BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Bua La Phan THẾP SÔP PHU
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ
CHUYÊN VIÊN HỢP TÁC QUỐC TẾ THUỘC BỘ GIÁO
DỤC NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên nghành: Quản lý giáo duc.
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn
TS. HOÀNG MINH THAO
Hà Nội, 2011
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơm hội đồng khoa học, Học viên quản lý giáo
dục, các thầy, cố giáo đã trực tiếp giảng dạy, đã cung cấp cho tác giả những kiến
thức văn hóa, khoa học, sâu sắc và bổ ích. Từ đó tác giả đã có một tầm nhìn mới
đối với công tác quản lý hợp tác quốc tế, một phương pháp và thái độ làm việc
khoa học hiệu quả, giúp cho tác giả hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Hoàng Minh
Thao đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình hình thành và hoàn
thiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Bộ giáo dục Lào, các sở giáo dục,
học viện, các đồng nghiệp, bạn bè gần xa đã hết sức tạo điều kiện, động viên về
vật chất và tinh thần cho tác giả.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng do điều
kiện không thuận lợi và trình độ bản thân có hạn, luận văn chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được ý kiến phế
bình và đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
1.1.1 Trên thế giới.
1.1.2 Ở nước CHDCND Lào.
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.2.1 khái niệm phát triển.
1.2.2 khái niệm năng lực quản lý .
1.2.3 Khái niệm đội ngũ:
1.2.4 Khái niệm Chuyên viên:
1.3 Phát triển năng lực quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp tác quốc tế
theo cách tiếp cận phát triển nguồn nhân lực:
1.3.1. Vị trí, vai trò của chuyên viên.
1.3.2 Tiếp cận lí luận phát triển nguồn nhân lực trong phát triển đội ngũ
chuyên viên.
1.4 Nội dung phát triển năng lực quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp tác
quốc tế.
1.4.1 Đáp ứng yêu cầu về số lượng.
1.4.2 Đồng bộ về cơ cấu (độ tuổi, giới tính, chuyên môn, trình độ đào tạo…)
1.4.3 Nâng cao về chất lượng.
1.5 Kinh nghiệm phát triển năng lực quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp
tác quốc tế tại vụ kế hoạch hợp tác quốc tế-Bộ giáo dục, sở giáo dục của
các tỉnh trên cả nước, các trường có sự hợp tác với nước ngoài.
Tiểu kết chương 1.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ
CHUYÊN VIÊN HỢP TÁC QUÔC TẾ THUỘC BỘ GIÁO
DỤC NƯỚC CHDCND Lào.
2.1 Khái quát về giáo dục và công tác hợp tác quốc tế về giáo dục tại nước
CHDCND Lào.
2.1.1 Khái quát về giáo dục của nước CHDCND Lào.
2.1.2 Thực trạng công tác hợp tác quốc tê về giáo dục tại nước CHDCND
Lào.
tác quốc tế của Bộ giáo dục Lào.
3.2.1. Nhóm giải pháp chung.
Giải pháp 1: công tác quy hoạch, sử dụng và luân chuyển chuyên viên
hợp tác quốc tế.
Giải pháp 2: Tổ chức đào tạo ban đầu kết hợp với bồi dưỡng hàng năm.
Giải pháp 3: Xây dựng kế hoạch, nội dung và hình thức bồi dưỡng
chuyên viên hợp tác quốc tế thuộc Bộ giáo dục Lào.
3.2.2.Nhóm giải pháp riêng nhằm phát triển năng lực thực hiện các chức
nằng quản lý.
Giải pháp 4: Giải pháp phát triển năng lực thực hiện chức năng kế
hoạch hóa.
Giải pháp 5: giải pháp phát triển năng lực thực hiện chức năng tổ chức.
Giải pháp 6: giải pháp phát triển năng lực thực hiện chức năng chỉ đạo.
Giải pháp 7: giải pháp phát triển năng lực thực hiện chức năng kiểmtra.
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất.
3.3.1 Quy trình khảo nghiệm
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi.
Tiểu kết chương 3
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phu lục
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Hiện nay tất cả các nước trên thế giới đang trong xu thế hội nhập toàn cầu
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Giáo dục là một trong những lĩnh vực
được các nước quan tâm nhiều nhất, vì giáo dục là nền tảng của sự phát triển
khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của xã hội
hiện đại. Một đất nước muốn nền giáo dục của nước mình phát triển thì việc mở
luyện vươn lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “đã lựa chọn cán bộ cần phải
dạy bảo lý luận cho cán bộ. chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như một
mắt sáng, một mắt mù”. Và theo C. Mác “người đi giáo dục cũng phải được giáo
dục”. Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thì điều tất yếu trước hết phải
tìm cách nâng cao chất lượng đội ngũ chuyên viên. Vì thế trước yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, việc tạo ra
những thay đổi căn bản về chất cho đội ngũ cán bộ không chỉ còn là một nhu
cầu mà còn đang trở thành một vấn đề mang tính cấp bách quyết định sự thành
bại của công cuộc đổi mới.
Vụ kế hoạch và hợp tác quốc tế là một trong những vụ nằm trong bộ máy
hành chính và quản lý giáo dục của Bộ giáo dục, đồng thời là tham mưu cho bộ
trưởng trong việc nghiên cứu tổng hợp và lập kế hoạch phát triển nguồn nhân
lực, kế hoạch phát triển giáo dục trong từng giai đoạn, hợp tác song phương và
đa phương với các nước, các tổ chức nước ngoài, các tổ chức phi chình phủ để
huy động sự giúp đỡ và vốn tài trợ để phát triển nền giáo dục Lào phù hợp với
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Xuất phát
từ lí do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển năng lực
quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp tác quốc tế thuộc Bộ giáo dục nước
CHDCND Lào”.
2
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở hệ thống hóa những cơ sở lí luận có liên quan và khảo sát thực
tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực quản lý của đội ngũ
chuyên viên, góp phần nâng cao chất lượng công tác đối ngoại của Bộ giáo dục
Lào trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp tác quốc tế.
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp phát triển năng lực quản lý cho đội ngũ chuyên viên hợp tác
các chủ trường, chính sách của Nhà nước, của ngành , các tài liệu khoa học về
phát triển nhân sự,… Các phương pháp này được sử dụng với mục đích xác định
cơ sở lí luận về giải pháp phát triển năng lực quản lý cho đội ngũ chuyên viên
hợp tác quốc tế.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Bằng phương pháp tìm hiểu, khảo sát, thu thập dữ liệu có liên quan đến
các đối tượng bằng phiếu điều tra, từ đó phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng
vấn đề nghiên cứu.
Phỏng vấn bằng cách tiếp xúc trực tiếp với đội ngũ chuyên viên có liên
quan, thông qua một số câu hỏi để lấy ý kiến về mức độ cần thiết, khả thi của
các giải pháp.
7.3 Nhóm phương pháp khác.
4
Dùng phương pháp toán học xử lí các số liệu điều tra bằng một số tham số
thống kê (tính giá trị trung bình, tính tỷ lệ %).
Các nhóm phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu thực
trạng đội ngũ chuyên viên hợp tác quốc tế đồng thời đề ra các giải pháp phát
triển năng lực quản lý cho đội ngũ chuyên viên hợp tác quốc tế của Bộ giáo dục
nước CHDCND Lào ; đưa ra được các số liệu chứng minh cho tính hợp lí, tính
khả thi của các giải pháp phát triển năng lực quản lý mà chúng tôi đề ra trong
luận văn này.
8. Cấu trúc luận văn.
Mở đầu
Gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển năng lực quản lý của đội ngũ
chuyên viên hợp tác quốc tế.
Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực quản lý của đội ngũ chuyên viên hợp
tác quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp phát triển năng lực quản lý của đội ngũ chuyên viên
hợp tác quốc tế của Bộ giáo dục nước CHDCND Lào.
Đề cập điều này để thấy được hết những vấn đề đặt ra tương tác nhau một cách
6
khách quan trong quá trình hội nhập do xuất phát điểm của nó là một ý muốn
chủ quan” [7,30]
1.1.2 Ở nước CHDCND Lào.
Từ đại hội IV năm 1986 đảng nhân dân cách mạng Lào khởi xướng và lãnh
đạo công cuộc đổi mới đất nước. Hai mươi năm qua, sự nghiệp đổi mới của
cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
quan trọng. Đường lối, chính sách đối ngoại là một bộ phận trong toàn bộ đường
lối, chính sách nói chung của một chủ thể quyền lực chính trị. Là sự tiếp tục của
chính trị đối nội, chính sách đối ngoại có mục tiêu góp phần bảo vệ và nâng cao
vị trí của quốc gia trên trường quốc tế. Việc đề ra và thực thi chính sách đối
ngoại như thế nào đều có ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi
quốc gia, cung như sự hưng vong của mỗi dân tộc. Vì vậy, cung giống như các
chủ thể nắm quyền lực chính trị ở các nước khác, trong tổng thể đường lối và
chính sách của mình, đảng và nhà nước Lào luôn rất quan tâm tới chính sách đối
ngoại.
Trong sự cạnh tranh này càng gay gắt về mặt kinh tế và khoa hoc-công nghệ
trên thế giới, mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tê, xã hội của mỗi quốc gia
đang diễn ra những chuyển biến quan trọng. Đây là một nhân tố mà nhất thiết
các nước phải tính đến trong việc hoạch định dường lối, chính sách phát triển
của mình.
Dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, lực lượng sản xuất thế
giới đã có bước phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch sử, nó không giới
hạn trọng pham vi của mỗi nước, mà trở thành xu hướng có tính chất quốc tế
mạnh mẽ. trong bối cảnh đó, xu hướng tăng cường quan hệ hợp tác về mặt kinh
tế của mỗi nước ngày càng phát triển, trở thành yếu tố quan trọng góp phần củng
cố tăng cường xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các nước có chế độ xã
hội khác nhau trên thế giới hiện nay. Do tác động của cách mạng khoa học-công
nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hóa kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế vì mục
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”
Thế giới ngày nay đang vận động, biến đổi rất nhanh chóng, phức tạp và khó
lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của các bộ tộc Lào đang đứng
trước những vận hội mới, nhưng cũng đang đối diện với không ít thách thức to
lớn về nhiều mặt. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong điều kiện hội nhập
quốc tế hiện nay là phải bam sát sự biến động của tình hình trong nước và quốc
tế để đề ra chính sách đối ngoại có hiệu quả, nhằm phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Lào hướng tới mục tiêu “dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [ 8,21 ]
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.2.1 khái niệm phát triển.
Theo từ điển tiếng Việt: “ Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít
đến nhiều, từ hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [21,769]
1.2.2 khái niệm năng lực quản lý .
- Quản lý: Khái niệm quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ
thống có tính tổ chức, chức năng này có trong giới sinh học , có trong đời sống
xã hội, có trong việc quản lý kỹ thuật.
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành
công việc qua những nỗ lực của người khác.
Quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong
cộng đồng, nhằm thực hiện mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Khi nói đến
hoạt động quản lý người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác: “
Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng” [15,480].
Đã có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau về quản lý, theo tác giả
Nguyễn Quốc Trí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là tác động có
9
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản
lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức” [9,16].
Quản lý được diễn ra nhờ các tín hiệu của mình, đó là thông tin. Thông tin
chính là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích
cho các hoạt động quản lý (Tức cho cả chủ thể và đối tượng quản lý). Chủ thể
quản lý đưa ra các thông tin (mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định) để tác
động lên các đối tượng bị quản lý, đó chính là thông tin điều khiển của chủ thể
quản lý cùng các bảo đảm vật chất khác để định hướng hoạt động của mình, tính
toán và tự điều khiển mình nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao.
Đối với chủ thể quản lý sau khi ra quyết định cho đối tượng thực hiện, thì
họ phải thường xuyên theo dõi kết quả thực hiện các quyết định của đối tượng
thông qua các thông tin phản hồi (được các gọi là các mỗi lien hệ ngược của
thông tin) của quản lý.
Thứ sáu: Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
Đây cũng là đặc điểm quan trọng của tâm lý. Nói quản lý là một khoa học
là vì quản lý như đã xet trên, có đối tượng riêng là các mỗi quan hệ quản lý.
Quản lý còn có phương pháp luận nghiên cứu riêng và chung, đó là triết học
Mác –Leenin, là quan điểm hệ thống . . . Quản lý có những phương pháp cụ thể
được sử dụng để nghiên cứu như các phương pháp phân tích, các phương pháp
toán kinh tế, các phương pháp xã hội học, các phương pháp tâm lý, các phương
pháp lịch sử. . . . Quản lý đồng thời còn là một nghệ thuật vì nó còn phụ thuộc
một phần vào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, bề dày kinh nghiệm của
người lãnh đạo của tổ chức. Quản lý còn là một nghề với nghĩa các nhà lãnh đạo
tổ chức phải có tri thức quản lý (qua tự học, tự tích lũy và qua các quá trình
được đào tạo ở các cấp độ khác nhau hoặc ít nhất họ phải có chuyên gia về quản
lý làm trợ lý cho họ).
11
Từ sự phân tích trên ta có thể định nghĩa khái niệm quản lý như sau:
Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức , lựa chọn trong
số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và
môi trường, nhằm giữ vững cho sự vận hành của đối tượng và môi trường, nhằm
giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển có
trạng thái trung gian). Vạch rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động và các
biện pháp lớn, nhở, nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra. Kết quả của
các giai đoạn này sẽ là bản kế hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian đã
định của tổ chức . Và nội dung cơ bản của toàn bộ quá trình quản lý sẽ là thực
hiện bản kế hoạch này.
Như vậy, chúng ta thấy có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch
hóa:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) và các nguồn
lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục
tiêu đó.
- Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành
công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Như vây là sự sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những dạng hoạt
động của tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn, đồng thời bảo đảm sự
phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau tạo nên một tác động tích hợp mà
hiệu quả của các hoạt động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả của các tác động
bộ phân.
13
Tổ chức chính là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, biến một tập hợp các thành
tố rời rạc thành một hệ toàn vẹn. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có
thể phối hợp điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của
một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các
nguồn lực này sao cho có hiệu quả.
- Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là điều hành
mọi việc nhằm bảo đảm cho tổ chức vận hành thuận lợi. Chỉ đạo biến mục tiêu
dự kiến thành kết quả, kế hoạch thành hiện thực. Trên thực tế chỉ đạo là tổ chức
thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [21,660].
Theo tác giả Hoàng Minh Thao: “ Năng lực quản lý là sự tương ứng giữa
khả năng tâm lý và yêu cầu của nhiệm vụ quản lý. Tùy theo mức độ đáp ứng
giữa khả năng và yêu cầu, chúng ta có thể phân định rõ các mức độ năng lực
khác nhau” . . .
“ Năng lực quản lý thể hiện qua 4 mặt công tác quan trọng: kế hoạch hóa,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [29,30]. Hay nói cách khác năng lực quản lý của
người CBQL được thực hiện qua kết quả của việc thực hiện các chức năng quản
lý.
“Năng lực quản lý được hợp thành bởi 6 năng lực cụ thể:
+ Tầm nhìn chiến lược
+ Năng lực thiết kế
+ óc thực tiễn
+ Năng lực tổ chức
+ Khả năng điều hành
+ Khả năng đồng cảm
15
Muốn quản lý tốt cần 6 năng lực trên, nhưng quan trọng nhất là năng lực
tổ chức. Không có năng lực tổ chức thì không trỏ thành người quản lý được”
[17,30].
Theo chúng tôi năng lực là tri thức thực hành ứng dụng và kỹ năng thực
hiện công việc trong một lĩnh vực nào đó. Nói ngắn gọn lại: Năng lực =
Tri thức + kỹ năng.
1.2.3 Khái niệm đội ngũ:
Theo từ điển tiếng Việt: “Là tập hợp gồm một số đông người cùng chức
năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng. VD: đội ngũ giáo viên, đội ngũ
cán bộ” . . .[21,417]
1.2.4 Khái niệm Chuyên viên:
Theo từ điển tiếng Việt: “Là người thành thạo về một lĩnh vực công tác nào
đó hoặc cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, giúp lãnh đạo ở một cơ
nhiệm vụ được giao.
- Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc
nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật.
- Được hưởng quyền khác về hoạt động ghề nghiệp theo quy định của
pháp luật.
- Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghề
nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được
giao, được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở
miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có
17