BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
DƯƠNG THỊ THANH MAI
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN
HÓA HỌC CỦA DƯỢC LIỆU
“NẾN ĐẤT”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
DƯƠNG THỊ THANH MAI NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN
HÓA HỌC CỦA DƯỢC LIỆU
“NẾN ĐẤT”
nghiệm .
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến
gia đình và những người bạn luôn bên tôi, giúp tôi có thêm nhiều quyết tâm và động
lực để phấn đấu, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Dương Thị Thanh Mai MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………………….
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN……………………………………………
2
1.1. Tổng quan về dược liệu “Nến đất” ………………………………
2
1.3.1. Tên gọi khác…………………………………………………
2
1.3.2. Sử dụng “Nến đất” ở Việt Nam…… ……………………….
2
1.2. Tổng quan về nhựa dầu ………………………………
17
2.2.1. Nghiên cứu thành phần tinh dầu trong các mẫu “Nến đất”…
17
2.2.2. Nghiên cứu thành phần hóa học của “Nến đất” sau khi cất
tinh dầu …………………………………………………………….
17
2.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………
17
2.3.1. Nghiên cứu thành phần tinh dầu trong các mẫu “Nến đất” …
17
2.3.1.1. Xác định hàm lượng tinh dầu trong các mẫu “Nến đất”.
17
2.3.1.2. Phân tích thành phần tinh dầu thu được ………………
18
2.3.2. Nghiên cứu thành phần hóa học của “Nến đất” sau khi cất
tinh dầu …………………………………………………………….
19
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN…………
21
3.1. Nghiên cứu thành phần tinh dầu trong các mẫu “Nến đất” ….…
21
3.1.1. Xác định hàm lượng tinh dầu trong các mẫu “Nến đất”.……
21
3.1.2. Phân tích thành phần tinh dầu thu được …………………….
22
3.1.2.1. Phương pháp sắc ký lớp mỏng ………………………
22
3.1.2.2. Phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ ……………
39
3.3.1. Nghiên cứu thành phần tinh dầu trong các mẫu “Nến đất”
39
3.3.2. Nghiên cứu thành phần các mẫu “Nến đất” sau khi cất tinh
41
dầu …………………………………………………………………
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………………
43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DCM
Phân đoạn dicloromethan
GC-MS
Sắc ký khí kết hợp khối phổ
H
Mẫu “Nến đất” thu tại Huế
HT1
Mẫu “Nến đất” loại 1 thu tại Hà Tĩnh
HT2
Mẫu “Nến đất” loại 2 thu tại Hà Tĩnh
HT3
Mẫu “Nến đất” loại 3 thu tại Hà Tĩnh
nH
5
Bảng 3.5. Công thức hóa học các hợp chất triterpenoid trong
phân đoạn nH-DCM
38
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1
Hình 1.1. Sinh tổng hợp thành phần terpenoid và phenolic trong
nhựa cây
5
2
Hình 1.2. Sinh tổng hợp các hợp chất terpenoid trong nhựa cây
6
3
Hình 1.3. Một số khung triterpenoid phổ biến trong nhựa các cây
họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Trám (Burseraceae) và họ Đào lộn
hột (Anacardiaceae)
9
4
Hình 1.4. Phân nhóm các họ theo thành phần hóa học của nhựa
cây
10
5
Hình 2.1. Mẫu “Nến đất” tại các địa phương
16
triển chúng theo hướng hiện đại.
“Nến đất” từ lâu đã được biết đến rộng rãi với vai trò đặc biệt quan trọng
trong các ngành nghề thủ công và công nghiệp. Tuy nhiên, ít ai biết rằng từ bao đời
nay, “Nến đất” đã được người dân các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà
Tĩnh) sử dụng như một bài thuốc xông hơ, sát trùng âm đạo cho phụ nữ sau khi sinh;
dân gian cũng sử dụng “Nến đất” để xông phòng trong các trường hợp trẻ sơ sinh có
biểu hiện đầy hơi, chướng bụng, quấy khóc, hoặc dùng xông hơ tránh gió cho mẹ và
bé những khi thời tiết thay đổi. Kinh nghiệm này đã được minh chứng là hoàn toàn
có hiệu quả trong nhiều trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về thành phần hóa
học, nguồn gốc và tác dụng của “Nến đất” để làm minh chứng cho việc sử dụng
chúng trong dân gian. Do đó, đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học của dược liệu
“Nến đất”” được thực hiện với hai mục tiêu sau:
1. Xác định hàm lượng và thành phần tinh dầu trong “Nến đất”.
2. Xác định thành phần hóa học của dược liệu “Nến đất” sau khi cất tinh dầu. 2
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về dược liệu “Nến đất”:
1.1.1 Tên gọi khác:
Theo thông tin do người cung cấp mẫu đưa ra thì “Nến đất” được lưu hành
trên thị trường với tên thương mại là Damar batu.
Damar batu là một cụm từ có nguồn gốc từ Philipin, có nghĩa là một loại
nhựa giống như đá (damar = nhựa, batu = đá). Damar batu còn đươc định nghĩa là
một cụm từ địa phương dùng mô tả những khối nhựa mờ đục trông giống như đá có
ở Philipin, còn có tên gọi khác là stone dammar [10].
Ở Lào, “Nến đất” được gọi là Khỉ-xì, có nghĩa là phân của cây “xì” (trong
tiếng Lào, “xì” có nghĩa là cây Chò, thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae)).
Trên thị trường Việt Nam, “Nến đất” còn có nhiều tên gọi khác tùy theo vùng
lỏng “Nến đất” trong xăng hoặc dầu hỏa để hoàn thiện sản phẩm.
Mặc dù được sử dụng tương đối phổ biến nhưng về mặt nguồn gốc cũng như
thành phần hóa học, “Nến đất” hiện chưa được nghiên cứu một cách cụ thể.
1.2. Tổng quan về nhựa dầu
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
- Nhựa thực vật là hỗn hợp tan trong dầu của terpenic và/hoặc các thành phần
phenolic thứ cấp có thể bay hơi được hoặc không, thường được tiết ra từ các cấu trúc
đặc biệt bên trong hay trên bề mặt cây [8]. Hầu hết các nhựa thực vật là nhựa
terpenic [8].
- Nhựa dầu (thuật ngữ oleoresin hay oily resin (khi ở trạng thái lỏng)) thường
dùng để mô tả các nhựa terpenoid. Chúng thường chứa một tỷ lệ cao các hợp chất
terpenoid bay hơi được so với các loại nhựa khác như bôm. Thành phần bay hơi 4
được là các hợp chất monoterpenoid và/hoặc hợp chất sesquiterpenoid thường được
gọi là tinh dầu [8]. Thành phần không bay hơi là các hợp chất diterpenoid và
triterpenoid. Hợp chất diterpenoid là thành phần chính trong nhựa cây lá kim và
phần lớn các cây hạt kín, nhưng triterpenoid lại là thành phần chính trong nhựa các
cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) [8].
Trong số các chi thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), chi Dipterocarpus là
nguồn chính để thu nhựa. Nhựa được tiết ra từ các lỗ hổng trên cây và thường rỉ ra
từ vỏ cây. Người ta thường thu nhựa bằng phương pháp cạo vỏ cây, tạo lỗ hổng hình
tam giác trong thân cây, hay đôi khi thu thập nhựa đã hóa thạch ở dưới đất [2], [3],
[8]. Nhựa thu được được chia thành hai loại. Loại thứ nhất ở thể lỏng, thành phần
gồm có nhựa và tinh dầu (nhựa dầu – oleoresin), ổn định ở thể lỏng và có mùi thơm
đặc trưng, các sản phẩm trên thị trường được tạo ra bằng cách gây những vết thương
nhân tạo trên vỏ cây và thu lấy dịch rỉ [2], [3], [8]. Loại thứ hai là dạng nhựa cứng
có tên gọi là dammar (hoặc damar) khi được lấy từ các cây họ Dầu. Đây là loại
nhựa cứng, giòn, là kết quả của quá trình chai hóa do bay hơi một phần nhỏ các chất
10
) và
sesquiterpen (C
15
); diterpen (C
20
) và triterpen (C
30
) là các thành phần không bay hơi
được [8].
Hình 1.2: Sinh tổng hợp các hợp chất terpenoid trong nhựa cây [8]
DMAPP: dimethylallyl diphosphate;
FPP: farnesyl diphosphate; GGPP: geranylgeranyl
diphosphate; GPP: geranyl diphosphate; IPP: isopentenyl diphosphate
Các enzym tham gia quá trình sinh tổng hợp hợp chất terpenoid: 7
Có hơn 30 gen mã hóa cho chức năng tổng hợp terpen (thường được gọi là
enzym cyclase vì chúng xúc tác cho các phản ứng trong chu trình). Các enzym này
xúc tác cho phản ứng hình thành khung terpenoid cơ bản [8].
Các sesquiterpenoid được sinh tổng hợp nhờ nhiều loại enzym đặc hiệu. δ-
selinen synthase và γ-humulen synthase xúc tác cho quá trình tổng hợp 34 và 52 hợp
chất sesquiterpenoid từ các phosphat tự do. Hai enzym này đóng vai trò cơ bản nhất
trong một hệ thống rất phức tạp bao gồm các enzym terpenoid synthase. Ngược lại
với các sesquiterpen đã được tổng hợp từ trước, các sesquiterpen hình thành sau khi
gây tổn thương cây như α-bisabolen, δ-cadinen, được tổng hợp nhờ sự xúc tác của
các enzym đặc hiệu chỉ xúc tác cho một phản ứng [8].
Khung Lupan
Khung Ursan
9
Khung Olean
Khung Dammaran
Hình 1.3: Một số khung triterpenoid phổ biến trong nhựa các cây họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Trám (Burseraceae) và họ Đào lộn hột (Anacardiaceae)
[16]
Tùy theo loài, thành phần hóa học của nhựa ngoài phụ thuộc vào nguồn gốc
thực vật còn thay đổi theo vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, môi trường [1].
Pauline Burger đã phân nhóm các họ theo thành phần hóa học chính của nhựa
cây như Hình 1.4. [1] 10
Hình 1.4: Phân nhóm các họ theo thành phần hóa học của nhựa cây [1]
1.3. Tổng quan về các loại dammar
1.3.1. Định nghĩa
Dammar (hay damar) là các loại nhựa cứng và giòn, chứa chủ yếu là hợp
chất triperpenoid, chúng là các loại nhựa dầu trở nên cứng do bị chai hóa sau khi
thành phần “tinh dầu” bay hơi bớt đi [2]. Đây là các loại nhựa cứng và chắc hơn cả
copal, có màu từ trắng đến vàng, chúng được phân biệt với copal nhờ khả năng hòa
on; olean-13(18)-en-3-on; oleanoic aldehyd), các dẫn chất ursan (28-nor-α-amyren-
3-on; α-amyren-3-on; ursonic aldehyd). Ngoài ra còn thấy có các hợp chất 12
triterpenoid không đặc hiệu (không phải là biomarker) cho dammar: lup-20(29)-en-
3-on; stigmastadienon; friedour-7-en-3-on. Các mẫu đối chiếu cũng đã được P.
Burger phân nhóm dựa vào tỷ lệ các sesquiterpen trong phần bay hơi được, gồm có:
α-gurjunen, β-gurjunen, allomadendren, cyperen (các sesquiterpen A); caryophyllen,
humulen, copaen, farnesan (các sesquiterpen B).
Noryawati Mulyono [13] đã nghiên cứu thành phần hóa học của stone
dammar – một nhựa cứng có nguồn gốc từ loài Shorea eximia Scheff ở Indonesia
[13]. Tiến hành chiết mẫu với dung môi ethyl acetat, sau đó đem phân tích sắc ký
khí kết hợp khối phổ. Kết quả thành phần chính là các hợp chất sesquiterpen như α-
copaen, valencen, β-elemen, alloaromadendren, spathulenol, (-)caryophyllen, α-
cadinol, δ-cadinen và nhiều hợp chất sesquiterpenoid khác như α-amorphen, α-
calacoren [13].
Monalisa Mallick và cộng sự [9] đã tiến hành so sánh thành phần trong nhựa
hóa thạch và nhựa cứng hiện tại của các loài thuộc chi Shorea, họ Dầu
(Dipterocarpaceae) ở Ấn Độ. Kết quả gồm hai phần: các hợp chất sesquiterpen và
triterpenoid. Trong khi các mẫu nhựa hiện tại cho kết quả các hợp chất sesquiterpen
bao gồm các thành phần: α-copaen, β-bourbonen, β-caryophyllen, germacren-D,
germacren-B và spathulenol; các mẫu hóa thạch lại có phần sesquiterpen là các hợp
chất khung C
15
-cadalen như δ-selinen, α-muurolen, calamenen, 5,6,7,8-tetrahydro
cadalen và cadalen. Phần triterpenoid của tất cả các mẫu đều chứa α- và β-amyrin.
Người ta có thể dùng các loại dammar này đơn độc hoặc phối hợp thành hỗn hợp
dùng ngoài da cũng như các đường dùng khác. Chúng có tác dụng lợi tiểu, gây trung
tiện, long đờm, ra mồ hôi, kháng khuẩn và kháng sinh [8].
Ở Ấn Độ, damar batu đã được nghiên cứu trong chế tạo màng phim mỏng
bằng phương pháp chất nền thủy ngân sử dụng làm hệ điều trị qua da [14], [15].
- Các tác dụng khác:
Nhựa các loại cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) có rất nhiều công dụng khác
nhau. Khả năng không thấm nước của chúng được sử dụng bằng cách phối hợp với
cao su tự nhiên để tạo thành hỗn hợp chống thấm nước cho quần áo và các loại phụ
kiện khác, hoặc chúng cũng có thể được dùng để ngăn côn trùng [2].
Các loại nhựa này cũng có trong các hỗn hợp vữa và chất kết dính xây dựng:
người ta tìm thấy dấu vết của chúng trong “xi măng” xây dựng các khu đền Chăm cổ
ở Việt Nam [6]. Các loại nhựa này còn được sử dụng với mục đích bảo quản gỗ
tránh sự tác động của thời tiết [2].
Thành phần bay hơi được trong damar batu được sử dụng trong công nghệ
sản xuất nước hoa ở Singapo vì chúng có mùi tương tự như tinh dầu hoắc hương mà
giá thành lại rẻ hơn nhiều lần [8].
Một vài loài cho nhựa có mùi hương được sử dụng trong sản xuất thuốc lá
hoặc kẹo cao su [2].
Vì chứa các thành phần có khả năng chống oxy hóa, chúng cũng được thêm
vào các loại rượu vang nhằm mục đích bảo quản rượu [12].
Trong lĩnh vực công nghiệp, damar batu cũng có mặt trong nhiều sản phẩm
khác nhau: véc-ni, keo, mực in, dải băng trong máy in, xì gà, giấy carbon, xà phòng,
bột giặt [1].
15
Chương 2: NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG TIỆN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
QP
V
Hình 2.1. Mẫu “Nến đất” thu tại các địa phương
Dược liệu sau khi thu về được nghiền nhỏ kích thước khoảng 1mm-5mm.
Mẫu nghiên cứu được bảo quản riêng biệt trong các túi nilon kín, để ở nơi khô ráo
thoáng mát.
2.1.2. Phương tiện nghiên cứu
2.1.2.1. Máy móc và thiết bị nghiên cứu
Cân kỹ thuật Sartorius.
Cân phân tích Precica (Switzerland).
Máy đo độ ẩm Ohaus MB25.
Tủ sấy BINDER ở nhiệt độ 105-110
o
C.