BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH, ĐỊNH LƯỢNG
ACID COROSOLIC TRONG LÁ MỘT SỐ
MẪU THUỘC CHI LAGERSTROEMIA
TẠI VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH, ĐỊNH LƯỢNG
ACID COROSOLIC TRONG LÁ MỘT SỐ
MẪU THUỘC CHI LAGERSTROEMIA
Cuối cùng là lòng biết ơn sâu sắc xin gửi tới gia đình, bạn bè và người thân đã
luôn ở bên cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong học tập và cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Hằng
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỌ LYTHRACEAE, CHI
LAGERSTROEMIA 3
VÀ MỘT SỐ LOÀI THUỘC CHI LAGERSTROEMIA. 3
1.1.1. Họ Lythraceae 3
1.1.2. Chi Lagerstroemia 3
1.1.3. Loài Lagerstroemia speciosa 3
1.1.4. Loài Lagerstroemia tomentosa 5
1.1.5. Loài Lagerstroemia calyculata 6
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ACID COROSOLIC. 8
1.2.1. Công thức cấu tạo 8
1.2.2. Nguồn gốc 9
1.2.3. Tác dụng dược lý 9
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG ACID COROSOLIC 10
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A.C
Acid corosolic
%A.C
Hàm lượng % acid corosolic
BLL
Bằng lăng lông
BLO
Bằng lăng ổi
BLN
Bằng lăng nước
DL
Dược liệu
ĐL
Đắk Lắk
ĐTĐ
Đái tháo đường
EtOH
Ethanol
HPLC
Sắc ký lỏng hiệu năng cao ( High performance liquid
chromatography)
L.
Lagerstroemia
M
28
6
Bảng 3.5. Kết quả định lượng acid corosolic trong các mẫu
thuộc loài L. speciosa được thu tại cùng một địa phương trong
nhiều thời điểm khác nhau.
29
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
STT Tên hình Trang
1 Hình 1.1. Cấu trúc hóa học của acid corosolic. 8
2 Hình 2.1. Mẫu L.speciosa thu tại Hà Nội – [Ảnh: Nguyễn Tập]. 13
3
Hình 2.2. Mẫu L.calyculata thu tại Đăk Lăk –[ Ảnh: Nguyễn
Tập].
13
4
Hình 2.3 Mẫu L. tomentosa thu tại Nghệ An – [Ảnh: Nguyễn
Tập].
14
5 Hình 3.1. Sắc ký đồ dịch chiết lá Bằng lăng. 2
trong thời gian dài các thuốc trị ĐTĐ tân dược với nhiều tác dụng phụ là mối lo
ngại của rất nhiều bệnh nhân và họ luôn kiếm tìm một sản phẩm nguồn gốc tự nhiên
có hiệu quả điều trị cao, an toàn, không có tác dụng phụ, yên tâm khi sử dụng lâu
dài. Do đó, việc đầu tư nghiên cứu để tạo ra một sản phẩm kết hợp các thành phần
có nguồn gốc tự nhiên, đã được chứng minh hiệu quả trị bệnh đái tháo đường bằng
các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng trên thế giới là vô cùng cấp thiết, đáp ứng
được nhu cầu của rất nhiều bệnh nhân đái tháo đường.
Tại một số nước châu Á như Ấn độ, Philippines, Nhật Bản, lá Bằng lăng nước là
loại dược liệu được dùng rất phổ biến trong phòng và điều trị bệnh ĐTĐ, nó được
coi là phương thuốc cổ truyền hiệu quả và an toàn. Ở Việt Nam, Bằng lăng nước
phân bố rộng khắp cả nước, miền Bắc nước ta cây phát triển rất tốt, nguồn dược liệu
rất dồi dào nhưng nhân dân ta chưa có kinh nghiệm trong khai thác dược liệu này
trong phòng và chữa ĐTĐ. Các nhà khoa học đã phát hiện ra hoạt chất có tác dụng
làm giảm đường huyết và giảm béo phì trong lá Bằng lằng nước là Acid Corosolic
[13],[15],[17],[18]. Tại Việt Nam, đã có nghiên cứu về tác dụng trên chuyển hóa
glucose huyết của dịch chiết lá BLN mọc tại Hà Nội ở quy mô phòng thí nghiệm
được công bố [7]. Đây là bước khởi đầu thuận lợi cho các nghiên cứu sử dụng lá
BLN trong điều trị ĐTĐ ở Việt Nam.
Tuy nhiên chi Lagerstroemia, ngoài loài Bằng lăng nước còn rất nhiều loài khác
chưa được nghiên cứu về hoạt chất acid corosolic cũng như tác dụng điều trị bệnh
2
ĐTĐ, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về định tính, định lượng acid corosolic trong
lá của các loài thuộc chi Lagerstroemia tại Việt Nam.
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu định tính, định lượng acid corosolic trong lá một
số mẫu thuộc chi Lagerstroemia tại Việt Nam” được thực hiện, với các mục tiêu
sau:
1. Định tính acid corosolic trong lá của một số loài thuộc chi Lagerstroemia:
L. speciosa, L. tomentosa, L. calyculata được thu hái tại một số vùng khác nhau.
2. Định lượng acid corosolic trong lá của một số mẫu thuộc chi
cầu, với phần lớn các loài ở vùng nhiệt đới nhưng chúng cũng sinh sống tốt trong
các khu vực có khí hậu ôn đới [1].
1.1.2. Chi Lagerstroemia
Chi Tử vi hay chi Bằng lăng (Lagerstroemia) là một chi có khoảng 50 loài cây
sớm rụng lá và cây thường xanh, thân gỗ hay cây bụi lớn có nguồn gốc ở vùng
Đông Á và Australia. Ở Việt Nam, chi này có khoảng 20 loài: L. speciosa, L.
tomentosa, L.indica, L.calyculata, L.floribunda, L.angustifolia phân bố ở vùng
núi, tập trung nhất từ Nghệ An trở vào [1].
Một số loài trong chi này đã được nghiên cứu thành phần hóa học và thử tác dụng
sinh học là: L. speciosa, L. indica, L. calyculata…Trong đó L. speciosa là loài được
quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là khả năng chống ĐTĐ của các thành phần có trong
lá [8], [13].
1.1.3. Loài Lagerstroemia speciosa
Tên thường gọi: Bằng lăng nước, Bằng lăng tím, Bằng lăng,
Đặc điểm chung
Đặc điểm thực vật
Cây gỗ, kích thước trung bình, chiều cao khoảng 5-20m. Vỏ cây màu nâu hoặc
màu đen, cành non cạnh vuông. Lá đơn, hình bầu dục, tròn ở gốc, nhọn ngắn ở
chóp, mép lá nguyên, chiều dài 10-20cm, chiều rộng 5-9cm. Lá BLN rất dai, bề mặt
nhẵn, cả hai mặt lá đều có màu xanh nhạt, có 12-14 gân bên, khi già ngả sang màu
vàng hoặc đỏ. Cây ra hoa vào khoảng tháng 4-5. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở ngọn,
4
chánh chùy có lông, nụ tròn màu đỏ. Hoa to, đường kính 3 cm hoặc hơn, 6 cánh,
cuống hoa dài. Nhị hoa nhiều. Quả nang hình tròn hoặc hình oval, kích thước
20
18mm, màu nâu, khi khô nở thành 6 mảnh. Hạt có dạng cánh mỏng, đường kính
12-15mm, màu nâu nhạt [3], [6].
Phân bố:
Ức chế enzyme:
Ức chế G-6-Pase, do đó ức chế tân tạo đường [5].
Ức chế Xanthine oxidase, do đó dịch chiết lá Bằng lăng được dùng trong
phòng và điều trị các trường hợp tăng acid uric máu [5].
Ức chế
- amylase, làm giảm sự thủy phân tinh bột thành glucose [5].
Phòng stress oxi hóa, chống viêm và hội chứng tăng huyết áp [5].
Chống béo phì trên chuột bị ĐTĐ di truyền [5].
Công dụng
BLN có rất nhiều công dụng:
Vỏ cây có tác dụng kích thích mạnh và giảm sốt. Nước sắc từ vỏ thường
được dùng để chữa đau bụng, tiêu chảy [3], [6].
Rễ có tác dụng săn se, kích thích và hạ nhiệt [6]
Hạt có chất gây ngủ [3], [6].
Quả dùng để đắp ngoài trị lở miệng [6].
Tất cả bộ phận của cây, nhất là lá già và quả chín đều có thể làm hạ glucose
huyết. Theo Võ Văn Chi, tác dụng này có hoạt tính tương đương 6-7,7 đơn vị
Insulin [3]. Tại Philippin, BLN còn được gọi là “Banaba”, sản phẩm trà uống từ lá
Bằng lăng được dùng để phòng và điều trị bệnh ĐTĐ và các bệnh thận, tiết niệu.
Tại Nhật Bản, sản phẩm trà này còn được dùng trong việc giúp giảm cân ở người
béo phì [5].
1.1.4. Loài Lagerstroemia tomentosa
Tên thường gọi: Bằng lăng lông, Săng lẻ.
Đặc điểm chung
Đặc điểm thực vật
Cây gỗ lớn, cao 20- 30m, vỏ cây màu xám. Cành có cành to, cành non gần như
vuông. Cuống lá dài 4-8mm, phiến lá thuôn hình mũi mác hay hình trứng, mặt trên
6
nhiều gần bằng nhau, nhị bầu xù xì có 5-6 ô, quả nang hình trứng dài 12mm, tụt vào
trong dài tới 1/3 [7].
Phân bố
Mọc hoang dại hầu như ở khắp nước ta nhưng nhiều nhất ở Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Gia Lai, KonTum, Đắc Lắc. Còn
thấy mọc ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ [7].
Bộ phận dùng:
Chủ yếu là lấy gỗ, loại gỗ hồng sắc. Dùng vỏ thân và lá [7].
Thành phần hóa học
Hoàng Như Mai (1983) đã phân tích thấy:
- Trong vỏ thân có alkaloid, flavonoid, acid hữu cơ, tannin, saponin, cumarin,
sterol. Trong đó tannin catechic và gallic chiếm 30,5% chủ yếu là tannin catechic
23% và tannin gallic 7%. Acid hữu cơ biểu thị bằng acid malic 4,22%, tổng số
đường 14,2%, trong đó đường khử 13,2%, saccaroza 0,95%, chất nhầy 2,76%, gôm
3%, pectin 2,81% [7].
- Trong lá và hoa cũng có những chất như trong vỏ thân nhưng với tỷ lệ thấp
hơn: tannin catechic và gallic chiếm 5,42% trong đó tannin catechic 76% và tannin
gallic 24%, acid hữu cơ 2,83% ( lá), đường 5,8%, trong đó đường khử 5,2%,
saccaroza 0,57%, chỉ số bọt dưới 100, nhưng gôm, chất nhầy trong lá cao hơn trong
vỏ thân: chất nhầy 3,25%, gôm 3,7%, pectin 6,51% [7].
Tác dụng dược lý
- Tác dụng kháng khuẩn ở mức độ khác nhau của nước sắc vỏ thân 3:1, lá và
hoa 2:1 in vitro đối với nhiều nòi vi khuẩn hay gặp trên vết thương và gây bệnh
đường ruột ( Staphylococcus aureus 209P, Proteus vulgaris, Proteus aeruginosa,
Shigella shigae, sonnei, flexneri, E. coli 086, Salmonella typhi, B. subtilis), tannin là
1 trong các thành phần có tác dụng kháng khuẩn của cây [7].
- Có tác dụng đối với một số nấm gây bệnh ngoài da hay gặp (Candida
albicans, Trichophyton rubrum, Trichophyton gypseum, Epidermophyton inguinale)
[7].
Dihydroxy- 1, 2, 6a, 6b, 9, 9, 12a- heptamethyl- 2, 3, 4, 5, 6, 6a, 7, 8, 8a, 10, 11, 12,
13, 14b- tetradecahydro- 1H- picene- 4a- carboxylic acid.
9
Tên khác: Glucosol, Colosic acid, 2 - Hydroxyursolic acid.
1.2.2. Nguồn gốc
Acid corosolic là một pentacyclic triterpene, được tìm thấy trong dịch chiết lá
Bằng lăng (Lagerstroemia) [8], [9].
1.2.3. Tác dụng dược lý
Tác dụng chống ung thư
Năm 2009, Xu Y. và các cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của acid corosolic trên tế
bào ung thư cổ tử cung Hela. Nhận thấy acid corosolic có thể làm giảm khả năng
sống của tế bào Hela, gây ra block chu trình tế bào (cell cycle block), acid corosolic
gây ra sự chết tế bào theo chương trình thông qua mitochondrial và hoạt hóa
caspase- một enzym thủy phân protein đóng vai trò trong làm chết tế bào theo
chương trình- trên Hela [17].
Tác dụng trên chuyển hóa glucose
Năm 1993, nhóm nghiên cứu từ trường đại học Hiroshima đã phân lập được
thành phần có tác dụng điều trị bệnh ĐTĐ là acid corosolic trong dịch chiết MeOH
của lá bằng HPLC [13].
Nghiên cứu của Shi L. và cộng sự (2008) cho thấy acid corosolic- một triterpen
trong lá BLN có tác dụng tăng cường sự phosphoryl hóa Tyr ở receptor của Insulin.
Với phát hiện này, các tác giả đã lý giải khả năng làm tăng vận chuyển glucose vào
tế bào mô cơ L6 khi có mặt insulin của acid corosolic là do sự tăng cường tác dụng
của insulin ở tế bào đích [16].
Cũng trong năm 2008, Yamada đã phát hiện ra acid corosolic trong lá BLN kích
thích sự biểu hiện của receptor PPAR
ở tế bào gan và PPAR
trị bằng acid corosolic giảm hơn so với nhóm chứng (nhóm chứng: 200
5 mmHg,
nhóm điều trị bằng acid corosolic: 180
2 mmHg), sau 12 tuần huyết áp nhóm
chứng và nhóm thử lần lượt là: 209
3 mmHg và 188
5 mmHg. Như vậy, acid
corosolic có thể làm giảm huyết áp trên đối tượng bị tăng huyết áp [20].
Tác dụng chống oxy hóa
Nồng độ TBARS (Thiobarbituric reactive substance) và 8- OhdG (một sản phẩm
của sự oxi hóa AND) trong huyết tương được sử dụng như chỉ số đánh giá sự oxi
hóa. Trên chuột SHR – cp điều trị với acid corosolic nồng độ TBARS và 8- OhdG
giảm lần lượt là 27% và 59% so với nhóm chứng. Như vậy, acid corosolic có tác
dụng chống oxi hóa [20].
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG ACID COROSOLIC
1.3.1. Theo Katta Vijaykuma và cộng sự đã sử dụng phương pháp HPLC và
HPTLC để định lượng acid corosolic trong lá L.speciosa [14].
- Phương pháp HPLC
+ Pha động: acetonitril : acid phosphoric 0,1% (75:25)
+ Thời gian: 9,4 ± 0,4 phút
11
Để xác định độ lặp lại, tiến hành thí nghiệm ở 3 nồng độ, mỗi nồng độ làm lặp lại
6 lần trong trong cùng một ngày và trong các ngày khác nhau. Kết quả thu được
RSD% = 0,02- 0,08 % (< 2%).
Để xác định khoảng tuyến tính, tiến hành thí nghiệm trên 6 nồng độ của dung dịch
pháp này tối ưu cho việc phân tích định lượng acid corosolic trong các mẫu nghiên
cứu.
Xác định độ lặp lại
Tiến hành thí nghiệm lặp lại 6 lần trên cùng 1 mẫu, tiến hành ở 3 nồng độ khác
nhau trong khoảng làm việc. Tính độ lệch chuẩn và độ lệch chuẩn tương đối. Thu
được RSD%= 0,49% (< 2%).
Kết luận phương pháp có độ chụm đạt yêu cầu.
Tính toán độ đúng
Xác định độ đúng qua việc tính toán độ thu hồi của phương pháp.
Thêm lượng chất chuẩn xác định 0,1; 0,2 và 0,5 mg vào 12,4mg mẫu thử, phân tích
các mẫu đó lặp lại 4 lần.
Kết quả:
+ Độ thu hồi của mẫu thử sau khi thêm 0,1mg acid corosolic:
100,33- 102,62%
+ Độ thu hồi của mẫu thử sau khi thêm 0,2 mg acid corosolic:
99,71- 100,30%
+ Độ thu hồi của mẫu thử sau khi thêm 0,5mg acid corosolic:
99,82- 99,89%
So sánh độ thu hồi vừa tính được với tài liệu [International Journal of Pharmacy
and Pharmaceutical Sciences, Vol 5, Suppl 4, 2013], độ thu hồi nằm trong khoảng
85- 115%. Như vậy độ đúng của phương pháp đạt yêu cầu.
Kết luận: Phương pháp hoàn toàn phù hợp cho việc định lượng acid corosolic.
13 CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ký hiệu mẫu
Tên loài Địa điểm lấy mẫu Thời gian lấy
mẫu
1 BLL- NA Bằng lăng lông Nghệ An T06/2014
2 BLO- ĐL Bằng lăng ổi Đắk Lắk T06/2014
3 BLN- ĐL Bằng lăng nước Đắk Lắk T06/2014
4 BLN- QN Bằng lăng nước Quảng Nam T06/2014
5 BLN- NĐ Bằng lăng nước Nam Định T06/2014
6 BLN- HN1 Bằng lăng nước Hà Nội T01/2014
7 BLN- HN2 Bằng lăng nước Hà Nội T05/2014
8 BLN- HN3 Bằng lăng nước Hà Nội T06/2014
9 BLN- HN4 Bằng lăng nước Hà Nội T06/2014
10 BLN- HN5 Bằng lăng nước Hà Nội T06/2014
11 BLN- HN6 Bằng lăng nước Hà Nội T07/2014
12 BLN- HN7 Bằng lăng nước Hà Nội T09/2014
13 BLN- HN8 Bằng lăng nước Hà Nội T11/2013
Sau khi thu hái, lá được phơi trong bóng râm và nghiền thành bột thô.
15
2.1.2. Hóa chất
- Các dung môi, hóa chất, thuốc thử đạt tiêu chuẩn thích hợp.
- Chất chuẩn:
+ Acid corosolic ( Isopharm – Viện Kiểm nghiệm), hàm lượng 98%.
2.1.3. Thiết bị phân tích
- Các dụng cụ cần thiết trong quá trình thực nghiệm: bình định mức, pipet các
loại, màng lọc …
-Máy xay.
liệu Bằng lăng nước :
- Thuốc thử:
Acetonitril
Dung dịch Acid formic 0,1% (1ml Acid formic đậm đặc cho vào 1000ml
nước cất, lắc siêu âm, đuối khí 15 phút).
MeOH
EtOH 70%
- Điều kiện sắc kí:
Cột: RP18 (250 4mm; 5 )_ cột số 2.
Nhiệt độ cột: 30
o
C
Detector UV: 205nm
Tốc độ dòng: 1,0ml/ phút.
Thể tích tiêm: 20
Pha động: Hỗn hợp Acetonitril : Acid formic 0,1% (80 : 20)
T = 38,5 phút. 17
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. ĐỊNH TÍNH ACID COROSOLIC
Tiến hành :
- Pha dung dịch chuẩn:
Cân chính xác khoảng 25mg Acid corosolic cho vào bình định mức 25,0ml. Tiêm
khoảng 10ml MeOH vào, lắc siêu âm trong 15 phút, thêm MeOH đến vạch (dung