Quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp Xây dựng với Cơ sở sản xuất ở Thành Phố Uông Bí, Quảng Ninh - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay để thực hiện
thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và thành phố Uông Bí
nói riêng, một trong những vấn đề then chốt đặt ra là đào tạo nguồn nhân lực
kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực luôn quan tâm đặc biệt để đổi
mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội. Trong những năm qua, đào tạo nghề ở Trường Trung
cấp xây dựng Thành phố Uông Bí đã nỗ lực từng bước nâng cao chất lượng,
chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển quy mô đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực kỹ thuật ngành xây dựng, vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói
chung. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đào tạo nghề bộc lộ những
hạn chế nhất định: Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo chưa
đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong bối cảnh hội nhập, tình trạng bất cập giữa
đào tạo và sử dụng gây thất nghiệp gia tăng, gây lãng phí cho xã hội. Nghị
quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã chỉ rõ: “con người”-
Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “
Liên kết đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục”[6].
Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu
của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay
thì việc liên kết đào tạo nghề giữa Nhà trường với các cơ sở sản xuất đang
được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về vấn đề:
“Quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp xây dựng với Cơ sở
sản xuất ở Thành Phố Uông Bí, Quảng Ninh”. Chính vì những lý do nêu trên,
tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý liên kết đào tạo nghề giữa
1
Trường Trung cấp Xây dựng với Cơ sở sản xuất ở Thành Phố Uông Bí,
Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu.

trường, báo cáo công tác đào tạo của Sở LĐTB&XH Quảng Ninh đi sâu tìm
hiểu quá trình tổ chức hợp tác giữa trường dạy nghề và DN nhằm tổng kết
kinh nghiệm để rút ra các nhận định khoa học.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát điều tra bằng phiếu hỏi: 01 câu hỏi dành cho
học sinh học nghề đã tốt nghiệp ở Trường Trung cấp xây dựng (phụ lục 1), 01
bộ câu hỏi dành cho cán bộ quản lý tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành
phố Uông Bí (phụ lục 2), 01 bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giáo viên của nhà
trường. (phụ lục 3), để tìm hiểu thực trạng đào tạo nghề và thực trạng về mối
liên kết đào tạo nghề giữa Trường TCXD với CSSX, các yếu tố có liên quan,
thu thập thông tin về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất nhằm góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề của Trường Trung cấp xây dựng.
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Phỏng vấn một số cán bộ quản
lý, giáo viên có kinh nghiệm của nhà trường nhằm làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu. Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một số khách thể có
uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lý đào tạo nghề nhằm thu thập
thêm thông tin.
5.3. Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích các số liệu, kết
quả điều tra, đồng thời để xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả
nghiên cứu.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý liên kết đào tạo nghề giữa
Trường Trung cấp Xây dựng và CSSX.
- Đánh giá thực trạng về quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường
Trung cấp Xây dựng với CSSX ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh.
3
- Đề xuất các giải pháp quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường
Trung cấp xây dựng với cơ sở sản xuất ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh.
7. Giả thuyết khoa học

hình là:
Đề tài nghiên cứu: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào
tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất” Trong đề tài này, tác giả đã
phân tích một số hình thức kết hợp.[33]. Trên cơ sở nghiên cứu ở các nước
Mỹ La Tinh và đào tạo nghề song tuyến ở CHLB Đức, tác giả đã đề xuất thực
hiện một số mô hình kết hợp ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình chưa có điều
kiện để đề cập đến các vấn đề như: Cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề,
phương thức kết hợp đào tạo nghề, các điều kiện, nguyên tắc, phương pháp
thực hiện, quy trình kết hợp, các giải pháp để thực hiện kết hợp đào tạo nghề.
Năm 2004, Trường Trung cấp kỹ thuật xây dựng Hà nội có đề tài
nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng
lao động của hệ thống dạy nghề Hà nội trong lĩnh vực xây dựng” [32]. Trong
đề tài tác giả đã phân tích mô hình đào tạo kép ở CHLB Đức, mô hình đào tạo
5
“luân phiên” (Alternation) ở Pháp và đưa ra một số giải pháp trong việc kết
hợp đào tạo giữa CSDN với các đơn vị sản xuất. Tuy nhiên, đề tài chưa có
điều kiện để phân tích các vấn đề như: Các cơ sở khoa học của kết hợp đào
tạo nghề, chưa nêu được mô hình kết hợp đào tạo nghề như ở các nước Châu
Á như : Trung Quốc, Thái Lan….mà tập trung vào đào tạo mô hình luân
phiên của Viện đào tạo luân phiên về xây dựng và các công trình công cộng
(LABTP) ở cộng hoà Pháp. Giải pháp đề ra chủ yếu tập trung vào: “Quan hệ
giữa nhà trường và đơn vị sản xuất” chưa đi sâu vào vấn đề kết hợp đào tạo.
Trong luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã phân tích và đưa
ra vấn đề “Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và các đơn vị sản xuất”
[16]. Là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Song do
hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoa học,
chỉ đề cập đến cách thức tiến hành tăng cường quan hệ của Nhà trường với
các đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợp
đào tạo tổng quát ở Việt nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện
kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải

liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường và DNSX.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1.
Khái niệm
quản

Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong
đời sống xã hội. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một
dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng". [4, 29-30]. Khái niệm quản lý đã
được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Các tác giả Harol Koontz Cynil Odonnell và Heinz Weihich khẳng
định: "Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các cá nhân
7
nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức" [36, 31]. Theo F.W.Taylor: "Quản lý là
biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [4, 89]. Theo
Thomas.J.Robbins - Wayned Morrison: "Quản lý là một nghề nhưng cũng
là một nghệ thuật, một khoa học" [37, 19].
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Theo từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định" [30, 789].
Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích tới
tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục
đích đã định trước" [18, 19-20]. Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lý là sự
tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được
mục tiêu đặt ra trong điều kiện chuyển biến của môi trường" [28, 43].
Có thể nhận thấy những khái niệm nêu trên tuy nhấn mạnh mặt này hay
mặt khác, dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa, ở cấp vĩ mô
hay vi mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản lý là hoạt động có tổ

xuất, tổ chức điều hành xã hội cũng phát triển theo, đó là tất yếu lịch sử.
Ngược lại khi trình độ tổ chức điều hành xã hội phát triển sẽ thúc đẩy sự phát
triển của trình độ sản xuất, của nền văn minh xã hội. Như vậy, quản lý trở
thành nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ
biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến con người.
Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội tùy theo
trình độ quản lý cao hay thấp.
1.2.2. Đào tạo nghề, cơ sở đào tạo nghề
Đào tạo nghề đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp
và kiến thức liên quan đến một số lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và
nắm vững kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống nhằm chuẩn
9
bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một
công việc nhất định. Có nhiều dạng đào tạo nghề: Đào tạo cơ bản và đào tạo
chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa và
tự đào tạo…
Có rất nhiều định nghĩa về đào tạo nghề, sau đây xin được nêu một số
định nghĩa đó:
William Mc. Gehee (1979): Đào tạo nghề là những quy trình mà
những công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành
vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty.
Max Forter (1979): cũng đưa ra khái niệm đào tạo nghề phải đáp ứng
việc hoàn thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học, Phát triển
tri thức, kỹ năng và thái độ, Tạo ra sự thay đổi trong hành vi, Đạt được những
mục tiêu chuyên biệt.
Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển
năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm
nhận công việc được áp dụng đối với người lao động và những đối tượng sắp
trở thành người lao động.
ILO định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những

Những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ đã đề ra những yêu cầu mới
đối với người công nhân. Trong nền sản xuất hiện đại đòi hỏi người công
nhân phải có tư duy sáng tạo, biết giải quyết vấn đề trong quá trình vận hành
các phương tiện sản xuất hiện đại cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm với
chất lượng cao hơn, biết sử dụng phần mềm của các phương tiện tự động, vi
xử lý…
Ở nước ta trước đây CNKT chỉ được đào tạo ở mức độ lành nghề (bậc
3/7), ngày nay để chuẩn bị cho quá trình CNH - HĐH đất nước, Luật dạy
nghề 2006 đã quy định dạy nghề có 3 cấp trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp
11
nghề và Cao đẳng nghề. Do vậy, CNKT cũng sẽ có 3 trình độ: Sơ cấp nghề,
Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề [21].
Tuỳ theo mức độ phức tạp của từng nghề để xác định các cấp trình độ
đào tạo của nghề đó, có nghề phải đào tạo ở cả 3 trình độ nhưng có nghề chỉ
cần đào tạo một đến hai cấp. Ví dụ: Với những nghề đơn giản như nghề mộc,
nề, chỉ đòi hỏi người CNKT trình độ Sơ cấp nghề hoặc Trung cấp nghề,
nhưng với những nghề phức tạp như nghề thợ tiện điều khiển máy công nghệ
cao, thợ sửa chữa thiết bị điện tử thì cần đến CNKT trình độ Cao đẳng nghề.
1.2.4. Đào tạo công nhân kỹ thuật
Đào tạo CNKT là một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và
phương pháp, nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và thái
độ cần thiết của người CNKT để họ có cơ hội tìm việc làm và có năng lực
hành nghề ở vị trí lao động theo yêu cầu sản xuất. Kết thúc khoá đào tạo,
người học được cấp bằng hoặc chứng chỉ để có thể hành nghề.
Năng lực hành nghề (Competency) của họ bao gồm 3 yếu tố: Kiến thức
(Knowledge), kỹ năng (Skill) và thái độ (Atitude) mà mỗi nghề đòi hỏi người
CNKT phải có để có thể hành nghề.
Kiến thức là những hiểu biết về các khái niệm, định nghĩa, nguyên lý,
quy tắc, phương pháp, sự kiện về công cụ lao động, đối tượng lao động, quy
trình công nghệ, sản phẩm lao động và những hiểu biết khác cần thiết cho

Hướng nghiệp, Trung tâm Giáo dục thường xuyên…ở các Cơ sở đào tạo dài
hạn như: Trường trung cấp nghề, Trường CĐ nghề, Trường TCCN, Trường
Cao đẳng, Trường Đại học hoặc tại các Cơ sở sản xuất.
Tuỳ thuộc vào trình độ đào tạo, trình độ tưyển sinh cũng như thời gian
đào tạo CNKT có khác nhau. Theo Luật dạy nghề 2006, Dạy nghề được thực
hiện dưới 1 năm đối với đào tạo nghề trình độ Sơ cấp, từ 1 đến 3 năm đối với
trình độ Trung cấp và Cao đẳng.
13
1.2.5. Cơ sở sản xuất
Là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch được đăng
ký hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động sản xuất
các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội.
1.2.6. Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo thường được đánh giá với nhiều phạm vi khác
nhau: Chất lượng của sản phẩm đào tạo (Học sinh/Sinh viên tốt nghiệp), chất
lượng của các cơ sở đào tạo và chất lượng của cả hệ thống đào tạo. Trong đề
tài này, chỉ đề cập đến chất lượng của sản phẩm đào tạo.
Hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm về chất lượng khác nhau. Trước
hết có hai loại quan niệm về chất lượng: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng
tương đối.
- Chất lượng theo quan niệm tuyệt đối: Theo từ điển Tiếng Việt phổ
thông Chất lượng là tổng thể những chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật,
sự việc làm cho sự vật, sự việc này phân biệt với sự vật, sự việc khác.
Trong Từ điển Oxford Pocket Dictionary: Chất lượng là mức hoàn
thiện, đặc trưng so sánh này hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ
liệu, các thông số cơ bản của một sự việc, sự vật nào đó.
Theo Định nghĩa trên, chất lượng là cái vốn có của sự vật, nó tồn tại
khách quan và mọi người phải thừa nhận nó. Tuy nhiên, trong thực tế không
phải lúc nào cũng như vậy. Nhiều khi một sự vật được coi là có chất lượng
đối với người này nhưng lại không có chất lượng đối với người khác, bởi lẽ

Trong thực tế, liên kết đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất có
nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên. Các
mức độ có thể kể đến là:
15
- Liên kết toàn diện là sự tham gia của các cơ sở sản xuất với cơ sở đào
tạo trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo. Với mức độ liên kết
này, các cơ sở sản xuất tham gia đầu tư trang thiết bị cho cơ sở đào tạo hoặc
tổ chức các phân xưởng đào tạo để cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất cùng sử
dụng, cử kỹ sư và công nhân cùng tham gia giảng dạy, tham gia với cơ sở đào
tạo từ khâu hướng nghiệp chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội
dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo và đánh giá kết quả học tập của
học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh.
- Liên kết có giới hạn là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh
vực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo. Mức độ liên kết này phù
hợp với những trường hợp cả hai bên đối tác chưa có nhu cầu hoặc chưa có
điều kiện để hợp tác toàn diện. Ví dụ cơ sở sản xuất hàng năm nhận học sinh
của cơ sở đào tạo vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…
- Liên kết rời rạc là sự liên kết chỉ thực hiện trong một số lĩnh vực và
sự hợp tác này cũng có thể không thực hiện được thường xuyên mà chỉ thực
hiện khi có điều kiện.
Như vậy, sự liên kết giữa Nhà trường và các cơ sở sản xuất rất đa dạng,
tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi bên, không thể áp đặt một cách
đồng loạt mặc dầu sự hợp tác sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên.
1.3. Đào tạo Công nhân kỹ thuật và việc làm trong cơ chế thị trường
Trong cơ chế thị trường, học sinh - sinh viên tốt nghiệp các cơ sở đào
tạo đều phải tự tìm lấy việc làm. Trong khi đó, với chủ trương phân cấp quản
lý trong đào tạo, các cơ sở đào tạo được giao nhiều quyền chủ động hơn,
trong đó có quyền tuyển sinh và tổ chức các khoá đào tạo theo nhu cầu của xã
hội, của thị trường lao động. Do vậy, các cơ sở đào tạo cần có trách nhiệm xã
hội cao hơn, đặc biệt là với các học sinh - sinh viên tốt nghiệp ở cơ sở mình.

17
năng của mình bằng cách xác định các ưu tiên trong việc mở các khoá đào tạo
theo các trình độ và ngành nghề khác nhau.
1.3.2. Các phương pháp xác định nhu cầu về CNKT
1.3.2.1. Phương pháp điều tra, phỏng vấn các cơ sở sản xuất đối tác
Trong phạm vi hoạt động của mình, mỗi cơ sở dạy nghề đều có những
cơ sở sản xuất là đối tác, những cơ sở sản xuất này sử dụng học sinh sinh viên
tốt nghiệp của cơ sở dạy nghề hàng năm. Do vậy, tổ chức điều tra phỏng vấn
họ để có được nhu cầu đào tạo CNKT trước mắt cũng như kế hoạch phát triển
nhân lực của họ trong một tương lai gần là điều cần thiết cho việc tổ chức các
khoá đào tạo phù hợp cũng như chuẩn bị cho việc kế hoạch hóa đào tạo tương
lai của Nhà trường.
Điều tra về nhu cầu CNKT của cơ sở sản xuất có thể thực hiện trực tiếp
ở từng cơ sở sản xuất là đối tác của cơ sở dạy nghề và cũng có thể tiến hành
hội nghị khách hàng hàng năm.
1.3.2.2. Phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh - sinh viên tốt nghiệp ở
các cơ sở sản xuất
Một biện pháp khá hữu hiệu để xác định nhu cầu về CNKT, đặc biệt về
mặt chất lượng và là phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh, sinh viên tốt
nghiệp đã tìm được việc làm và đang lao động ở các cơ sở sản xuất. Những
học sinh sau khi tốt nghiệp trong quá trình lao động nghề nghiệp sẽ hiểu rõ
hơn ai hết chất lượng của chương trình họ đã được đào tạo đáp ứng được yêu
cầu của sản xuất tới mức độ nào, những nội dung nào phù hợp, nội dung nào
là không cần thiết và nội dung nào cần mà họ chưa được học.
Trên cơ sở đó hoàn thiện hơn về cơ cấu ngành nghề và trình độ nhằm
mục đích điều chỉnh các chương trình đào tạo cũng như số lượng tuyển sinh
của ngành nghề và trình độ trong tương lai cho phù hợp với nhu cầu về nhân
lực của cơ sở sản xuất là đối tác của mình để có thể tổ chức các khoá đào tạo
18
cho phù hợp. Ngược lại, các nhà sản xuất cũng hoạch định kế hoạch phát triển

chấp nhận, cơ sở đào tạo phải được đầu tư và tự đầu tư một cách thích đáng
để có đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo. Chất lượng của sản phẩm
phụ thuộc vào giá thành làm ra sản phẩm đó.
1.3.3.3. Quy luật cạnh tranh
Trong cơ chế thị trường, những người lao động được đào tạo với chất
lượng thấp sẽ ít có cơ hội tìm được việc làm và những cơ sở đào tạo kém chất
lượng cũng sẽ dần dần bị xã hội đào thải. Do vậy, trong cơ chế thị trường
ngoài quy luật cung cầu, cạnh tranh là một quy luật tất yếu. Cạnh tranh lành
mạnh là động lực cho sự phát triển.
Tóm lại, trong cơ chế thị trường, các quy luật cơ bản của thị trường là
quy luật giá trị, quy luật cung cầu, và quy luật cạnh tranh có tác động mạnh
mẽ đến hệ thống đào tạo CNKT.
1.4. Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất
1.4.1. Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo với cơ sở sản xuất và nguyên lý giáo
dục “Học đi đôi với hành”
“Học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất, đào tạo
gắn với sử dụng” đã trở thành một nguyên lí giáo dục có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong đào tạo nghề. Nguyên lý này đã được các tác giả kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định từ lâu và lịch sử tiến hoá của loài
người cũng đã chứng minh rằng chỉ có thông qua lao động sản xuất loài người
mới tồn tại và phát triển.
Lịch sử của loài người từ thời nguyên thuỷ, qua thời kì đồ đá, đồ đồng
cho đến nay là lịch sử phát triển của phương tiện và công cụ lao động sản
xuất, trong quá trình lao động, loài người thế hệ trước đã truyền thụ kinh
nghiệm sản xuất cho thế hệ sau và giáo dục đã ra đời. Do vậy, chỉ có học tập
20
gắn với lao động sản xuất thì giáo dục mới phát triển và cũng do vậy, nhà
trường gắn với cơ sở sản xuất đã từ lâu trở thành sự thể hiện của nguyên lý
“Học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất”.
Trong đào tạo nghề, thời gian học thực hành chiếm khoảng 60 - 80%

động kỹ thuật khác cho các cơ sở sản xuất và ngược lại các cơ sở sản xuất tiếp
nhận CNKT từ các cơ sở đào tạo để phát triển sản xuất theo yêu cầu của
mình. Do vậy cơ sở đào tạo cần biết nhu cầu về CNKT và các loại LĐKT
khác của các cơ sở sản xuất là khách hàng của mình để lập kế hoạch và tổ
chức các khoá đào tạo cho phù hợp về ngành nghề và trình độ. Ngược lại các
cơ sở sản xuất cần hiểu được khả năng đào tạo của các cơ sở đào tạo để có
được đơn đặt hàng theo nhu cầu LĐKT của mình trong từng giai đoạn phát
triển sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, nếu mối quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở
sản xuất không được thiết lập hoặc thiết lập một cách hình thức trên quan hệ
xin cho thì tất yếu dẫn đến tình trạng LĐKT vừa thừa lại vừa thiếu như tình
trạng hiện nay và quy luật cung cầu không được tuân thủ đến một chừng mực
nào đó sẽ gây nên khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu về lao động kỹ
thuật và sản xuất bị đình trệ ngược lại nhà trường cũng không thể phát triển.
1.4.1.2. Quan hệ nhân quả
Mối quan hệ giữa đào tạo và sản xuất còn mang tính triết lý nhân quả
cái nọ làm tiền đề cho cái kia phát triển và ngược lại.
Sản xuất phát triển, nhu cầu về CNKT và các loại LĐKT khác ngày
càng tăng tạo điều kiện thúc đầy hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo phát
triển, đào tạo càng phát triển, quy mô đào tạo ngày càng tăng và chất lượng
đào tạo ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu CNKT về chất cũng như
về lượng trong sản xuất. Cứ như vậy các đối tác bên nọ thúc đẩy và tạo điều
kiện cho bên kia phát triển một cách thuận chiều.
22
Ngược lại, nếu đào tạo không phát triển, quy mô và chất lượng đào tạo
ngày càng giảm, không có đủ CNKT đáp ứng được yêu cầu của sản xuất về
chất cũng như về lượng làm cho sản xuất không đủ cạnh tranh và ngày càng
đình trệ nhu cầu về nhân lực giảm, CNKT tốt nghiệp ra không có cơ hội tìm
việc làm khả năng đầu tư cho cơ sở đào tạo và uy tín của cơ sở đào tạo ngày
càng giảm và cứ thế cái nọ kéo theo cái kia ngày càng đi xuống theo một triết

*Với cơ sở đào tạo:
- Tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo biết được nhu cầu về CNKT thuộc
các ngành nghề cũng như trình độ để hoạch định được các kế hoạch đào tạo
và tổ chức được các chương trình đào tạo cũng như tuyển sinh phù hợp với
nhu cầu của sản xuất của thị trường lao động.
- Cung cấp thông tin cho cơ sở đào tạo về sự phù hợp của các chương
trình đào tạo những nội dung cần cải tiến bổ sung hoặc cần thay đổi cho phù
hợp với yêu cầu của sản xuất.
*Với các cơ sở sản xuất:
- Biết được những thông tin đầy đủ về khả năng đào tạo của cơ sở đào
tạo về ngành nghề và các trình độ CNKT cũng như những chương trình đào
tạo mà cơ sở đào tạo có thể cung cấp nhân lực cho các cơ sở sản xuất.
- Giúp các cơ sở sản xuất có cơ hội tuyển chọn được những CNKT phù
hợp với yêu cầu.
*Với người học :
- Được hướng nghiệp và tư vấn nghề, giúp học sinh chọn được nghề
phù hợp với nhu cầu xã hội cũng như năng lực bản thân để học.
- Giúp học sinh tốt nghiệp có nhiều cơ hội để tìm việc làm.
* Với người lao động:
- Biết được những loại hình công việc còn nhiều vị trí CNKT bị thiếu
để hỗ trợ những người đang tìm việc có thể tìm được một việc làm càng
nhanh càng tốt.
24
1.4.2.2. Cơ sở sản xuất tham gia với cơ sở dạy nghề trong việc xây dựng
chương trình đào tạo
Theo phương pháp tiếp cận mục tiêu trong đào tạo, mục tiêu đào tạo là
yếu tố quan trọng hàng đầu của một chương trình đào tạo. Nó là cơ sở để xây
dựng nội dung chương trình cũng như để đánh giá chất lượng đào tạo và cũng
là định hướng cho người học trong quá trình học tập.
Mục tiêu đào tạo là những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status