MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa
(CNH – HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành một nước công
nghiệp. Trong đó nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định thắng lợi của công
cuộc CNH – HĐH và hội nhập quốc tế là con người. Vì vậy phải chăm lo đến
nguồn lực người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm chất và năng
lực đáp ứng yêu cầu xã hội, việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.
Trong những năm qua, giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) đã có những thay
đổi, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng để hội nhập quốc tế sâu sắc.
Bộ GD&ĐT đã tiến hành nhiều cuộc đổi mới ở các bậc học, trong đó có đổi
mới giáo dục phổ thông.
Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết
định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về Chương trình Giáo dục phổ thông. Chương
trình giáo dục phổ thông là kết quả của sự điều chỉnh, hoàn thiện, tổ chức lại
các chương trình đã được ban hành, làm căn cứ cho việc quản lý, chỉ đạo, tổ
chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm
vi cả nước.
Tuy nhiên có một thực tế là khả năng tiếp thu bài học của HS phổ
thông ở các vùng miền trên cả nước, ở trong một địa phương và ngay trong
một nhà trường là không đồng đều. Chính vì vậy cần phải có một yêu cầu
thống nhất trên cả nước về mức độ kiến thức, kỹ năng tối thiểu HS cần đạt
được, trên nền tảng đó, tùy theo đối tượng HS mà GV đề ra những yêu cầu
cao hơn.
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, Chuẩn kiến thức, kỹ năng đã được
đưa vào thành phần của Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành năm
1
2006 theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT nhằm đảm bảo việc chỉ đạo dạy
học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng, tạo nên sự thống nhất
trong cả nước; góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập;
giảm thiểu dạy thêm, học thêm, từng bước ổn định và nâng cao chất lượng
hiện nay.
Với lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo
Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý hoạt động dạy học
của hiệu trưởng trường THPT.
- Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT – KN
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục THPT và
nâng cao chất lượng dạy học.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN
ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT của
tỉnh Hưng Yên.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, dạy học theo Chuẩn KT - KN đã được triển khai đồng loạt
trên phạm vi cả nước, ở tất cả các trường THPT, nhưng công tác quản lý hoạt
động dạy học của hiệu trưởng trường THPT theo Chuẩn KT - KN còn thiếu
3
đồng bộ và bất cập. Nếu nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học theo Chuẩn KT - KN một cách đồng bộ và hiệu quả sẽ thực hiện
được những mục đích, yêu cầu dạy học theo Chuẩn, từ đó nâng cao chất
lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học
theo Chuẩn KT - KN ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên.
5.2. Nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy
mà đề tài đã nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Kết luận & khuyến nghị, Tài liệu
tham khảo, Phụ lục. Phần Nội dung được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn
kiến thức, kỹ năng
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến
thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến
thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, giáo dục luôn là một lĩnh
vực mà ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào cũng coi trọng, thu hút được sự
quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu các vấn
đề trong giáo dục không phải là điều dễ dàng, vì những vấn đề đó luôn có sự
gắn bó chặt chẽ với những lĩnh vực khác trong xã hội. Chính vì vậy, nghiên
cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục là một vấn đề khó khăn và phức tạp.
Đối với giáo dục, muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung thì
trước hết phải nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Để nâng cao
chất lượng giảng dạy, vai trò của các biện pháp quản lý là hết sức quan trọng.
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã nghiên cứu thực tiễn
quản lý nhà trường để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được coi trọng từ rất sớm.
Ngay từ thời nhà Lý, Văn miếu Quốc tử giám đã được xây dựng trở thành nơi
trên phạm vi cả nước. Trong chương trình giáo dục phổ thông, lần đầu tiên
Chuẩn KT - KN được thể hiện, cụ thể hóa ở chương trình từng môn học, theo
từng lớp học.
7
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, khi tiến hành giảng dạy theo một
chương trình nào đó thì việc đầu tiên cần làm là đưa ra một hệ thống Chuẩn
để căn cứ vào đó thực hiện hoạt động dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá
mức độ tiếp thu kiến thức của HS, tạo nên sự thống nhất về mục tiêu giáo dục
trên khắp đất nước. Tuy nhiên, do đặc trưng về kinh tế, xã hội, văn hóa, dân
cư … mà hệ thống Chuẩn ở các quốc gia có sự khác biệt.
Đối với Việt Nam, trong SGV ở đầu mỗi bài cũng đã có nêu lên những
yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà HS cần đạt được sau bài học, nhưng còn ở
mức khái quát, điều đó đã dẫn đến thực trạng dạy học ở các trường trên cả
nước không hoàn toàn thống nhất, gây khó khăn cho việc đánh giá một cách
chính xác, khách quan kết quả dạy của GV và kết quả học của HS.
Bước vào năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT đã ban hành tài liệu
Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT - KN và tiến hành tập huấn cho GV giảng
dạy ở bậc THPT, mục đích là tạo nên sự thống nhất chương trình trên phạm vi
cả nước, khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập. Chuẩn KT -
KN đã được sử dụng làm căn cứ để chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá, thay
thế cho vai trò của SGK và SGV (chỉ còn là tài liệu tham khảo chính).
Vì mới chính thức được thực hiện đại trà trên cả nước từ năm học 2010
– 2011 nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp quản lý
hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN. Phần lớn mới chỉ dừng lại ở các bài
báo, các sáng kiến kinh nghiệm như “Dạy học trên cơ sở Chuẩn kiến thức, kĩ
năng của môn học” (PGS.TS Đỗ Đình Hoan - tạp chí KHGD số 29/2008) ;
“Kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện dạy học theo Chuẩn kiến thức kĩ năng” (Ngô
Minh Thành và Đinh Thị Kim Liên – Phòng Giáo dục Thành phố Hưng Yên –
tháng 5/2010) …
1.1.2. Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ
trình dạy học và chỉ đạo thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN. Làm thế nào
để hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục? Làm thế nào để hoạt động dạy học
hướng đến tất cả đối tượng HS, giờ học khắc phục được tình trạng quá tải,
không bị sức ép vì thiếu thời gian, không khí lớp học bớt nặng nề, HS tự tin,
hứng thú học tập? Chúng tôi nhận thấy điều hết sức cần thiết là phải tìm ra
các biện pháp chỉ đạo, quản lí một cách hợp lí, kịp thời nhằm giúp việc dạy
học theo Chuẩn KT - KN đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra.
Dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn KT - KN được triển khai và thực
hiện trên phạm vi cả nước dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:
a. Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã kí quyết định
số 16/2006/QĐ-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông trong đó
có Chuẩn KT - KN của từng môn học. Đây là căn cứ cho việc quản lý, chỉ
đạo, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học
trên phạm vi cả nước.
b. Công văn số 7394/BGDĐT-GDTrH ngày 25 tháng 8 năm 2009 về
việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2009 – 2010.
Trong công văn số 7394, Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT chỉ đạo các
trường THPT nghiêm túc thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN.
c. Công văn số 64/BGDĐT-GDTrH ngày 06 tháng 01 năm 2010 về
việc hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT - KN của chương trình giáo dục phổ
thông. Kèm theo công văn số 64 là bộ tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn
kiến thức, kỹ năng” với tất cả các môn học.
d. Chỉ thị số 3398/CT-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục các cấp năm học
2011 - 2012, trong đó có giáo dục THPT.
10
e. Công văn số 5433, ngày 17 tháng 8 năm 2011 của Bộ GD&ĐT về
việc “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2011 – 2012”.
1.2. Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn
kiến thức, kỹ năng
động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ
cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục
tiêu đã định” [46,14].
Ở mỗi góc độ tiếp cận, người ta có thể đưa ra một quan niệm quản lý
khác nhau. Nhìn chung, các khái niệm quản lý bao gồm những dấu hiệu đặc
trưng sau:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động.
- Trong quản lý, luôn có chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối
tượng quản lý) quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác
động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ
thể quản lý yêu cầu đối với khách thể quản lý.
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã
hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại, vận hành và
phát triển.
- Quản lý phải có cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định.
Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người
và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và
phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định.
Như vậy, quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và nó
có liên quan đến nhiều yếu tố: các yếu tố cấu trúc và các yếu tố khác (tổ chức,
môi trường, quyền uy …).
1.2.2. Nhà trường và quản lý nhà trường THPT
1.2.2.1. Nhà trường
12
Trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và xem xét quá trình lịch sử phát triển nhà trường trong tiến trình lịch
sử phát triển xã hội loài người cho thấy, nhà trường là một dạng thiết chế tổ
chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành (thiết lập) do nhu cầu
tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh
nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và
Theo Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý nhà trường (một cơ sở giáo dục) là
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và
hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể
quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên, người học, …) nhằm đưa các hoạt
động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục” [10,20].
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong
một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng là nhà trường. Do đó,
quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo
dục để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường phổ thông bao gồm: quản lý các quan hệ giữa nhà
trường và xã hội và quản lý chính nhà trường (quản lý bên trong nhà trường).
Quản lý bên trong nhà trường gồm: quản lý các quá trình giáo dục đào
tạo và quản lý các điều kiện (vật chất, tài chính, nhân lực …).
1.2.2.3. Quản lý trường THPT
Trường THPT là bậc học cuối cùng trong cấp phổ thông (cấp 3) của hệ
thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường THPT
được thành lập với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
14
nhân tài phục vụ nhiệm vụ chính trị, KT - XH và hoàn thiện nhân cách cho
mọi công dân.
Trường THPT hiện nay đang hoạt động dưới hai hình thức: công lập và
ngoài công lập (dân lập và tư thục). Dù hoạt động dưới hình thức cụ thể
nào, trường THPT cũng chịu sự quản lý của Nhà nước và cơ quan quản lý
giáo dục.
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản
lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
thái khác, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [39,37].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường phổ thông là tập hợp các
tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của
chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận dụng
phẩm chất đạo đức, theo chương trình nhất định [36,244].
Dưới góc độ của giáo dục học: “Dạy học luôn được xem là con đường
hợp lí, thuận lợi nhất, giúp cho HS với tư cách là chủ thể nhận thức, có thể
lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành động chuyển thành phẩm
chất, năng lực trí tuệ của bản thân” [19,172].
1.2.3.2. Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho mọi loại hình nhà trường
và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu
nhất, hướng người học vào quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách.
Hoạt động dạy học trong trường THPT bao gồm hoạt động dạy của GV
và hoạt động học của HS. Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau,
quy định lẫn nhau của hai chủ thể dạy học (GV và HS) nhằm truyền thụ và
16
lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và
thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng
tạo và xây dựng, hoàn thiện các phẩm chất nhân cách cho HS.
* Hoạt động dạy của GV:
Là tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của HS, giúp HS
nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng
kép là truyền đạt và điều khiển nội dung học theo chương trình quy định. Có
thể hiểu hoạt động dạy là quá trình hoạt động sư phạm của GV, làm nhiệm vụ
truyền thụ tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS.
* Hoạt động học của HS:
Là quá trình tự điều khiển chiếm lĩnh khái niệm khoa học, HS tự giác,
tích cực lĩnh hội tri thức. Theo đó, hoạt động học cũng có chức năng kép là
lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự
giác, tích cực nhằm biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Có
thể hiểu hoạt động học của HS là quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành hệ
thống những kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện
nhân cách của bản thân. Hai hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ
Trong quá trình quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường THPT thì
người hiệu trưởng cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Lập kế hoạch: xây dựng mục tiêu, xây dựng kế hoạch năm học của
nhà trường, chỉ đạo các tổ chuyên môn, các cá nhân lập kế hoạch cụ thể đúng
quy định, theo đặc thù nhà trường.
- Xây dựng nền nếp dạy học: đưa hoạt động dạy học vào nền nếp bằng
hệ thống các nội quy, quy định, quy chế chặt chẽ, sao cho mọi thành viên
trong nhà trường nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện
các nội quy, quy định … trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
18
- Chỉ đạo đổi mới PPDH: dạy học theo phương pháp mới, lấy người
học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của HS trong học tập, khắc phục lối
truyền thụ một chiều. Thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN và theo nội
dung giảm tải của Bộ GD&ĐT.
- Chỉ đạo quản lý và sử dụng CSVC, TBDH: CSVC – TBDH là điều
kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải bổ sung, mua sắm
các TBDH, đồng thời khuyến khích GV làm và sử dụng có hiệu quả đồ dùng
dạy học và các thiết bị giáo dục.
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá trong nhà trường: việc kiểm tra, đánh giá
phải được thực hiện theo kế hoạch kiểm tra của nhà trường, theo tiêu chuẩn
quy định của ngành về các mặt hoạt động, đảm bảo kiểm tra khách quan,
chính xác.
- Khen thưởng - kỷ luật kịp thời đối với GV và HS: có như vậy mới
động viên và khuyến khích được GV và HS thực hiện dạy tốt, học tốt nhằm
nâng cao chất lượng dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học phải đồng thời quản lý hoạt động dạy của
GV và quản lý hoạt động học của HS. Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy học
là phải quản lý các thành tố của quá trình dạy học, trước hết các thành tố đó sẽ
phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách
đồng bộ, hài hòa, hợp quy luật, đúng nguyên tắc dạy học.
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức các hoạt động bồi dưỡng
năng lực sư phạm cho GV.
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn, GV chủ nhiệm lớp, các tổ chức
đoàn thể, cha mẹ HS, hướng dẫn hoạt động học của HS theo chức năng của
mình.
20
- Hiệu trưởng tổ chức chỉ đạo tổ chuyên môn tiến hành hoạt động kiểm
tra, đánh giá kết quả dạy học và thực hiện kế hoạch năm học.
- Hiệu trưởng chỉ đạo việc đổi mới PPDH và KTĐG [14,16].
Trên các cơ sở đó, biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu
trưởng trường THPT có thể được triển khai như sau:
a. Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
- Việc xây dựng kế hoạch phải được tiến hành một cách có khoa học,
sát thực dựa trên cơ sở khách quan và chủ quan và cần phải tiến hành theo
một quy trình hợp lý.
- Các loại kế hoạch chỉ đạo hoạt động dạy học:
+ Kế hoạch tổng thể về phát triển nhà trường để mở rộng quy mô phát
triển đáp ứng nhu cầu học tập của HS (kế hoạch dài hạn từ 5 đến 10 năm).
+ Kế hoạch tuyển sinh hàng năm, kèm theo các điều kiện khả thi.
+ Thời khóa biểu và lịch theo dõi nền nếp dạy học.
+ Kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS yếu kém và thi HS giỏi.
+ Kế hoạch ôn tập, kiểm tra học kì năm học.
+ Kế hoạch hoạt động ngoại khóa phục vụ cho học tập.
+ Kế hoạch chỉ đạo GV chủ nhiệm tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện
của HS.
+ Kế hoạch phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường để chỉ đạo dạy học.
+ Kế hoạch phối hợp với hội cha mẹ HS và các tổ chức xã hội phục vụ
cho dạy học.
+ Kế hoạch cá nhân của hiệu trưởng để chỉ đạo các hoạt động trong nhà
trường.
22
tổ chức tham quan thực tế, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn;
tổ chức học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ …).
- Các biện pháp chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học:
+ Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các văn bản pháp quy, quy chế của
Nhà nước và của ngành giáo dục về nền nếp dạy học.
+ Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các nội quy của nhà trường về nền
nếp dạy học.
+ Chỉ đạo thực hiện các loại kế hoạch về dạy học đã được xây dựng.
+ Chỉ đạo thực hiện hồ sơ sổ sách chuyên môn.
+ Chỉ đạo nền nếp sinh hoạt chuyên môn đối với từng tổ, từng nhóm và
từng khối lớp.
+ Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tổ chức sinh hoạt theo kế hoạch,
xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh, ổn định, đoàn kết.
+ Xây dựng khuôn viên nhà trường xanh - sạch - đẹp tạo khung cảnh và
môi trường sư phạm thuận lợi cho hoạt động dạy học.
+ Xử lí các vụ việc, tình hưống trong quá trình dạy học.
+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá thực hiện nền nếp.
- Chỉ đạo đổi mới PPDH:
+ Thành lập ban chỉ đạo, ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch
hành động, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc đổi mới PPDH
và tổng kết rút kinh nghiệm.
+ Tạo điều kiện tinh thần và vật chất cho đổi mới PPDH như: tổ chức
bồi dưỡng cho GV về PPDH, hình thức tổ chức dạy học mới; sử dụng các
phương tiện dạy học.
+ Chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn xây dựng một số bài giảng mẫu, thống
nhất về chuẩn đánh giá giờ dạy theo hướng đổi mới.
+ Chỉ đạo dạy thử nghiệm, dự giờ, rút kinh nghiệm và mở rộng đại trà.
23
+ Chỉ đạo thực hiện dạy học theo tinh thần đổi mới ở tất cả các môn
để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng; là vật được chọn làm mẫu;
là cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong xã hội
[20,181]. Theo đó, chuẩn được coi là yêu cầu, mục tiêu hướng tới, thước đo
đánh giá về các hoạt động, sản phẩm,…theo ý chí của chủ thể quản lý về các
hoạt động, sản phẩm,… đó.
Trong tài liệu “Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng các
môn học” của Nhà xuất bản giáo dục – 2010, các tác giả đã nêu rõ:
a) Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân thủ
những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động,
công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó. Đạt được những yêu cầu của chuẩn
là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc,
sản phẩm đó.
Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tường minh Chuẩn, chỉ ra những căn
cứ để đánh giá chất lượng. Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực
hiện. Yêu cầu được xem như những “chốt kiểm soát” để đánh giá chất lượng
đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện.
b) Những yêu cầu cơ bản của chuẩn:
- Chuẩn phải có tính khách quan, nhìn chung không lệ thuộc vào quan
điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn.
- Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng.
- Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là Chuẩn đó có thể đạt được (là trình
độ hay mức độ dung hòa hợp lí giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn với
những thực tiễn đang diễn ra).
- Đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng.
25