Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA HỒ CHÍ MINH – SỰ VẬN
DỤNG, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.
MỞ BÀI
Lý do chọn đề tài:
Đại đoàn kết dân tộc là một trong những bài học thắng lợi của cách mạng
Việt Nam, một tư tưởng lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được các Đại hội
của đảng ta liên tiếp khẳng định và nêu cao.
Sự nghiệp đổi mới ngày càng phát triển quá trình hội nhập của nước ta
vào nền kinh tế thế giới ngày càng đẩy mạnh thì ý nghĩa của bài học nói trên
càng có tính thời sự sâu sắc.Vì vậy, yêu cầu thấm nhuần và vận dụng sáng
tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một điều kiện không thể
thiếu để giúp chúng ta tìm ra những đối sách phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới
tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới.
Tuy nhiên, thực tế một lần nữa chứng minh rằng, vấn đề đại đoàn kết dân
tộc phải đựơc xem xét và giải quyết tận gốc rễ trên quan điểm thực sự khoa
học và cách mạng. Đòi hỏi phải xuất phát từ sự nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh để nắm vững lý luận về vấn đề đại đoàn kết dân tộc, từ đó chúng ta mới
có thể nắm được thực chất của chủ trương thực hiện vấn đề đại đoàn kết dân
tộc, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Từ những vấn đề đó, đề tài đi sâu nghiên cứu và làm rõ quan điểm của Hồ
Chí Minh về vấn đề đại đoàn kết dân tộc, từ đó khẳng định tính đúng đắn của
chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.Mục đích nghiên cứu
Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đề xuất một
số kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chính sách đại đoàn kết dân tộc của
động thực tiễn của Người. Người đã trở thành linh hồn của khối đại đoàn kết
dân tộc ngày càng rộng rãi và bền vững.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là sản phẩm của sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, nhân nghĩa và
thực tiễn cách mạng Việt Nam với tinh hoa văn hoá nhân loại, được nâng lên
tầm cao mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
1.1.1 Chủ nghĩa yêu nước.
Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn
kết dân tộc đã được hình thành và củng cố trong hàng nghìn năm lịch sử đấu
tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, tạo thành truyền thống bền vững,
thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt nam. Tinh
thần, ý thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn bản sắc dân tộc được
giữ vững.
Đối với mỗi người Việt Nam yêu nước – nhân nghĩa - đoàn kết đã trở thành
một tình cảm tự nhiên:
“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Và hơn thế nữa, nó đã trở thành một triết lý nhân sinh:
“ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Và thành phép ứng xử, tư duy chính trị:
“Tình làng, nghĩa nước.
Nước mất thì nhà tan.
Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh” [2.178]
Tất cả đã ghi đận dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan
hệ ba tầng chặt chẽ: Gia đình – làng xã - quốc gia vã cũng trở thành sợi dây liên
kết các dân tộc, các giai tầng trong xã hội Việt Nam.
Truyền thống ấy không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian,
ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tập hợp, đoàn kết các lưc lượng cách
mạng trong phạm vi từng nước và mở rộng hơn nữa là trên toàn thế giới để
giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin không phải bằng một cách thụ
động, không chỉ qua báo chí sách vở mà chủ yếu là ở chỗ vừa hoạt động cách
mạng lại vừa nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa tìm hiểu về cách mạng
Tháng Mười Nga. Người đã kết hợp cả lý thuyết với thực tiễn một cách sáng
tạo và phù hợp nhất. Vì vây, Người đã sớm nắm được linh hồn của chủ nghĩa
Mác-Lênin, những vấn đề cốt lõi nhất của học thuyết cách mạng và khoa học
của các nhà kinh điển. Nhờ đó Người đã có cơ sở khoa học để đánh giá chính
xác yếu tố tích cực cung như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà
cách mạng lớn trên thế giới. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc cách
mạng của các nước, từ đó hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người về đại
đoàn kết dân tộc.
1.1.3 Thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở
tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào
cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa. Những thành công hay thất bại của cácphong trào ấy đều
được Người nghiên cứu để rút ra những bài học cần thiết cho việc hình thành tư
tưởng về đại đoàn kết dân tộc.
Phong trào yêu nướcViệt Nam đã diễn ra rất mạnh mẽ từ khi thực dân Pháp
xâm lược nước ta. Từ các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế cuối thế
kỷ XIX đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu thế kỷ XX. Các
thế hệ người Việt Nam yêu nước đã nối tiếp nhau vùng dậy chống ngoại xâm
nhưng đều thất bại. Thực tiễn hào hùng bi tráng của dân tộc đã chứng tỏ rằng,
bước vào thời đại mới, chỉ có tinh thần yêu nước thì không thể đánh bại được
các thế lực Đế quốc xâm lược. Vận mệnh của dất nước đòi hỏi phải có một
trên mảnh đất đã diễn ra cuộc cách mạng ấy. Chính điều này đã giúp Người hiểu
sâu sắc thế nào là một cuộc “Cách mạng đến nơi” để chuẩn bị cho cuộc lãnh đạo
nhân dân Việt Nam đi vào con đường cách mạng mới những năm sau này.
Đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí
Minh đặc biệt chú ý đến Trung Quốc và ấn Độ. Đây là hai nước có thể đem lại
cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêu nước tiến bộ
đã tiến hành cách mạng (Đoàn kết các dân tộc, các giai tầng, các đảng phái và
tôn giáo... nhằm thực hiện mục tiêu của từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như chủ trương “Liên Nga, thân Cộng, ủng hộ công nông”, “Hợp tác Quốc –
Cộng” của Tôn Trung Sơn).
1.2. Nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Với cương vị lãnh đạo tối cao của Đảng cộng sản và của dân tộc, đứng đầu
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hơn hai mươi năm liền, Người đã tập
hợp, quy tụ được các dân tộc, các giai cấp, tầng lớp, đảng phái,tôn giáo, nhân sĩ
trí thức yêu nước, đồng bào trong nước và kiều bào ở nướcngoài xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam,từ cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN. Để làm được điều đó Người phải
có những quan điểm đúng đắn, những hành động cụ thể phù hợp trong từng giai
đoạn lịch sử của dân tộc. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong các quan điểm
của Người về đại đoàn kết dân tộc:
1.2.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết
định thành công của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược, nó là
một tư tưởng cơ bản nhất quán và xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam đó
là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức
mạnh to lớn của toàn dân tộc, trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc,giai cấp.
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều
chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng
khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề
quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của
quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn
chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi
tự giác, thành hiện thực có tổ chức thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh
vì độc lập cho dân tộc tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các khái niệm dân, nhân dân có nội hàm rất
rộng người dùng các khái niệm này để chỉ “ Mọi con dân nước Việt” , “ Mỗi
một người con rồng cháu tiên” không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa
số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt “ Già , trẻ,
gái trai, giàu nghèo, quý tiên”. Như vậy dân, nhân dân vừa là một tập hợp đông
đảo quần chúng vừa được hiểu là mỗi con người Việt Nam cụ thể, và cả hai đều
là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc. Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa
là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung.
Người đã nhiều lần nêu rõ: “ Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập
của tổ quốc, ta cần phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức có
sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.
[6.438]
Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “ta” ở đây theo nghĩa rất rộng. Ta ở đây vừa là
đảng vừa là mọi người dân của tổ quốc Việt Nam. Với tinh thần đoàn kết rộng
rãi, Người đã dùng khái niệm “ Đại đoàn kết dân tộc” để định hướng cho việc
xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Muốn thực hiện được việc đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền
thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc phải có tấm lòng khoan dung
độ lượng với con người. Hồ Chí Minh cho rằng ngay với người lâm đường lạc
lối nhưng đã biết hối cải, chúng ta vẫn kéo họ về phía dân tộc, vẫn đoàn kết với
họ mà hoàn toàn không định kiến, khoét sâu cách biệt. Người đã lấy hình tượng
năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, nhưng cả năm ngón đều thuộc về cùng
một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại đoàn kết rộng rãi. Thậm
nông là nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất. Về sau người nêu thêm:Lấy
liên minh công-nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết dân
tộc. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đoàn kết dân tộc càng có
thể mở rộng không e ngai bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đaị đoàn
kết dân tộc”. [9.18]
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4. Mặt trận dân tộc thống nhất là biểu hiện cụ thể nhất của tư tưởng
đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, ở những lời
kêu gọi mà trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động
của toàn đảng, toàn dân ta. Nó phổ biến thành sức mạnh vật chất, thành lực
lượng vật chất có tổ chức. Tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc chính là
mặt trận thống nhất.
Cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn trở thanh sức mạnh vô
địch khi được giác ngộ về một mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức lại thành
một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn.Nếu
không thể, quần chúng nhân dân dù có hàng triệu, hàng triệu con người cũng chỉ
là một số đông không có sức mạnh. Thất bại của các cao trào yêu nước trước kia
đã chứng minh rất rõ vấn đề này.
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến
việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng
giai cấp, từng giới, tưng nghành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo, hơn nữa còn
phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Đó là các hội ái
hữu, tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay công hội, đội thiếu
niên nhi đồng, hay hội phụ lão, hội phật giáo cứu quốc, công giáo yêu nước hay
những nghiệp đoàn... và bao trùm nhất là mặt trận dân tộc thống nhất nơi quy tụ
mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi con dân nước Việt không chỉ ở
trong nước mà còn bao gồm cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù
ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về tổ
riêng.Mặt trận cần đặc biệt quan tâm xem xét và giai quyết thoả đáng vấn đề này
với các thành viên tham ra mặt trận bằng việc thực hiện nghiêm túc nguyên tắc
hiệp thương dân chủ, cùng nhau bàn bạc để đi đến nhất trí, loại trừ mọi áp đặt
hoặc dân chủ hình thức.