Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
Vốn cố định và sự cần thiết phải nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn cố định của các doanh nghiệp
trong điều kiện kinh tế thị trờng.
I - Vốn cố định trong các doanh nghiệp
I.1/ Khái niệm, đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp
Những năm gần đây nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng. Trong điều kiện đó các mối quan hệ
hàng hoá, tiền tệ ngày càng đợc mở rộng và phát triển, xuất hiện các doanh
nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng song song tồn tại,
cạnh tranh lẫn nhau và bình đẳng trớc pháp luật. Trong nền kinh tế quốc dân
thì mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế. Doanh nghiệp là một tổ chức đợc
thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, lao vụ dịch vụ trên thị
trờng nhằm mục đích sinh lợi.
Để tiến hành sản xuất sản phẩm, mọi doanh nghiệp đều cần phải có hai
yếu tố cơ bản, đó là sức lao động và t liệu sản xuất. Căn cứ vào tính chất và
tác dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia ra làm
hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ. Căn cứ vào tính
chất và tác dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia
ra làm hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ yếu đợc tham gia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nh máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các công trình kiến
trúc... Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mà nó đợc chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm trong các
chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, những TSCĐ đó không chỉ đợc
biểu hiện dới hình thái vật chất mà còn dới hình thái giá trị. Để đầu t mua
sắm TSCĐ, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định. Vì vậy,
số vốn tiền tệ ứng trớc xây dựng, mua sắm TSCĐ đợc gọi là vốn cố định của
doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, TSCĐ có nhiều loại khác nhau, mỗi
loại lại có những đặc điểm về tính chất kỹ thuật công dụng khác nhau, đợc sử
dụng trong những lĩnh vực hoạt động khác nhau của quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy cần phân loại TSCĐ để có những biện pháp quản lý, sử dụng
có hiệu quả hơn.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh
nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp. Thông thờng có những cách phân loại TSCĐ chủ yếu
sau:
a. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo phơng pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai loại:
TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật
chất (TSCĐ vô hình)
* TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể nh nhà
xởng, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các vật kiến trúc... Những TSCĐ
này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm
nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức
năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua
bằng phát minh sáng chế hay nhãn hiệu thơng mại...
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh máy móc thiết bị động lực, máy
móc công tác, thiết bị chuyên dùng, những máy móc đơn lẻ.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phơng tiện vận tải
nh phơng tiện đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ, đờng không, đờng ống và các
thiết bị truyền dẫn nh hệ thống điện, hệ thống thông tin, đờng ống dẫn nớc...
* Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh máy vi tính,
thiết bị điện tử, dụng cụ đo lờng, máy hút bụi...
* Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các loại TSCĐ khác cha liệt kê vào 5
loại trên nh tác phẩm nghệ thuật tranh ảnh...
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ
trong doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ,
tính toán khấu hao TSCĐ chính xác.
d. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng.
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, ngời ta chia TSCĐ của doanh
nghiệp thành các loại:
* TSCĐ đang sử dụng: là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự
nghiệp, an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
* TSCĐ cha cần dùng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản
xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp sang hiện tại cha
cần dùng, đang đợc dự trữ để sử dụng sau này.
* TSCĐ không cần dùng cho thanh lý: là những TSCĐ không cần thiết
hoặc không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần
đợc thanh lý, nhợng bán để thu hồi vốn đầu t đã bỏ ra ban đầu.
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả của TSCĐ
của doanh nghiệp nh thế nào, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân tích,
kiểm tra, đánh giá tiềm lực sản xuất cần đợc khai thác, từ đó có biện pháp
sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình đợc gọi là vốn cố
định của doanh nghiệp. Số vốn này nếu đợc sử dụng có hiệu quả sẽ không
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại đợc sau khi tiêu thụ các sản phẩm hàng
hoá hay dịch vụ của mình.
Là số vốn đầu t ứng trớc để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô
của vốn cố định (VCĐ) nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh h-
ởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngợc lại những đặc điểm kinh tế của
TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hởng quyết định chi phối đặc điểm
tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Trên ý nghĩa của mối liên hệ đó, có thể
khái quát những nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình sản
xuất kinh doanh nh sau:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm có đặc điểm này
là do TSCĐ đợc sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì thế mà VCĐ
- hình thái biểu hiện bằng tiền của nó cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất
tơng ứng.
- VCĐ đợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ đợc luân
chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dới hình thức chi phí khấu
hao) tơng ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
- VCĐ sau nhiều chu kỳ sản xuất mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đợc luân chuyển vào giá trị sản
phẩm dần dần tăng lên. Song phần vốn đầu t ban đầu vào TSCĐ lại giảm dần
xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đợc chuyển
dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng
luân chuyển.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của VCĐ đòi hỏi việc quản lý
chất lợng, tính năng kỹ thuật ban đầu trong quá trình sử dụng và cuối cùng
không còn sử dụng đợc nữa. Muốn khôi phục lại giá trị sử dụng của nó phải
tiến hành sửa chữa, thay thế. Về mặt giá trị, đó là sự giảm dần giá trị của
TSCĐ cùng với quá trình chuyển dịch dần từng phần giá trị hao mòn vào giá
trị sản phẩm sản xuất.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguyên nhân và mức độ hao mòn hữu hình trớc hết phụ thuộc vào các
nhân tố trong quá trình sử dụng TSCĐ nh thời gian và cờng độ sử dụng, việc
chấp hành các quy phạm pháp luật trong sử dụng và bảo dỡng TSCĐ. Tiếp
đến là các nhân tố về tự nhiên và môi trờng sử dụng TSCĐ nh nhiệt độ, độ
ẩm, tác động của các hoá chất... Ngoài ra mức độ hao mòn hữu hình còn phụ
thuộc vào chất lợng chế tạo TSCĐ, ví dụ nh chất lợng nguyên vật liệu đợc sử
dụng, công nghệ chế tạo...
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hởng đến mức hao mòn hữu
hình TSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn
chế nó.
b. Hao mòn vô hình.
Hao mòn vô hình của TSCĐ là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài
sản do có những TSCĐ cùng loại nhng đợc sản xuất ra với giá rẻ hơn hoặc
hiện đại hơn.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hao mòn vô hình của TSCĐ, không
phải do chúng đợc sử dụng nhiều hay ít trong sản xuất mà là do tiến bộ khoa
học kỹ thuật. Trong điều kiện tăng trởng mạnh mẽ về khoa học công nghệ
hiện nay, ngời ta có thể sản xuất ra đợc những loại máy móc có tính năng tác
dụng nh máy cũ nhng với giá hạ hơn hoặc sản xuất ra những loại máy có
cùng giá trị nhng công suất lớn hơn chất lợng tốt hơn. Do vậy, những máy
móc đợc sản xuất ở thời gian trớc đây sẽ bị mất giá so với hiện tại, sự mất
giá đó chính là hao mòn vô hình. Hao mòn vô hình còn xuất hiện cả khi chu
kỳ sống của sản phẩm nào đó bị chấm dứt làm cho những máy móc để chế
kinh doanh của các doanh nghiệp.
b. Các phơng pháp tính khấu hao TSCĐ
Việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp có thể đợc thực hiện
theo nhiều phơng pháp khác nhau. Thông thờng có các phơng pháp cơ bản
sau:
* Phơng pháp khấu hao bình quân (hay còn gọi là phơng pháp tuyến
tính cố định).
Đây là phơng pháp khấu hao đơn giản nhất, đợc sử dụng khá phổ biến
để tính khấu hao các loại TSCĐ. Theo phơng pháp này tỷ lệ khấu hao và mức
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khấu hao hàng năm đợc xác định theo mức không đổi trong suốt thời gian sử
dụng TSCĐ. Mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm đợc xác định theo
công thức:
M
KH
=
T
KH
=
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao trung bình hàng năm.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm.
G
đ
: Nguyên giá TSCĐ.
: Giá trị còn lại của TSCĐ ở cuối năm tính toán
G
đ
: nguyên giá của TSCĐ
t: Thời điểm của năm cần tính khấu hao
- Ph ơng pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng.
Theo phơng pháp này, số tiền khấu hao hàng năm đợc tính bằng cách
nhân giá trị ban đầu của TSCĐ với tỷ lệ khấu hao giảm dần qua các năm. Tỷ
lệ khấu hao này đợc xác định bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại chia cho
tổng số thứ tự năm sử dụng. Công thức tính nh sau:
T
KH
=
Trong đó:
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao theo năm sử dụng
T: Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ
t: Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao.
Phơng pháp khấu hao giảm dần có u điểm là phản ánh chính xác hơn
mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, thu hồi vốn nhanh nên hạn chế đợc
ảnh hởng của hao mòn vô hình. Tuy nhiên nhợc điểm của phơng pháp này là
việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽ phức tạp, số tiền
trích khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng cũng cha đủ bù đắp toàn bộ giá trị
đầu t ban đầu vào TSCĐ.
Trên thực tế ngời ta có thể sử dụng kết hợp phơng pháp khấu hao bình
quân với phơng pháp khấu hao giảm dần bằng cách: trong những năm đầu sử
dụng TSCĐ thì áp dụng phơng pháp khấu hao giảm dần, còn những năm cuối
thì thực hiện phơng pháp khấu hao bình quân. Bằng cách này có thể hạn chế
đợc hao mòn vô hình và số khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng sẽ bù đắp đợc
quả trên.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phải bao gồm cả hai mặt: Hiệu quả kinh
tế và hiệu quả xã hội. Hai mặt này liên quan chặt chẽ với nhau và thể hiện nội
dung cơ bản của hiệu quả sản xuất. Trong đó hiệu quả kinh tế là cơ sở vật
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chất của hiệu quả xã hội, hiệu quả xã hội tạo điều kiện tốt hơn để thu đợc
hiệu quả kinh tế cao hơn.
Nh vậy, ta có thể thấy rằng: Hiệu quả sử dụng VCĐ là mối quan hệ giữa kết
quả đạt đợc trong quá trình khai thác sử dụng VCĐ vào sản xuất với số VCĐ
đã sử dụng để đạt đợc kết quả đó.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi
sử dụng vốn vào sản xuất nói chung và VCĐ nói riêng đều phải quan tâm đến
hiệu quả nó mang lại. Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ trong các doanh
nghiệp, ngời ta thờng dùng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu
tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích.
Các chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh về mặt chất của việc sử dụng
VCĐ doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu này, ngời quản lý có thể so sánh
kết quả quản lý giữa kỳ này với kỳ trớc, giữa doanh nghiệp mình với các
doanh nghiệp khác có quy mô tơng tự để rút ra những trọng điểm cần quản
lý. Thuộc loại này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố
định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
Số vốn cố định bình quân trong kỳ đợc tính theo phơng pháp bình quân
số học giữa số vốn cố định ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Trong đó:
Số vốn cố định đầu kỳ =
Số vốn cố định cuối kỳ =
- Hàm lợng vốn cố định: Chỉ tiêu này là đại lợng nghịch đảo của chỉ
tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Nó phản ánh để tạo ra một đồng doanh
loại chỉ tiêu trên để rút ra đợc những kết luận đúng đắn. Ngoài ra, vì TSCĐ
gồm nhiều loại nên phải kết hợp xem xét các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của
từng loại cụ thể về mặt hiện vật để đánh giá đợc toàn diện và chính xác hiệu
quả sử dụng VCĐ.
Qua phơng pháp xác định hiệu quả sử dụng VCĐ trên đây chúng ta
thấy rằng: Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ có nghĩa là khai thác một cách
triệt để khả năng hiện có của doanh nghiệp, phát huy hết công suất thiết kế
của máy móc, thiết bị, tận dụng một cách tối đa giờ máy... để từ đó tạo ra
nhiều sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp làm cho kết quả thu đợc
trên một đồng chi phí về TSCĐ (VCĐ) ngày một tăng. Điều đó có nghĩa là
khi hiệu quả sử dụng VCĐ đợc nâng lên thì với một đồng vốn bỏ ra sẽ cho
kết quả nhiều hơn, tốt hơn cho doanh nghiệp.
Nh vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ là một trong những phơng
pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp. Do đó
các doanh nghiệp phải thờng xuyên nắm vững tình hình sử dụng VCĐ để đề
ra những biện pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ trong
doanh nghiệp.
II.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp sản xuất là vấn đề cần thiết cấp bách, có ảnh h-
ởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, điều đó xuất phát từ
các lý do chủ yếu sau:
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp với bất kỳ một
doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hớng tới mục tiêu
lợi nhuận. Từ góc độ của doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của
doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để đạt đợc thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh mang
lại.
16
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nh vậy nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ là đảm bảo với số vốn hiện
có, bằng các biện pháp quản lý và sử dụng tổng hợp nhằm khai thác triệt để
mọi khả năng để có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ phải đợc biểu hiện trên hai khía cạnh:
Một là, với số vốn hiện có có thể sản xuất ra đợc một số lợng sản
phẩm lớn hơn trớc với chất lợng tốt hơn, giá thành hạ để tăng đợc lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Hai là, đầu t thêm VCĐ một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận
phải lớn hơn tốc độ tăng của vốn.
Trong điều kiện của cơ chế thị trờng, mục tiêu hàng đầu của các doanh
nghiệp là phải hớng tới lợi nhuận tối đa. Việc hoàn thành kế hoạch sản xuất
phải đợc đặt trên cơ sở hoàn thành kế hoạch lợi nhuận. Vì thế trong điều kiện
cơ chế thị trờng, chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lợng và hiệu quả
đầu t cũng nh chất lợng sử dụng VCĐ của doanh nghiệp là lợi nhuận.
Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ là một vấn đề cần thiết và là
điểm đầu tiên quyết định sự tồn tại, phát triển của một tổ chức kinh tế trong
điều kiện nền kinh tế mới.
Đối với nớc ta hiện nay, đang trong chặng đờng đầu của công cuộc
công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo con đờng chủ nghĩa xã hội, cơ sở vật
chất kỹ thuật đợc xây dựng và phát triển với tốc độ cao, TSCĐ đợc huy động
vào sản xuất ngày càng nhiều. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ
đợc coi là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý sản xuất
nói chung và kế hoạch sử dụng VCĐ nói riêng. Điều đó xuất phát từ ý nghĩa
của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, doanh nghiệp cần phải
khai thác triệt để khả năng tiềm tàng của TSCĐ, phát huy hết công suất của
nó, tận dụng tối đa giờ máy, tăng cờng độ làm việc, lựa chọn đầu t hợp lý...
quản lý hiện nay các doanh nghiệp thực sự là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ
chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự tìm hiểu thị trờng, tự chủ trong việc
tìm đầu vào và đầu ra của sản xuất, tự chịu trách nhiệm trong quá trình sản
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất kinh doanh của mình. Do vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói
chung và VCĐ nói riêng ngày càng trở nên thiết thực và cấp bách hơn.
* Thứ hai: Trong thời gian qua, tình trạng quản lý và sử dụng VCĐ
của các doanh nghiệp ở nớc ta còn rất thấp, gây ảnh hởng không nhỏ đến kết
quả sản xuất kinh doanh.
Nh chúng ta đã biết, để tiến hành sản xuất kinh doanh thì bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng cần phải có vốn. Trong các doanh nghiệp, vốn đợc
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với nguồn vốn dùng để đầu t mua
sắm TSCĐ bao gồm:
- Nguồn vốn pháp định: gồm VCĐ do ngân sách cấp, do cấp trên cấp
phát cho doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp Nhà nớc).
- Nguồn vốn tự bổ sung: đợc bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh theo quy định của cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở
hữu vốn ... dùng để mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị.
- Nguồn vốn liên doanh: gồm các khoản do các đơn vị tham gia liên
doanh góp vốn bằng TSCĐ và góp bằng vốn đầu t xây dựng cơ bản đã hoàn
thành.
- Nguồn vốn vay: gồm các khoản vay Ngân hàng, vay các tổ chức kinh
tế khác để đầu t vào TSCĐ, hoặc các khoản huy động đợc từ phát hành cổ
phiếu, trái phiếu...
Thực tế trong điều kiện sản xuất cha phát triển, hiệu quả kinh tế đạt đ-
ợc nhìn chung còn thấp, trình độ quản lý còn non kém, quá trình sản xuất
kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn thì việc bổ sung VCĐ bằng các quỹ của
doanh nghiệp còn rất hạn chế. Mặt khác, các doanh nghiệp làm ăn còn kém
hiệu quả nên việc liên doanh liên kết và huy động vốn liên doanh của các đơn
nhiên liệu nhiều, mức huy động vào sản xuất mới chỉ đạt 25 - 30% công suất
máy móc thiết bị. Trong công tác đầu t doanh nghiệp cha chú trọng quan tâm
đến yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy mà phần lớn máy móc thiết bị đ-
ợc trang bị cha đạt đợc trình độ công nghệ hiện đại, công suất thấp... nên việc
sử dụng TSCĐ còn kém hiệu quả.
+ Trong doanh nghiệp cha thực hiện tốt việc phân loại cũng nh phân
cấp quản lý TSCĐ. Việc giao TSCĐ cho từng bộ phận, từng cá nhân cha chặt
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chẽ rõ ràng, việc sử dụng TSCĐ cha đúng quy chế, chế độ bảo dỡng sửa
chữa, mua sắm không đúng chế độ làm cho TSCĐ bị h hỏng trớc thời hạn,
năng lực sản xuất bị giảm sút. Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác
tác động dẫn đến tình trạng máy móc thiết bị phải ngừng hoạt động làm gián
đoạn quá trình sản xuất, ảnh hởng đến nhịp điệu sản xuất chung gây lãng phí
vốn bỏ ra.
+ Việc lập kế hoạch trích khấu hao không phù hợp với sự biến động
của giá cả nên không tránh khỏi hao mòn hữu hình và vô hình. Vấn đề đặt ra
là làm thế nào để có thể tái sản xuất lại đợc các tài sản đó. Đặc biệt trong
điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, việc khấu hao TSCĐ phải
có một phơng thức thích hợp để tránh đợc hao mòn vô hình. Những năm qua
việc trích khấu hao thấp hơn hao mòn rất phổ biến, việc sử dụng quỹ khấu
hao trong các doanh nghiệp cha đúng mục đích. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn
tồn tại tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu sự quan tâm đúng mức trớc hiệu
quả đầu t và sử dụng máy móc thiết bị, làm hạn chế rất lớn đến việc bảo toàn
vốn trong các doanh nghiệp Nhà nớc.
+ ý thức lao động của con ngời còn ở mức độ thấp cha có tính tự giác.
Bên cạnh đó việc quản lý lại còn nhiều thiếu sót cha có chế độ thởng phạt
nghiêm minh trong trách nhiệm bảo quản TSCĐ của cán bộ công nhân viên.
Các cơ quản chủ quản cấp trên còn chậm trễ trong việc xây dựng, đổi mới cơ
chế tài chính về quản lý vốn đầu t vào TSCĐ, thiếu các chế độ quy định về
máy móc thiết bị phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lợng sản phẩm tiêu
thụ của doanh nghiệp. Sản phẩm có chất lợng cao với số lợng hợp lý để đáp
ứng nhu cầu thị trờng sẽ làm tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời
doanh nghiệp có khả năng để tận dụng thời gian và công suất máy móc thiết
bị. Nh vậy hiệu quả sử dụng VCĐ sẽ đợc nâng cao.
Công tác đầu t, mua sắm TSCĐ đợc tổ chức tốt, còn đợc thể hiện ở
việc nghiên cứu, lựa chọn ngời bán, phơng thức thanh toán và nguồn vốn đầu
t phù hợp để mua sắm những TSCĐ hiện đại, đáp ứng đợc yêu cầu của doanh
nghiệp với chi phí đầu t hợp lý.
Ngợc lại, nếu việc đầu t, mua sắm TSCĐ không tốt các máy móc thiết
bị, dây chuyền công nghệ mua về không phù hợp với đặc điểm sản xuất của
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp, không sử dụng hoặc sử dụng không đủ đáp ứng yêu cầu về số
lợng sản phẩm sẽ làm giảm doanh thu tiêu thụ. Hoặc việc mua thêm những
máy móc mới có giá trị lớn nhng doanh nghiệp lại không tận dụng hết thời
gian làm việc và công suất của máy sẽ gây lãng phí hoặc làm tăng chi phí sử
dụng TSCĐ. Nh vậy, hiệu quả sử dụng VCĐ sẽ thấp.
* Công tác tổ chức sản xuất cũng là nhân tố ảnh hởng lớn tới hiệu quả
sử dụng VCĐ của doanh nghiệp.
Nếu công tác tổ chức sản xuất hợp lý, máy móc thiết bị đợc huy động vào
sản xuất cao, đẩy vòng luân chuyển của VCĐ tăng nhanh, giảm ứ đọng về vốn
sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian hao mòn vô hình và hữu hình.
Ngợc lại, tổ chức sản xuất không hợp lý, máy móc thiết bị huy động và
sản xuất thấp, máy móc thiết bị cha cần dùng hoặc không cần dùng nhiều sẽ
gây ứ đọng về vốn, đồng thời hao mòn vô hình và hữu hình tăng (do nhiều
nguyên nhân khác nhau) trong khi không có doanh thu tiêu thụ những sản
phẩm do những TSCĐ này tạo ra. Vì vậy, hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh
nghiệp sẽ thấp.
* Việc tổ chức lao động một cách khoa học, bố trí sắp xếp công nhân
nhỏ tới hiệu quả sử dụng VCĐ. Nếu trích khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao
hợp lý, theo đúng chế độ và phù hợp với đặc điểm riêng của từng TSCĐ hoặc
từng nhóm TSCĐ sẽ đảm bảo thu hồi đủ vốn để tái sản xuất giản đơn TSCĐ.
Bên cạnh đó, nếu quỹ khấu hao đợc sử dụng linh hoạt sẽ có khả năng tái sản
xuất mở rộng TSCĐ. Doanh nghiệp có thể dùng quỹ khấu hao để đầu t vào
các hoạt động kinh doanh khác mà đợc xác định là có hiệu quả sẽ làm tăng
thêm thu nhập cho doanh nghiệp. Tất nhiên là việc sử dụng quỹ khấu hao đó
phải hợp lý và phải đảm bảo hoàn nhập quỹ để tái sản xuất TSCĐ khi đến
thời hạn sử dụng quỹ khấu hao.
* Môi trờng sử dụng TSCĐ cũng ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng TSCĐ.
Trong điều kiện môi trờng không phù hợp về nhiệt độ, độ ẩm, không khí... sẽ là
các yếu tố tự nhiên gây nên hao mòn hữu hình của TSCĐ, làm chúng bị h hỏng,
làm tăng chi phí sử dụng TSCĐ do phải sửa chữa hoặc thanh lý trớc thời hạn. Từ
đó sẽ làm cho hiệu quả sử dụng VCĐ giảm đi.
25