BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
ĐỖ THỊ THUÝ LAN
K H Ả O SÁ T M Ô H ÌN H TH U Ố C sử DỤ N G V À C H A T LƯ ỢNG
T H Ô N G TIN HƯ Ớ N G DẪN s ử d ụ n g T H U Ố C c h o
BỆNH N H Â N N G O Ạ I TRÚ TẠI BỆN H VIỆN PH Ụ SẢ N H À N Ộ I
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC sĩ KHOÁ 2001-2006)
Ngiíòi hướng dẫn ỲGS.TS H oàng Thị Kim Huyên
Ths Lê Thị Kim Thanh
Nơi thực hiện : Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Thời gian thực hiện : 0H2006 ->0412006
HÀ NỘI THÁNG 05-2006
c\
Lời cảm ơn
Tôi xin đưỢc bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới:
GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền: Bộ môn Dược lâm sàng
Trường Đại học DưỢc Hà Nội.
Th.s Lê Thị Kim Thanh : Khoa Dược
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện
khoá luận này.
Tôi cũng xin s,ửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
- Các thầy cô bộ môn Dược lâm sàng và toàn thể các thầy cô đã dạy
dỗ tôi trong suốt những năm tháng theo học trường Đại học Được Hà Nội.
- Các dược sĩ, bác sĩ tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã giúp đỡ tôi
trong khi thực hiện khoá luận.
- Chị Thăng và các cô, các chị tại viện thông tin thư viện Y học quốc
gia đã tận tinh hướng dẫn, giúp đõ tôi tìm hiểu tài liệu, gia đình và bạn
hè đá giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Do thời gian có hạn nên khoá luận này không tránh khỏi những sai sót,
rât mong được sự phê binh, góp ý của các thầy cố giáo và các bạn.
19
3.1. Mỏ hình bệnh tật của bệnh viện PSHN
19
3.1.1. Sản khoa 19
3.1.2. Phụ khoa 20
3.1.3. Sơ sinh (hay chu sinh)
.
21
3.1.4. Sinh đẻ kế hoạch 22
3.2. Mô hình thuốc kê cho bệnh nhân ngoại trú 23
3.2.1. Phân nhóm điều trị của đơn khảo sát 23
3.2.2. Số thuốc trung bình trong đơn theo nhóm điều trị
23
3.2.3. Các nhóm thuốc trong đơn theo nhóm điều trị
.
25
3.2.4. Tỉ lệ đơn kê đúng quy chế kê tên gốc 26
ĐẶ T VÂN Đ Ể
Sử dụng thuốc an toàn hợp lí luôn là một trong những mục tiêu quan trọng hàng
đầu của ngành y tế nói chung và của lĩnh vực Dược lâm sàng nói riêng. Việc sử dụng
thuốc an toàn hợp lí đòi hỏi người bệnh phải nhận được thuốc thích họfp với đòi hỏi lâm
sàng, ở liều lượng đáp ứng được yêu cầu cá nhân người bệnh, trong một khoảng thời gian
thích hợp và chi phí ít tốn kém nhất cho người bệnh và cho cả cộng đồng (WHO 1998).
Để đạt được mục tiêu này cần có sự tham gia tích cực của ba đối tượng: bác sỹ điều trị,
dược sỹ lâm sàng và bệnh nhân; trong đó dược sỹ lâm sàng đóng vai trò là cầu nối giữa
bác sỹ- người đưa ra V lệnh và bệnh nhân- người thực hiện y lệnh [17].
Để sử dụng thuốc an toàn hợp lí, trước hết phải chọn được thuốc họfp lí, nghĩa là
phải cân nhắc sao cho chỉ số Hiệu quả/Rủi ro và Hiệu quả/Chi phí của thuốc đó đạt cao
viện đó trong một khoảng thời gian nhất định.
Mô hình bệnh tật tại một bệnh viện chính là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố
quan trọng nhất quyết định đến mô hình sử dụng thuốc tại bệnh viện đó, đặc biệt là
với một bệnh viện chuyên khoa như bệnh viện PSHN. Chính vì vậy, trước khi khảo
sát về mô hình thuốc sử dụng cũng như về vấn đề thông tin HDSD thuốc tại một
bệnh viện, chúng ta cần có cái nhìn khái quát về mô hình bệnh tật của bệnh viện đó.
1.1.1. Mô hình bệnh tật sản phụ khoa [4]
Lĩnh vực phụ sản là lĩnh vực chuyên nghiên cứu về các bệnh của phụ nữ, bao
gồm tất cả các bệnh của bộ máy sinh dục và tất cả những vấn đề liên quan đến bộ
máy sinh dục nữ. Trước đây lĩnh vực phụ sản chủ yếu gồm hai phần: phụ khoa
nghiên cứu về các bệnh lí của của bộ phận sinh dục nữ ngoài thời kì sinh đẻ; sản
khoa nghiên cứu về tình trạng thai ghén, sinh đẻ và các bệnh lí liên quan đến sinh
đẻ. Ngày nay, lĩnh vực phụ sản bao gồm bốn phần rõ rệt: Phụ khoa; Sản khoa; Sơ
sinh hay chu sinh học và Sinh đẻ kế hoạch.
Sản khoa nghiên cứu về quá trình thai nghén, sự sinh đẻ và các bệnh lí do
tình trạng thai nghén và sinh đẻ dẫn tới. Sản khoa được chia thành ba mảng: sản
thường, sản khó và sản bệnh, ngoài ra còn có các cấp cứu như: cấp cứu cháy mau,
cấp cứu nhiễm độc, cấp cứu nhiễm khuẩn Trong đó cấp cứu chảy máu là loại cấp
cứu rất khẩn cấp, nếu không xử trí kịp thời có thể gây tử vong cho cả mẹ và thai nhi.
Phụ khoa nghiên cứu về tất cả các tình trạng sinh lí và bệnh lí của bộ phận
sinh dục nữ ngoài thời kì sinh đẻ, kể cả tuyến vú. Trong phụ khoa, ngoài những bệnh
lí nói chung người ta còn chia ra: phụ khoa trẻ em (đối tượng thường là các em bé
gái dưới 15 tuổi); phụ khoa ung thư (phòng và điều trị các ung thư của bộ phận sinh
dục nữ, kể cả ung thư vú); phụ khoa nội tiết (điều trị các bệnh của bộ phận sinh dục
nữ do nguyên nhân nội tiết).
Sơ sinh hay chu sinh học nghiên cứu các tình trạng sinh lí và bệnh lí của trẻ
sơ sinh từ khi lọt lòng tới 7 ngày sau đẻ, giúp người thầy thuốc có những kiến thức
cần thiết để chăm sóc sức khoẻ của trẻ sơ sinh. Phần này gồm ba phần: hồi sức thai
và hồi sức sơ sinh sau đẻ, sơ sinh non tháng; sơ sinh bệnh lí.
Sinh đẻ kê' hoạch là một phần rất quan trọng trong công tác ổn định dân sô
- Khoa sinh đẻ kế hoạch: chuyên tư vấn và cung cấp các dịch vụ kế hoạch
hoá gia đình, gồm 1 phòng tư vấn và 2 phòng thực hiện biện pháp sinh đẻ kế hoạch.
-> Từ nhu cầu khám và điều trị thực tế của các khoa lâm sàng nói trên, dựa
trên danh mục thuốc thiết yếu 04 của Bộ Y tế, bệnh viện đã xây dụng danh mục
thuốc bệnh viện gồm những nhóm chính [13]:
+) Hormon, nội tiết, tránh thai: thuốc hỗ trợ sinh sản, thuốc tránh thai, thuốc
điều trị ung thư phụ khoa, các corticoid
+) Kháng sinh (chiếm từ 38, 4->38, 6% ngân sách thuốc) [22]: dùng rộng rãi
trong dự phòng phẫu thuật, chống nhiễm trùng cho phụ nữ sau đẻ thường có cắt, khâu
tầng sinh môn, các trường hợp nạo hút, điều trị các bệnh lí phụ khoa nhiễm trùng
+) Vitamin và các chất vô cơ: bổ xung vitamin và khoáng chất cho phụ nữ có
thai, cho con bú, bệnh nhân sau phẫu thuật
+) Thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm: gồm có thuốc giảm đau loại opi (chủ
yếu dùng trong phẫu thuật, thủ thuật), giảm đau hạ sốt chống viêm không steroid,
thuốc chống viêm, giảm phù nề loại enzym.
+) Các nhóm thuốc khác chủ yếu dùng trong nội trú như: thuốc có tác dụng
thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non; thuốc giãn cơ và tăng trương lực cơ;
thuốc gây tê, mê; thuốc chống dị ứng và dùng trong trường hợp quá mẫn; thuốc cấp
cứu và chống độc; thuốc hướng tâm thần; thuốc chống ung thư và tác động vào hệ
thống miễn dịch; máu, chế phẩm máu - thuốc cao phân tử; thuốc tim mạch; dịch
truyền
Đối tượng bệnh nhân của bệnh viện một phụ sản nói chung và của bệnh
viện PSHN nói riêng có đặc điểm đặc biệt là đại đa số là phụ nữ. Trong đó chiếm tỉ
lệ lớn là phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú - những đối tượng cần chú ý đặc biệt
trong việc sử dụng thuốc. Đối với phụ nữ có thai, tính an toàn trong sử dụng thuốc
phụ thuộc chủ yếu vào quyết định lựa chọn thuốc của bác sĩ điều trị, do đó cung cấp
thông tin cho bác sĩ về mức độ an toàn của thuốc với phụ nữ có thai là việc làm rất
quan trọng. Riêng với phụ nữ cho con bú thì ngoài việc lựa chọn thuóc điéu tiị, IIIỌI
vấn đề quan trọng khác là cung cấp thông tin hướng dẫn cách dùng thuốc cho mẹ để
giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi của thuốc đến con thông qua sữa mẹ.
hành với hơn 5000 thuốc trong nước và hem 4000 thuốc nước ngoài [3], [15].
Kiến thức về thuốc luôn luôn thay đổi. Khi các thuốc mới liên tục xuát hiện
trên thị trường, kinh nghiệm sử dụng các thuốc cũ cũng luôn được nâng cao, các tác
dụng phụ được biết rõ hom và các chỉ định mới của thuốc được áp dụng ngày càng
nhiều [10]; thì một câu hỏi được đặt ra là: Làm thế nào để có thể cập nhật các
thông tin mói vào điều trị?
Lúc này, người dược sĩ phải giúp các nhà điều trị học chọn được thuốc nào ít
phản ứng phụ, khả năng dung nạp tốt nhất để điều trị một bệnh cụ thể cho từng bệnh
nhân riêng biệt. Đồng thời phải giúp các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân cho
dùng đúng liều, đúng lúc, đúng cách nhất để phát huy hiệu lực tối ưu của thuốc,
tránh được các tương tác bất lợi và giúp cho bệnh nhân dễ dàng tuân thủ điều trị.
Bên cạnh đó người dược sĩ còn phải thông qua các phưofng tiện thông tin đại chúng
giáo dục về thuốc cho người dân, để nhân dân có hiểu biết về thuốc, có ý thức trong
việc tuân thủ điều trị, biết tự dùng thuốc trong giới hạn cho phép để điều trị các bệnh
thông thưòíig có hiệu quả, ít tốn kém nhất.
Chính sự phát triển của các thông tin thuốc, các dược sĩ thông tin thuốc, các
trung tâm thông tin thuốc là khỏi đầu của khái niệm Dược lâm sàng, đặt nền tảng để
các dược sĩ chia sẻ trách nhiệm với các bác sĩ trong việc đảm bảo sử dụng thuốc an
toàn hợp lí cho bệnh nhân [27],
1.2.1.2. Phân loại thông tìn thuốc
Có nhiều cách phân loại thông tin khác nhau, sau đây là một số cách phân
loại hay được áp dụng trong thông tin thuốc: [2], [3], [27].
❖ Phân loại thông tin thuốc theo đối tượng được thông tin.
- Thông tin cho cán bộ Y tế: cho cá nhân (bác sĩ, y tá, dươc sĩ ): cho môt tổ
chức (hội đồng thuốc và điều trị, bảo hiểm y tế )
- Thông tin cho người sử dụng: bệnh nhân, nhân dân (ngưòi tiêu dùng thuốc).
♦ĩ* Phân loại thông tin thuốc theo nội dung chuyên biệt của thông tin.
- Các thông tin liên quan đến đặc tính và cách sử dụng của thuốc: dạng bào
chế và sinh khả dụng; dược động học; dược lực học; đánh giá sử dụng, lựa chọn
thông tin thuốc, thông tin qua hội thảo, báo cáo khoa học, thông tin nói [10], [27].
Thông tin thuốc cho cán bộ dưói dạng tài liệu, quảng cáo thuốc phải có dòng
chữ “Tài liệu dành cho cán bộ y tế” [3], Lời lẽ và hình ảnh trong mọi thông tin thuốc
cho cán bộ y tế phải đúng vói các dữ liệu khoa học đã được thừa nhận, lời lẽ dễ đọc, dễ
hiểu.
Nội dung cơ bản của thông tin thuốc cho cán bộ y tế gồm có;
+) Các thông tin chung về thuốc: Cách phân loại thuốc (Theo danh mục thuốc
thiết yếu, danh mục thuốc độc, nghiện, hướng tâm thần, theo mã phân loại giải phẫu
- điều trị - hoá học (ATC), thuốc có hay không bắt buộc phải kê đơn, số đăng kí )
+) Tên hoạt chất theo tên quốc tế INN, tên gốc.
+) Tên thưcmg mại.
+) Dạng bào chế.
+) Hàm lượng, nồng độ hoạt chất trong một đơn vị thành phẩm.
+) Tác dụng và cơ chế tác dụng của thuốc.
+) Các đặc điểm dược động học.
+) Chỉ định điều trị.
+) Liều lượng và cách dùng.
+) Các tác dụng phụ, phản ứng có hại (ADR) và cách xử trí.
+) Chống chỉ định.
+) Các trường hợp thận trọng (dùng thuốc cho phụ nữ có thai, cho con bú,
bệnh nhân suy gan, suy thận )
+) Tương tác và tưoiig kỵ của thuốc.
+) Quá liều và cách xử lí.
+) Cách bảo quản (Nếu không có chỉ dẫn đặc biệt thì thông thường nên bảo
quản thuốc ở nơi thoáng mát, nhiệt độ phòng, tránh ánh sáng trực tiếp).
+) Thông tin về nhà sản xuất, các tài liệu khoa học tưofng ứng để chứng minh
❖ Yêu cầu và nội dung thông tin thuốc dành cho công chúng.
Khác với thông tin thuốc dành cho cán bộ y tế, thông tin thuốc cho công
chúng phải ngắn gọn, dễ hiểu, nội dung đơn giản, cố gắng tận dụng các phương tiện
thông tin có sẵn. Mục đích là nâng cao dân trí, giúp bệnh nhân hiểu rõ lợi ích cũng
90% bác sĩ đã tiếp xúc với trình dược viên và một bộ phận đáng kể dựa vào trình
dược viên để thu thập các thông tin về thuốc. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi
bác sĩ càng dựa nhiều vào nguồn thông tin thương mại thì họ càng có xu hướng kê
đơn không đúng mực [10], Trên thực tế, các thông tin thương mại vẫn có thể bổ ích
về nhiều mặt, đặc biệt là để biết hướng phát triển mói của thuốc. Nhưng khi sử dụng
nguồn thông tin này cần phải chú ý tuân theo một số nguyên tắc như:
- Không sử dụng thông tin thưcmg mại như nguồn thông tin duy nhất để cập
nhật kiến thức.
- Đối với thông tin thu được từ nguồn này cần phải được xác minh và so sánh
với các nguồn thông tin khách quan và nghiêm túc khác.
❖ Thứ hai là đối với công chúng: Ngày nay công chúng có thể tiếp xúc với
rất nhiều thông tin thuốc qua quảng cáo, hội chợ, tạp chí, tờ rơi Cần chú ý cảnh
giác với những led lẽ phóng đại như: thuốc này là biện pháp tốt nhất, hoàn toàn vô
hại, không cần ý kiến của thầy thuốc Không được tự ý sử dụng các thuốc cần có sự
kê đofn của bác sĩ và đặc biệt cần có ý thức trong tuân thủ điều trị khi có bệnh.
I.2.I.5. Hệ thống thông tin thuốc bệnh viện
Trong 9 lĩnh vực của chính sách thuốc quốc gia của chúng ta hiện nay thì lĩnh
vực đầu tiên là lựa chọn thuốc nhằm sử dụng thuốc an toàn, hợp lí, hiệu quả (hiệu
quả điều trị và hiệu quả kinh tế) [23]. Trong hệ thống bệnh viện, để thực hiện chính
sách quốc gia về thuốc, BYT đã chỉ đạo thành lập các hội đồng thuốc và điều trị mà
một trong các nhiệm vụ lớn là: “tổ chức đơn vị thuốc trong bệnh viện có nhân lực
đặc trách, có kinh phí hoạt động để quản lí cống tác thông tin về thuốc” [12]. Chính
đơn vị thông tin thuốc sẽ là chìa khoá trong nỗ lực tăng cường sử dụng thuốc an toàn
hợp lí tại bệnh viện cũng như hỗ trợ sử dụng thuốc an toàn hợp lí cho bệnh viện
tuyến dưới.
Về nhân lực: thông thường đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện do dược
sĩ đảm nhiệm, ngoài ra có thể có sự tham gia của BS, y tá, điều dưỡng tuỳ tình
hình bệnh viện [8]. WHO và nhiều nước thừa nhận vai trò then chốt của dược sĩ
trong công tác thông tin thuốc. Khi đó người dược sĩ phải nắm vững kiến thức sử
dụng thuốc an toàn hợp lí, có khả năng cập nhật, sàng lọc thông tin và truyền đạt
quản lưọfng thuốc đã được cấp phát. Những thông tin này không những cần được phổ
biến từ bệnh viện mà còn cần được phổ biến rộng rãi, thường xuyên qua các phương
tiện thông tin đại chúng.
Vụ điều trị đã bắt đầu xây dựng thí điểm đofn vị thông tin thuốc tại 4 bệnh
viện: Bạch Mai, TW Huế, Nhi Đồng I, Chợ Rẫy từ tháng 9/1998 đến tháng 5/1999.
Kết quả cho thấy, số lần thông tin về liều dùng chiếm cao nhất (162 lần), thứ hai là
thông tin tư vấn lựa chọn thuốc hoặc thay thuốc (119 lần), thứ ba là thông tin xử lí
thuốc quá liều (110 lần). Việc sử dụng thuốc an toàn hợp lí được tăng cường rõ rệt:
Ví dụ; ở bệnh viện Nhi Đồng I: tỉ lệ ghi đơn đúng là 95% (so với 60% khi chưa có
đơn vị thông tin thuốc), 95% bệnh nhân được theo dõi tổn thương thận khi dùng
aminosid (so với 50%). Kết quả còn cho thấy, sự kiên trì nỗ lực của đơn vị thông tin
đã đưa tới sự tín nhiệm của bác sĩ. Tất cả các khoa lâm sàng của Bạch Mai đều yêu
cầu cử dược sĩ lâm sàng xuống tư vấn sử dụng thuốc. Đây là một thành công không
thể lượng giá hết bằng số lần thông tin thuốc mà là thành công của việc thiết lập mối
quan hệ bác sĩ-dược sĩ trong sử dụng thuốc an toàn hợp lí, kinh tế cho người bệnh
[24]. Từ đó cũng cho thấy ý nghĩa to lớn của thông tin thuốc trong bệnh viện.
1.2.2. Thòng tin hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân
Bệnh nhân là khâu cuối cùng thực hiện các ý đồ sử dụng thuốc để đạt hiệu
quả cao và an toàn. Nếu bệnh nhân không thực hiện đúng y lệnh thì mọi cố gắng của
bác sĩ, dược sĩ, y tá đều thành vô ích, gây lãng phí cho gia đình bệnh nhân và cho
10
cả xã hội. Để thực hiện được đúng y lệnh, ngoài việc giáo dục ý thức cho bệnh nhân
(như đã nêu ở phần hệ thống thông tin thuốc trong bệnh viện) thì việc đầu tiên là
phải làm cho bệnh nhân nắm được y lệnh đó. Chính vì vậy, hướng dẫn sử dụng thuốc
cho bệnh nhân là một trong những nội dung quan trọng nhất của thông tin thuốc.
Để hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân đạt hiệu quả cao, ngoài những
nội dung chung (như đã nêu ở phần thông tin thuốc cho công chúng), cần đặc biệi
chú ý một số điểm sau:
1.2.2.1. Tương tác thuốc và hướng dẫn cách uống thuốc hợp lí
Trên thực tế, khi sử dụng thuốc ta có thể gặp các loại tưofng tác là; tương tác
lincomycin sau 2 giờ vẫn rất khó hấp thu.
❖ Tương tác thuốc - đồ uống
Trong mọi trường hợp, nước là đồ uống thích hợp nhất cho mọi loại thuốc vì
không xảy ra tưcmg kị khi hoà tan thuốc. Các ưu điểm khi dùng nước uống thuốc là:
- Làm hoạt chất dễ trôi xuống dạ dày, tránh ứ đọng ở thực quản gây kích ứng.
- Làm tăng độ tan của thuốc, giúp thuốc khuếch tán rộng và hấp thu tốt hofn.
- Lượng nước nhiều làm thuốc bài tiết nhanh qua thận do đó giảm được độc
tính của nhiều thuốc và tránh tạo sỏi thận (Ví dụ: với sulfamid).
Trong khi đó nhiều loại đồ uống khác có thể gây ảnh hưỏíig không tốt nếu
dùng uống thuốc như:
- Các loại nước khoáng kiềm, nước hoa quả, nước đóng hộp có gas có thế làm
hỏng thuốc hoặc gây hấp thu quá nhanh (dẫn đến ngộ độc với thuốc có phạm vi
điều trị hẹp).
- Sữa có chứa nhiều ion calci có thể tạo phức vói thuốc, lipid trong sữa có thể
hoà tan một số thuốc và giữ chúng lại, các hợp phần protein trong sữa có thể liên kết
với các thuốc có ái lực cao với protein. Các quá trình này gây cản trở hấp thu thuốc.
- Cà phê, chè làm tăng tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm ba vòng. Chè
chứa tanin gây tủa nhiều thuốc, cà phê có thể cản trở hấp thu các thuốc liệt thần
- Rượu có thể gây ra rất nhiều tác dụng có hại nếii dùng uống thuốc. Ví dụ: gây
thay đổi tâm tíhh ở bệnh nhân dùng benzodiazepm, tăng tác dụng phụ trên đường tiêu hoá
của NSAID
Như vậy về nguyên tắc cần hướng dẫn bệnh nhân dùng nước uóng ihuoc,
không dùng các loại đổ uống khác, lượng nước cần từ 100 - lOOml, trừ các trường
hợp đặc biệt chỉ cần từ 30 - 50ml như với: thuốc tẩy sán Niclosamid (do cần tạo
nồng độ thuốc đậm dặc quanh thân sán); viên bao tan trong ruột và viên bao giải
12
phóng kéo dài (uống nhiều nước có thể làm thuốc bị thải quá nhanh trước khi hấp
thu hết).
❖ Tương tác thuốc - thức ăn
Thức ăn làm thay đổi thời gian rỗng của dạ dày. Nếu uống thuốc lúc đới,
1.2.2.2. Hướng dẫn sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú.
Khi dùng thuốc cho phụ nữ cho con bú, nhiều thuốc có thể qua sữa và gây
ảnh hưởng tói trẻ (gây ngộ độc, ức chế phản xạ bú của trẻ, làm giảm tiết sữa). Do
đó, chỉ dùng những thuốc thực sự quan trọng cho mẹ với liều nhỏ nhất có tác dụng,
nên lựa chọn thuốc khó thấm vào sữa, thời gian đào thải nhanh để ít ảnh hưởng tới
con nhất.
Đối vói những thuốc phải chuyển hoá qua gan, thận mẹ, nếu mẹ có suy gan hoặc
thận cần chỉnh liều để tránh trường hợp tăng nồng độ thuốc trong sữa mẹ gây ngộ độc
cho mẹ.
Đối với các thuốc không cấm dùng, cần hướng dẫn người mẹ uống thuốc 15
phút sau khi cho con bú hoặc 3 - 4 giờ trước khi cho con bú để nồng độ thuốc trong
sữa thấp nhất khi cho con bú [8].
Trong điều trị ngắn ngày, có thể phải ngừng cho bú nếu thuốc gây ảnh hưởng
lófn đến trẻ. Khi đó cần hướng dẫn người mẹ giữ vững sự lên sữa bằng cách vắt sữa
đúng cữ bú; nhờ đó khi mẹ ngừng điều trị có thể tiếp tục cho con bú do việc nuôi
con bằng sữa mẹ có rất nhiều lợi ích (nghiên cứu mới đây tại Mĩ mới bổ sung thêm
tác dụng chống lại bệnh phổi ở trẻ của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Theo đó, trẻ
được bú ít nhất 6 tháng đầu tỉ lệ viêm phổi là 1,6%; nếu chỉ bú từ 4 - dưới 6 tháng tỉ
lệ này là 6, 5%, tỉ lệ viêm tai giữa cũng cao gấp đôi) [16].
14
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứ u
♦♦♦ Khảo sát mô hình thuốc kê cho bệnh nhân ngoại trú và chất lượng thông tin
hướng dẫn sử dụng thuốc trên đơn kê :
- Đơn ra viện trong tháng 1/2006 của bệnh nhân nội trú gồm 2 nhóm : 100
đơn ra viện sau đẻ thường và 100 đoíi ra viện sau phẫu thuật.
- Đoín điều trị của các bệnh nhân khám ngoại trú tại khoa khám bệnh của
bệnh viên trong tháng 1/2006 gồm 3 nhóm: 100 đơn sau khám thai, 100 đơn sau
khám phụ khoa, 100 đofn sau làm thủ thuật.
❖ Khảo sát chất lượng thông tin HDSD trong bán và cấp thuốc:
ihuõc đã được bán(cấp) theo bảng câu hỏi (phụ lục 4) và ghi ihòng lln thu đirơc vào
phiếu điểu Ira (phụ lục 5).
+) Phỏng vấn mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với HDSD thuốc của bác sĩ.
dược sĩ theo 3 mức; hài lòng, chấp nhận được, không hài lòng và ghi thòng lin Ihu
được vào phiếLi điều tra (phụ lục 5).
2.2.2. ("ách lây mẫu
*ĩ* lẨ y ìììàii fi'0H'<^ Ii^ỉiiên cúìt hồi cửu íì<)'ii ra việiì Ví) íìo’n k/iáiìì IIÍỊ<HIÌ Irú.
Chúng tối lấy mẫu theo phưưng pháp hẹ thòng:
Nhóm đơn
Số đơn
cần lấy
Số đơn lưu
của tháng
l/2(){)6
Sau dc
thirờng
ị 100
579
Sau phẫu
thuật
100
386
Sau khám
thai
100
i- ■ - -
■ - - ' ■ -
512
1
Cách 3/đ(ĩn lây 1 đơn đến khi đủ sô luựng.
Đcĩin đầu tiên lấy ngầu nhiên trone khcxmg lù' 1 - 7,
Cách 6 đưn láv I đcTn đẽn khi đu so lượng.
16
❖ Lấy mẫu trong các nghiên cứu mô tả cắt ngang:
- Trong khảo sát chất lượng thông tin HDSD thuốc của dược sĩ:
+) 100 trường hợp bán thuốc: Theo dõi liên tiếp các trường hợp bán thuốc của
dược sĩ tại nhà thuốc bệnh viện trong các buổi sáng của tuần 1, tuần 2 tháng 2/2006
đến khi đủ 100 trường hợp.
+) 100 trường hợp cấp thuốc: Theo dõi liên tiếp các trường hợp cấp thuốc của
dược sĩ cấp thuốc tại phòng phát thuốc bảo hiểm Y tế bệnh viện trong các buổi sáng
của tuần 3, tuần 4 tháng 2/2006 đến khi đủ 100 trường họfp.
- Để đánh giá mức độ nhận thức của bệnh nhân về cách sử dụng thuốc: Phỏng
vấn bệnh nhân mua thuốc trong các buổi chiều tuần 1, tuần2 tháng 2/2006; bệnh
nhân nhận thuốc cấp trong các buổi chiều tuần 3, tuần 4 tháng 2/2006 đến khi đủ
100 lượt bệnh nhân cho mỗi nhóm.
- Để đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân về HDSD thuốc của bác sĩ,
dược sĩ: Phỏng vấn bệnh nhân mua thuốc và nhận thuốc cấp trong các buổi sáng
tuần 1, tuần 2 tháng 3/2006 đến khi đủ 100 lượt bệnh nhân cho mỗi nhóm.
2.3. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ
❖ Tiêu chuẩn đánh giá đơn thuốc
Một đơn được đánh giá là:
- Kê đúng theo qui chế kê đofn thuốc theo tên gốc nếu tất cả các thuốc đofn
thành phần trong đơn đều được kê tên gốc.
- Có hướng dẫn đường dùng, liều dùng một lần, số lần dùng/ngày, thời điểm
dùng đầy đủ nếu có hưófng dẫn đúng các nội dung đó cho tất cả các thuốc trong đơn.
Chúng tôi lấy căn cứ là Dược thư quốc gia Việt Nam [6], nếu thuốc đó chưa được
giới thiệu trong Dược thư quốc gia thì căn cứ theo ASFH-drug information [28], nếu
là thuốc đa thành phần thì căn cứ theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
+ Nếu liều một lần (hoặc số lần dùng một ngày) trong đơn không phù hợp với
cứ là Dược thư quốc gia Việt Nam, nếu thuốc đó chưa được giới thiệu trong Dược
thư quốc gia thì căn cứ theo ASFH-drug information, nếu là thuốc đa thành phần thì
căn cứ theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
2.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH số LIỆU
- Sử dụng phần mềm EPI INFO 6.0 để tổng hợp và phân tích số liệu.
- Sử dụng phần mềm MIMS INTERACTIVE để tìm tương tác có V nghĩa
trong đơn và cách hướng dẫn thời điểm uống tránh tương tác.
2.5. THỜI GIAN THựC HIỆN
Từ tháng 1 đến hết tháng 4 năm 2006.
2.6. ĐỊA ĐIỂM THựC HIỆN
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
18
PHẨN 3
KẾT QUẲ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN
3.1. MÔ HÌNH BỆNH TẬT CỦA BỆNH VIỆN PSHN
Nghiên cứu về mô hình bệnh tật của một bệnh viện sẽ cho chúng ta cái nhìn
khái quát về đặc điểm, chức năng, chuyên môn của bệnh viện đó cũng như cái nh'm
khái quát về nhũng vấh đề liên quan đến thuốc và cách dùng thuốc trong bệnh viện.
Chính vì vậy tuy không nằm trong mục tiêu nghiên cứu nhưng chúng tôi vẫn đưa ra kết
quả khảo sát mô hình bệnh tật của bệnh viện PSHN trong 3 năm gần đây (2003-2005):
Theo số liệu từ phòng Kế hoạch tổng hợp, các hồ sơ bệnh án phụ khoa và sản
khoa được phân loại quản lí theo hơn 30 mã bệnh khác nhau, tuy nhiên để dễ theo
dõi những nét khái quát về mô hình bệnh tật của bệnh viện PSHN, chúng tôi gộp
một số mã bệnh thuộc cùng nhóm bệnh theo bảng phân loại quốc tế bệnh tật [11]
thành một nhóm.
3.1.1. Sản khoa
Bảng 1: Mô hình bệnh tật sản khoa tại bệnh viện PSHN.
STT
Tên bệnh
Năm 2003 Năm 2004
291
1,6
6 Rau tiền đạo +
nhiễm đôc thai
103 0,6
139 0,8 162 0,9
7 Nhiễm trùng
Sốt, Chảy máu
90
0,5 66 0,4 60 0,3
8
Thai luu sản khoa
551
3, 2
777
4, 5
440
2. 4
9
Sảy thai tự nhiên.
132 0,7
143 0, 8 140
0, 8
10
Trường hợp khác
752
4,3 685
3,9
799 4,4
Tổng
5,0 111
3,5
3
Thai lưu phụ khoa
24 0,8 46 1,3 25 0,8
4 Sảy thai khác
95 3,2
96 2,7 89 2,8
5
Nạo kiểm tra buồng
tử cung
72 2,4 101 2.8 56
1. 8
6
u tử cung, u buồng
trứng
1107 36,8
1323
36,9
1221 38,6
7
Biêh đổi không do viêm
đường sinh dục nữ
212
7 ,0 242 6 ,7
217
6, 9
8
Viêm cơ quan sinh
dục vùng chậu nữ
11,6
421 11,7
399 12,6
Tổng
3001
100 3589
100
3165
100
Kết quả cho thấy:
20
Số lượng bệnh nhân tăng không nhiều như khối sản khoa và tăng không đều
(năm 2005 tổng số ca giảm so với năm 2004). Trong đó, số bệnh nhân có khối u (u
tử cung, u^ụồng trứng) chiếm đa số (36, 8->38, 6%) và có xu hướng tăng dần qua
các nămi Teo ághiên cứu tại bệnh viện Bà mẹ trẻ sơ sinh trong 3 năm 1994 - 1996
thì các khối ú buồng trứng có tỉ lệ cao ở phụ nữ quanh và sau mãn kinh [18].
3.1.3. Sơ sinh (hay chu sinh)
Bảng 3: Mô hình bênh tật sơ sinh tại bệnh viện PSHN.
S'1T Tên bệnh
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Sô' ca
% Số ca %
So ca
1
‘/6
Phần sơ sinh
1 Đẻ non
1271 34,2
3, 1
110 2. 6
7
Dị dạng bẩm sinh
329 8,9 350 8,9 377
9,0
8
Trường hợp khác 352 9 ,4 386 9 ,8 389 9 ,2
9
Tổng 3716 100 3939 100 4210 100
■i^í-
Nhận xét:
- Qua bảng trên ta nhận thấy số liệu trẻ đẻ non lớn hơn rất nhiều số liệu các
ca đẻ non của phần sản khoa. Sở dĩ như vậy là vì phần sản khoa bệnh viện chỉ theo
dõi các ca đẻ non mà sản phụ có dấu hiệu đẻ non và đã nhập viện để điều trị. Còn
phần trong sơ sinh bệnh viện theo dõi tất cả các ca đẻ thường, mổ đẻ hay đẻ có dùng
thủ thuật mà trẻ đẻ ra là non tháng.
21