MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………......…3
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….....3
3. Vấn đề nghiên cứu. ………………………………………………………...…3
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...…4
5. Cấu trúc tiểu luận…………………………………………………………..…4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ
THỜ PHÁT DIỆM
1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc của nhà thờ Phát
Diệm………………………………………………………………………………….5
2. Lịch sử và sự ra đời của nhà thờ Phát Diệm……………………………………....6
2.1 Đôi nét về tiểu sử Cha Trần Lục người xây dựng nhà thờ Phát Diệm…………...7
2.2 Ý tưởng xây dựng quần thể nhà thờ Phát Diệm của Cha Trần Lục……….........8
2.3 Việc chuẩn bị cho công cuộc xây dựng………………………………………...10
3. Tổng quan về nhà thờ Phát Diệm………………………………………………...11
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC VÀ KIẾN TRÚC NHÀ THỜ
PHÁT DIỆM
1. Nghệ thuật điêu khắc của nhà thờ Phát Diệm…………………………….11
1.1 Nghệ thuật điêu khắc ở Phương Đình…………………………………………..12
1.2 Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ lớn………………………………………………15
1.3 Nghệ thuật điêu khắc bốn nhà thờ bên cạnh nhà thờ lớn ………………………17
1.3.1. Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ Thánh Giuse…………………………………17
1.3.2. Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ Thánh Phêrô……………………………...…18
1.3.3. Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ trái tim Chúa Giê su………………………….18
1
1.3.4. Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ Thánh Rô-cô……………………………..…..19
1.4 Nghệ thuật điêu khắc nhà thờ trái tim đức mẹ ( nhà thờ đá )…………….……..19
2. Nghệ thuật kiến trúc của nhà thờ đá Phát Diệm……………………...…..22
2.1 Kiến trúc nhà thờ Phát Diệm xây dựng theo lối kiến trúc Á Đông……………..22
• Phương pháp quan sát
• Phương pháp phỏng vấn
5. Cấu trúc tiểu luận.
Tiểu luận gồm 2 chương:
Chương 1. Khái quát chung về lịch sử và sự ra đời của nhà thờ Phát Diệm
Chương 2. Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc nhà thờ Phát Diệm
4
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUAT CHUNG VỀ LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA
NHÀ THỜ PHÁT DIỆM
1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc của nhà thờ
Phát Diệm.
Ở Việt Nam gồm có năm tôn giáo chính là: Phật giáo, Thiên Chúa giáo hay
còn gọi là Ki tô giáo, tin lành, Cao đài và Hòa Hảo. Trong đó những người đi theo
đạo phật là nhiều nhất sau đó là Thiên Chúa giáo. Đạo Thiên Chúa có ảnh hưởng rất
lớn trong xã hội Việt Nam. Từ khi du nhập vào Việt Nam nhiều nhà thờ đã được
mọc lên với nhiều kiểu và nhiều dáng vẻ rất đẹp mà chủ yếu nó chịu ảnh hưởng của
kiến trúc phương Tây.
Thời kì trung cổ, đạo cứu thế của Chúa Giêsu xuất hiện với khẩu hiệu “ Ta sẽ
giành thiên đường cho người nghèo, và giành hỏa ngục cho bọn giàu sang”. Thế là
những người ngèo đang thất vọng bỗng được nhen lên 1 hi vọng, dù nó mơ hồ, ảo
tưởng nhưng vẫn là hi vọng. Vậy là Thiên Chúa giao trờ thành một phong trào mộ
đạo, phong trào lớn mạnh, Phương Tây từ đa thần trở chuyển sang nhất thần giáo.
Mọi nghệ thuật như điêu khắc, kiến trúc đều quy tụ vào nhà thờ. Tôn giáo thống trị
nghệ thuật thời kì này chính vì vậy dẫn tới sự ra đời của 3 phong cách kiến trúc nhà
thờ đó là: Kiến trúc nhà thờ kiểu Bigiangtanh, kiến trúc nhà thờ Rômăng, kiến trúc
nhà thờ Gô tích.
5
Nhà thờ Phát Diệm đã chịu ảnh hưởng rất nhiều kiểu kiến trúc nhà thờ Gôtích.
Với sự đồ sộ như nhẹ nhàng, thanh thoát, như “một lời thỉnh cầu vút mãi tới trời
7
Trong lịch sử Giáo Hội Việt-nam, Cha Trần Lục có lẽ là vị Linh Mục duy
nhất sống được hài hòa cả hai trách vụ đời và đạo một cách xuất sắc. Vừa là giáo sĩ,
ngài lại còn là Trấp An dưới triều vua Tự Ðức, là Gia Lễ Bộ Tham Tri, sung Khâm
Sai Tuyên Phủ Sứ dưới triều vua Ðồng Khánh, là Lễ Bộ Thượng Thư dưới triều vua
Thành Thái, là Phát-diệm Nam Tước của vua Khải Ðịnh, được tặng Ngũ Ðẳng Bắc
Ðẩu Bội Tinh năm 1884, rồi Tứ Ðẳng Bắc Ðẩu Bội Tinh năm 1899.
Ngày 7 tháng 7 năm 1899, Cha Trần Lục qua đời, hưởng thọ 74 tuổi.
2.2 Ý tưởng xây dựng quần thể nhà thờ Phát Diệm của Cha Trần Lục.
Ở Việt-nam, tam giáo Phật - Lão - Nho đã bám rễ sâu vào nền tảng văn hóa
dân tộc từ rất lâu đời. Các tôn giáo và tín ngưỡng này đã thâm nhập vào mọi tầng lớp
xã hội mạnh mẽ đến độ chúng ta không thể tách rời "văn hóa tâm linh" ra khỏi môi
trường văn hóa truyền thống Việt-nam. Những niềm tin tôn giáo đã chuyển hóa
thành phong tục, tập quán, cách nghĩ suy và ứng xử... Cứ thế mà lưu truyền tiếp nối
qua bao thế hệ. Chính vì vậy, trong những thời kỳ đầu của việc truyền giáo, đã có
không ít những xung đột gay gắt xung quanh những vấn đề phụng tự giữa tín
ngưỡng truyền thống Việt-nam và tín ngưỡng phương Tây.
Việc thờ cúng tổ tiên, dự giỗ chạp, ra đình làng để dự lễ Cầu Mùa... tất cả đều
bị xem là đồng nghĩa với "mê tín dị đoan". Các tượng thần tượng Phật đều bị xếp
vào loại "ngẫu tượng". Các kiến trúc theo phương vị nằm ngang của đình, chùa,
đền... đều bị đánh giá "hình dạng của ma quỷ". Những quan điểm này từng là trở lực
cho việc phát triển và hội nhập của Công Giáo trong cộng đồng dân tộc Việt-nam.
Về vấn đề này, để xóa mờ ký ức lịch sử không hay ấy, một giai đoạn quá
khích, không khoan nhượng, Giáo Hội Công Giáo trong thời kỳ trước Cha Trần Lục
khá lâu, đã có một quan điểm ứng xử mới, giúp cho người bản xứ, không chỉ riêng
tại Việt-nam mà cả ở khắp nơi trên thế giới, hiểu được rằng: "Công Giáo chỉ mang
8
Ðức Tin đến cho họ. Ðức Tin này không loại trừ, không làm tổn thương đến nghi lễ
và các phong tục tập quán của dân tộc".
Hình ảnh mái đình, ngôi chùa đã bén rễ sâu vào tâm thức người Việt. Ðó là
khăn lớn khác, đó là vấn đề lo liệu tài chính.
Ở giai đoạn này, Cha Trần Lục không
nhận bất kỳ một nguồn tài trợ nào từ phía
Giáo Hội, triều đình Huế và thực dân Pháp. Vì vậy, mọi nỗ lực đều chỉ dựa vào sức
giáo dân địa phương mà thôi.
Như đã giới thiệu trong đoạn viết về lịch sử hình thành huyện Kim-sơn, đây là
vùng đất do phù sa bồi đắp, nhiều sình lầy, nền đất yếu, vật liệu xây dựng khai thác
được tại chỗ chủ yếu là lau, sậy, luồng... Do đó, toàn bộ vật tư phải được mua hoặc
khai thác từ những địa điểm rất xa xôi, phương tiện vận chuyển hết sức hạn chế. Một
số vật tư như gỗ lim phải mua từ Hồi-xuân, Thanh-hóa, hoặc ở Bến-thủy, Nghệ-an
cách xa đến 200 cây số, trong đó có những súc gỗ dài đến 11m, nặng đến 7 tấn. Ðá
loại thường được khai thác ở Thiện-dưỡng. Ðá quý thì phải đến núi Nhôi, Thanh-hóa
cách 70 cây số, có phiến nặng đến 20 tấn.
Phương tiện vận chuyển chính yếu là thuyền bè được kết lại thành từng mảng
lớn xuôi ngược trên những giòng kênh mà trước đây cụ Nguyễn Công Trứ đã ra
công khai mở.
Thật là cả một quá trình chuẩn bị trường kỳ và gian khổ, không những không
cản trở mà còn hun đúc thêm quyết tâm của Cha Trần Lục cũng như toàn thể giáo
dân xứ Phát-diệm.
10
3. Tổng quan về nhà thờ Phát Diệm.
Nhà thờ Phát Diệm (Nhà thờ đá Phát Diệm) là một quần thể các nhà thờ công
giáo. Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có
một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), 1 phương
đình (nhà chuông), ao hồ và 3 hang đá nhân tạo.
Chương 2: NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC VÀ KIẾN TRÚC NHÀ THỜ
PHÁT DIỆM
1. Nghệ thuật điêu khắc của nhà thờ Phát Diệm.
Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình bằng cách phối mảng khối, nét theo không
gian ba chiều để tạo nên hình thể - thực thể nhằm biểu hiện các giá trị tinh thần của
gần như là một hình vuông (17m và 21m). Theo một số chuyên gia có nhiều nghiên
cứu về đình, hình mặt bằng "gần vuông" vẫn có thể xem là "Phương Ðình".
Từ những điều như vừa nêu, ý tưởng nổi bật của tác giả Trần Lục là sự tôn thờ
Thiên Chúa không đồng nghĩa với việc tách rời và chối bỏ các phong tục tập quán
dân tộc. Mặt khác, nó cho ta một nhận định đây là phương cách tôn thờ Thiên Chúa
theo cách của những người Việt, mà đời sống đã từng bám rễ vào dòng sinh hoạt của
làng.
Phương Đình hình dáng như cái đình làng rộng lớn mà trống trải, kích thứơc
gần như vuông: chiều ngang 21m, sâu 17m, cao 25m, có 3 tầng. Với kỹ nghệ thủ
công những người thợ địa phương đã ghép những phiến đá nặng hàng nghìn cân,
mức độ chính xác rất cao. Các vòm cửa bằng đá được lắp ghép đến trình độ tinh xảo.
Giữa Phương Ðình đặt một sập làm bằng đá nguyên khối khối đá dài 4,20m, rộng
3,20m, dày 0,30m, tương truyền là là sập rồng của Vua Nhà Hồ (1400-1407) ở thành
Tây Giai Thanh Hóa ngày xưa. Trên các vách có phù điêu bằng đá tạc một số vị
thánh, những bức phù điêu còn được khắc chạm trên đá hình ảnh chúa Jesu tạc sự
tích từ khi Chúa vào thành Gieerrusalem đến khi chúa lên trời với những đường nét
thanh thoát. Cũng đáng chú ý những chấn song đá hình cây trúc ngoài ra, mặt chính
13
phía nam có khắc 4 đại từ “Thánh Cung Bảo Tòa” nghĩa là “Tòa quý của thân thể
thánh”, còn phía bắc là tiếng la tinh “Capella in Coena Domini” nghĩa là “Nhà
nguyện trong ngày kỉ niệm tiệc ly của Chúa” Tầng thứ hai của Phương Ðình treo
một trống lớn. Tầng ba treo một quả chuông cao 1,4m, đường kính 1,1m, nặng gần
2000 kg, quả chuông lớn ở Phương Ðình được đúc vào năm 1890. Mái của Phương
Ðình có năm vòm, bốn vòm ở bốn góc thấp hơn, vòm cao nhất là vòm ở giữa tầng
ba. Mái của Phương Ðình ở nhà thờ đá Phát Diệm không cao vút kiểu ngọn tháp như
những nhà thờ khác mà là mái cong thấp cổ kính như mái đình, mái chùa.
14