan hệ giữa nhà trường và sản xuất.
7.Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với người được đào tạo ở các lĩnh vực
KT-XH.
Tuy nhiên, không phải tác động của các thành phần trên đến CLDH đều
như nhau và trong từng điều kiện cụ thể lại đòi hỏi phải có những bện pháp thích
18
hợp để nâng cao CLDH. Trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện
cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học
tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
XH, củng cố quốc phòng, an ninh.
Các điều kiện đảm bảo CLDH ở các cơ sở đào tạo như: chương trình, giáo
trình, đội ngũ cán bộ quản lý, GV, cơ sở vật chất, trang thiết bị … nhất là khâu
quản lý hoạt dộng dạy học là hết sức cần thiết, không thể có CLDH tốt khi các
điều kiện đảm bảo không đạt yêu cầu.
1.3.2. Phương pháp dạy học môn Tiếng Anh
13.2.1. Phương pháp
Theo quan niệm Triết học hiểu phạm trù mục đích và phương pháp là
những phạm trù cơ bản đối với hoạt động của con người. Sau khi có mục đích
hoạt động thì tất cả mọi con đường, cách thức phương tiện cần đến cho hoạt
động để đạt mục đích đều là phương pháp hoạt động.
Trong "Bút ký triết học" V.I. Lê Nin đã nêu lại định nghĩa phương pháp
của Hêghen: "Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong
của nội dung”: Từ định nghĩa này, đã chỉ rõ giữa nội dung và phương pháp đã có
sự thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau được, phương pháp không phải
diễn ra và phương pháp tác động không đạt được kết quả tương ứng như mong
muốn. Mục đích của GV được xây dựng, xác lập bởi mục đích và nhiệm vụ
chung của dạy học cũng có những thay đổi PPDH. Chẳng hạn, trong thời kỳ
trung cổ, khi mà mục đích truyền thụ kiến thức cho trẻ em của các giai cấp
thống trị chỉ là để chuẩn bị cho một cuộc sống quý phái chứ không phải chuẩn bị
20
cho một cuộc sống lao động thì PPDH là phương pháp giáo điều mà cơ sở của
nó là việc học thuộc tất cả những gì mà thầy giáo truyền thụ .
Sau thời kỳ của những phát minh sáng chế, thời kỳ của xã hội văn minh,
thời kỳ của sự xuất hiện về kiến thức có ích cho cuộc sống, điều này làm nảy
sinh những PPDH mới, PPDH trực quan, gợi suy nghĩ, suy luận, trí tuệ của
người học, vận dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn.
Vì vậy để có được PPDH, trước tiên đòi hỏi GV phải đề ra mục đích của
mình và tiến hành hoạt động với những phương tiện đạt tới kết quả cao, tùy theo
từng phương pháp mà tìm tòi sản xuất những phương tiện phù hợp, việc lựa
chọn và sử dụng một loại phương tiện, phương pháp dạy học hiện đại cần có
phương tiện hiện đại hỗ trợ - nhờ đó làm cho người học xuất hiện những mục
đích của mình.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa PPDH Tiếng Anh như
sau:
PPDH Tiếng Anh là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác
với nhau của GV và học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học.
PPDH Tiếng Anh là hệ thống những hành động có chủ định, theo một
trình tự nhất định của GV và học sinh nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt
động thực hành của học sinh, đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và
chính vì vậy mà đạt được những mục đích dạy học.
PPDH Tiếng Anh là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của GV
và học sinh trong đó phương pháp dạy học chỉ đạo phương pháp học nhằm giúp
cho học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ
năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo.
bao gồm kỹ năng thu nhận và tái tạo trong đó kỹ năng nghe và đọc là kỹ năng
thu nhận, kỹ năng nói và viết là kỹ năng tái tạo” [4,17]
Hoạt động dạy học Tiếng Anh là hoạt động trong đó người dạy đóng vai
trò tổ chức, lãnh đạo giúp người học phát huy tính tích cực, chủ động để định
hình và dần dần hoàn thiện, phát triển kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh nhất định,
tạo nên hoạt động chung của người dạy và người học. Trong DHTA, chỉ có
HĐH Tiếng Anh ở SV mới có HĐDTiếng Anh ở GV. Tuỳ theo yêu cầu của từng
nội dung bài học, kỹ năng rèn luyện mà GV có phương pháp dạy và SV có
phương pháp học để đạt được mục tiêu dạy học hiệu quả.
Hoạt động dạy học Tiếng Anh gồm 4 kỹ năng: Nghe – Nói - Đọc – Viết.
Có thể mô tả cấu trúc của hoạt động DHTA theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1. 4: Cấu trúc hoạt động dạy học Tiếng Anh
Bốn kỹ năng giao tiếp trên có mối quan hệ qua lại phức tạp và gắn bó hữu
cơ với nhau, trong đó khẩu ngữ (Nói – Nghe) được chú trọng đặc biệt và đi
trước một bước so với bút ngữ (Viết - Đọc).
1.4.2. Hoạt động dạy học Tiếng Anh cho SV không chuyên ở các
trường ĐH.
23
NÓI Khẩu ngữ NGHE
VIẾT Bút ngữ ĐỌC
Tái tạo
Giao tiếp
Thu nhận
Hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường đại học là hoạt động có mục
đích, kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp dạy học cụ thể giúp SV
hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng cơ bản về Tiếng Anh; nâng cao năng
lực tự học, tự nghiên cứu cho SV thông qua tra cứu các tài liệu nước ngoài phần
lớn là TA; trang bị cho SV kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản: Nghe – Nói -
Đọc – Viết đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập
kinh tế thế giới của đất nước góp phần thực hiện sự nghiệp “công nghiệp hoá,
học tập. Vì vậy để quản lý giờ dạy của giáo viên trên lớp đạt hiệu quả,tổ chức
công tác dự giờ và phân tích giờ dạy của GV Tiếng Anh cùng với các lực lượng
chuyên môn khác trong nhà trường tham gia với nhiều hình thức khác nhau: Tổ
chức dự giờ rút kinh nghiệm, tổ chức thao giảng, tổ chức các hội thi giờ dạy tốt,
nhằm quản lý được chất lượng dạy học Tiếng Anh trên lớp của GV.
- Quản lý việc GV kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh : qui
định giảng viên thực hiện đúng việc ghi điểm, sửa chữa điểm trong sổ điểm, chế
độ bảo quản, lưu trữ sổ điểm lớp, việc ghi điểm, ghi nhận xét vào học bạ của học
sinh. Đây là công việc đòi hỏi chính xác và nghiêm túc, cần qui định trách
nhiệm rõ ràng.
*Quản lý hoạt động học Tiếng Anh của sinh viên :
- Học Tiếng Anh là một hoạt động nhận thức một ngôn ngữ thứ hai, chỉ
khi có nhu cầu hiểu biết của học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó
chính là động cơ nhận thức của SV trong học tập. SV vừa là đối tượng vừa là
chủ thể trong hoạt động dạy học, vì vậy, quản lý hoạt động học của SV là khâu
quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
25