TRƯ
PHÂN TÍCH HO
CÓ HẠI C
Ủ
ĐA KHOA TUY
KHÓA LU BỘ Y TẾ
TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ N
Ộ
TRẦN THỊ TÚ ANH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ TÚ ANH
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG
CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TUYẾN TỈNH GIAI ĐOẠN 2010-2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Chân thành cảm ơn những người bạn của tôi vì những ngày tháng sát cánh
cùng tôi vượt qua khó khăn khi thực hiện đề tài. Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất dành cho gia đình của tôi, những người thân yêu đã luôn quan tâm,
tin tưởng, động viên và chăm sóc tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Tú Anh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN……………………………………………………….3
1.1. Cảnh giác Dược và phản ứng có hại của thuốc 3
1.1.1. Hệ thống Cảnh giác Dược trong bệnh viện 3
1.1.2.Phản ứng có hại của thuốc 9
3.1.2. Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 25
3.1.3. Thông tin về ADR 28
3.1.4. Đánh giá chất lượng báo cáo 29
3.2 Đánh giá tác động của một số can thiệp tới công tác báo cáo ADR tại 3
bệnh viện 32
3.2.1.Thông tin về báo cáo 32
3.2.2.Đánh giá chất lượng báo cáo …………………………………………….36
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 38
4.1.Bàn luận về hoạt động báo cáo ADR của 3 bệnh viện giai đoạn 2010-2012
38
4.2. Đánh giá tác động của một số can thiệp tới hoạt động báo cáo ADR của 3
bệnh viện 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADR :
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)
BVĐN :
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1
Bảng 3.1.Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân
nội trú giai đoạn 2010-2012
22
2
Bảng 3.2.Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn 2010-
2012
23
3 Bảng 3.3.Đối tượng tham gia báo cáo ADR giai đoạn 2010 - 2012 24
4 Bảng 3.4.Các khoa phòng tham gia báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 25
5 Bảng 3.5. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng 25
6 Bảng 3.6.Các họ dược lí được báo cáo nhiều nhất 26
7 Bảng 3.7. Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất 27
8
Bảng 3.8. Phân loại báo cáo ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh
hưởng
28
9 Bảng 3.9. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc - ADR 29
10
Bảng 3.10 . Điểm chất lượng báo cáo trung bình giai đoạn 2010-
2012
30
11
Bảng 3.11. Tỷ lệ các thông tin bị thiếu /không hợp lí trong báo cáo
ADR
1 Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR 10
2 Hình 2.1.Sơ đồ tóm tắt các chỉ tiêu nghiên cứu 19
3 Hình 3.1.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 24
4
Hình 3.2. Tỉ lệ báo cáo có chất lượng tốt tại 3 bệnh viện giai đoạn 2010
- 2012
31
5 Hình 3.3.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo 2 giai đoạn 34
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự tiến bộ của Y học và ngành công nghệ dược phẩm đã mang lại rất nhiều
lợi ích trong phòng ngừa và điều trị bệnh. Bên cạnh đó vẫn tồn tại mặt trái của
thuốc - phản ứng có hại của thuốc, gây ra bất lợi cho quá trình điều trị, để lại dị tật
nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho người dùng thuốc.Do đó công tác Cảnh
giác Dược luôn được các nước trên thế giới cũng như Việt Nam coi trọng.Việc giám
sát ADR trong bệnh viện không chỉ giúp các cán bộ y tếkịp thời xử trí từng tình
huống cụ thể cho bệnh nhân, mà thông tin về ADR khi được gửi về trung tâm
DI&ADR Quốc gia còn có thể đóng góp vào dữ liệu của hệthống Cảnh giác dược
Quốc gia, từ đógiúp phân tích các tín hiệu an toàn thuốc phản hồi cho cơ quan quản
lí, hệ thống điều trị,cộng đồng, đảm bảo việcsử dụng thuốc hợp lý, an toàn.
Trong các phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo dõi ADR đang áp
dụng trong Cảnh giác dược, báo cáo ADR tự nguyện hiện là phương pháp được áp
dụng phổ biến nhất. Hệ thống này được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới do
- Khảo sát hoạt động báo cáoADR của một số bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh
thông qua số lượng và chất lượng báo cáo ADR giai đoạn 2010 -2012.
- Đánh giá tác động của một số can thiệp tới hoạt động báo cáo ADR của các
bệnh viện trên. 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN
1.1.Cảnh giác Dược và phản ứng có hại của thuốc
1.1.1.Hệ thống Cảnh giác Dược trong bệnh viện
1.1.1.1.Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dược
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “Cảnh giác Dược là khoa học và
các tác động liên quan đến phát hiện, đánh giá, hiểu biết và phòng tránh các phản
ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reactions – ADR) và các vấn đề liên quan đến
quá trình sử dụng thuốc” [44],[47].
Mục tiêu của Cảnh giác Dược là:
- Cải thiện việc chăm sóc bệnh nhân và an toàn liên quan đến việc sử dụng
các loại thuốc điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh.
của thuốc, một số văn bản tài liệu là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho việc khuyến
khích công tác thực hiện báo cáo của cán bộ y tế đã được ban hành. Những cơ sở
pháp lý này đã góp phần tăng cường số lượng và chất lượng báo cáo ADR. Một số
văn bản pháp quy phục vụ cho công tác Cảnh giác Dược tại Việt Nam được liệt kê
sau đây:
Luật Dược Việt Nam - Điều 51 của Luật quy định:
“Cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ, nhân viên y tế có trách nhiệm theo dõi và
báo cáo cho người phụ trách cơ sở, cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc về các
phản ứng có hại của thuốc”
“Trong quá trình lưu hành thuốc, cơ sở sản xuất, phân phối thuốc phải theo
dõi, báo cáo cho người phụ trách cơ sở và cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc các
phản ứng có hại của thuốc do cơ sở mình sản xuất, phân phối”
“Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức hệ thống thông tin thuốc và theo
dõi phản ứng có hại của thuốc nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn
cho nhân dân, quy định về hoạt động thông tin thuốc tại các cơ sở.”[10]
Thông tư 23/2011/TT-BYT quy định:
“Thầy thuốc phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho điều
dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh (hoặc gia đình người bệnh). Theo dõi đáp
ứng của người bệnh khi dùng thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc.
Báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa Dược ngay khi xảy ra.” 5
“Khoa Dược làm đầu mối trình Lãnh đạo bệnh viện báo cáo phản ứng có hại
của thuốc và gửi về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng
có hại của thuốc ngay sau khi xử lý.”
“Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời
các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc.”[5]
Thông tư 21/2013/TT-BYT cũng quy định một trong những nhiệm vụ của
Việc giám sát phản ứng có hại của thuốc gồm các bước: phát hiện, xử trí,
đánh giá, báo cáo và dự phòng ADR [2],[45].
Phát hiện ADR
Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên trong bệnh viện có trách nhiệm
theo dõi và phát hiện những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường trên
người bệnh, thông báo cho bác sĩ điều trị và khoa Dược, ghi lại các thông tin liên
quan tới thuốc mà người bệnh đã sử dụng.
Bác sĩ phát hiện và ghi nhận những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất
thường của bệnh nhân vào bệnh án; kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế bệnh nhân
đã sử dụng; kiểm tra chất lượng mẫu thuốc lưu lại về cảm quan; kiểm tra tính hợp lý
trong sử dụng thuốc như: tình trạng bệnh lý, liều dùng, tiền sử dị ứng và thời điểm
dùng thuốc có phù hợp với thời điểm xuất hiện ADR không.
Trong quá trình hoạt động chuyên môn, thông qua giám sát sử dụng thuốc
trong bệnh án hoặc duyệt thuốc tại Khoa Dược, dược sĩ phát hiện ADR dựa trên các
thuốc chỉ điểm để xử trí phản ứng có hại của thuốc, biểu hiện lâm sàng và kết quả
xét nghiệm cận lâm sàng bất thường. Ưu tiên xem xét bệnh án các đối tượng đặc
biệt, sử dụng thuốc có nguy cơ cao xảy ra ADR[2].
Xử trí ADR
Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên thực hiện xử trí ADR theo đúng y lệnh
của bác sĩ; theo dõi bệnh nhân và thông báo kịp thời cho bác sĩ điều trị nếu có diễn
biến bất thường. Trường hợp khẩn cấp có thể ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ gây
ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh trước khi thông báo cho bác sĩ.
Bác sĩ có nhiệm vụ đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định
hướng xử trí lâm sàng phù hợp: giảm liều hoặc ngừng thuốc nghi ngờ gây ADR, kịp 7
thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ, đảm bảo chức năng
sống còn cho người bệnh, thực hiện theo các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có
liên quan nếu việc xử trí ADR thuộc phạm vi các hướng dẫn đó. Trường hợp cần
thiết, có thể liên hệ với các cơ quan, bệnh viện khác hoặc cơ quan quản lý để tìm
hiểu thông tin về ADR tương tự, hoặc gửi mẫu thuốc đi kiểm tra chất lượng[2],[45].
Báo cáo ADR
Người trực tiếp viết báo cáo ADR có thể là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên,
hộ sinh, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác, sử dụng mẫu báo cáo do Bộ Y tế
quy định.
Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cần xây dựng hệ thống giám sát, theo
dõi, điều tra và báo cáo ADR ngay trong bệnh viện, bất kì phát hiện nghiêm trọng
nào cũng cần phải báo cáo với cơ quan quản lý dược phẩm quốc gia và/hoặc với nhà
sản xuất.
Báo cáo cần được gửi trong thời gian sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản
ứng, ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ. Có thể bổ sung báo cáo nếu thu
thập được thêm thông tin[2],[45].
Dự phòng
Hội đồng Thuốc và Điều trị có thể tăng cường việc sử dụng thuốc an toàn và
dự phòng các trường hợp ADR thông qua xây dựng quy trình báo cáo ADR trong
bệnh viện và xây dựng danh mục các thuốc có nguy cơ cao cần giám sát. Bên cạnh
đó, hội đồng cần tổ chức thảo luận để đưa ra hướng xử trí và đề xuất biện pháp dự
phòng trong trường hợp xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng. Một hoạt động
khác cần được quan tâm là tổ chức tập huấn cho nhân viên y tế về kỹ năng phát
hiện, xử trí ADR và kỹ năng điền báo cáo ADR đúng và đầy đủ thông tin. Định kỳ
tổng kết công tác báo cáo ADR trong bệnh viện, từ đó sử dụng thông tin an toàn
thuốc thu được để cập nhật, sửa đổi danh mục thuốc của bệnh viện, các hướng dẫn
điều trị, quy trình chuyên môn trong bệnh viện.
Khoa Dược, Đơn vị Thông tin Thuốc của bệnh viện cần cập nhật thông tin về
an toàn thuốc; gửi đến cán bộ y tế và người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh; giám sát chất lượng trước khi cấp phát thuốc về các khoa phòng; hướng dẫn
và hỗ trợ cán bộ y tế trong công tác báo cáo ADR.
10
trung chủ yếu vào nghiên cứu dịch tễ các biến cố bất lợi (adverse event) hay các
phản ứng có hại của thuốc.
Các phương pháp trong y tế công cộng đã được sử dụng để phát hiện những
dấu hiệu mới có thể xảy ra của các ADR. Nghiên cứu trong dịch tễ dược học thường
thuộc các dạng “hình thành giả thuyết” (hypothesis-generation) hoặc “kiểm định giả
thuyết” (hypothesis-testing) hoặc kết hợp 2 loại trên. Nghiên cứu phát hiện giả
thuyết được tiến hành trên các thuốc mới nhằm mục đích phát hiện các ADR không
mong muốn. Trong khi đó, nghiên cứu kiểm định giả thuyết lại được thiết kế để
chứng minh một nghi ngờ nào đó là đúng hay sai[39].
Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR [39].
Các phương
pháp giám
sát ADR
Các phương pháp
giám sát thụ động
Hình thành giả
thuyết
Các phương pháp
giám sát tích cực
Kiểm định giả
thuyết
Báo cáo tự nguyện
Báo cáo tự nguyện
có chủ đích
Giám sát trọng
điểm
Hồ sơ đăng ký
thống báo cáo tự nguyện cho phép bác sĩ, dược sĩ, và bệnh nhân báo cáo các ADR
nghi ngờ cho các trung tâm Cảnh giác Dược và/ hoặc các trung tâm theo dõi ADR.
Nhiệm vụ của các trung tâm này là thu thập và phân tích báo cáo để thông báo cho
các đối tác liên quan về nguy cơ tiềm ẩn khi các dấu hiệu của ADR xuất hiện. Báo
cáo tự nguyện cũng được các nhà sản xuất dược phẩm áp dụng để thu thập thông tin
về sản phẩm của mình. Như vậy, hệ thống báo cáo tự nguyện có thể theo dõi tất cả
các thuốc trên thị trường trong suốt vòng đời của chúng với chí phí tương đối thấp so
với các phương pháp khác[27]. 12
Hệ thống báo cáo ADR tự nguyện đã được triển khai tại hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Ở mỗi quốc gia, hoạt động này được tiến hành bởi một hoặc một số
trung tâm Cảnh giác Dược dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý thuốc quốc gia. Một
số quốc gia có hoạt động cảnh giác dược phát triển còncó các trung tâm khu vực
hoạt động như một cơ sở tại địa phương để tiếp nhận, xử lý báo cáo ADR, hỗ trợ
trong việc báo cáo và truyền thông giáo dục về sử dụng thuốc hợp lí an toàn cho cán
bộ y tế và cộng đồng. Tại Pháp, cả nước có tổng cộng 31 trung tâm được xây dựng
với các hoạt động nói trên. Tuy nhiên tại Anh, các trung tâm khu vực chỉ được xây
dựng ở một số địa phương [35].
1.2.2. Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện
Những ưu điểm của báo cáo tự nguyện
- Cơ cấu đơn giản, chi phí thực hiện thấp hơn so với các phương pháp theo
dõi ADR khác.
- Ngoài việc xác định các mối nguy hiểm của các loại thuốc mới,hệ thống
báo cáo tự nguyện còn phân loại được các đặc điểm lâm sàng của nhiều phản ứng
phát hiện bằng các phương tiện khác.
- Phạm vi áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc, tất cả các thời điểm, với số
lượng dân số lớn, không phân biệt các đối tượng, áp dụng được cho cả bệnh nhân
nội trú và ngoại trú.
của hệ thống báo cáo ADR tự nguyện ở khắp nơi trên thế giới[28],[30].
Vấn đề quản lý chất lượng nói chung đã được đưa ra thảo luận từ nhiều năm
nay và đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng của Cảnh giác Dược và Dịch tễ Dược
học. Một số công cụ đã được đề xuất để đánh giá chất lượng các báo cáo tự nguyện
về phản ứng có hại của thuốc, trong đó các phương pháp được đề xuất bởi Tổ chức
Y tế Thế giới và Trung tâm giám sát UMC (Uppsala Monitoring Center) được sử
dụng rộng rãi nhất với các phiên bản được đề xuất vào các năm 1996, 2012 và 2013.
Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có cách thức thẩm định, xây dựng cũng như lựa chọn
các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tự nguyện riêng phù hợp với cơ cấu,
quy mô của trung tâm Cảnh giác Dược và phù hợp với mô hình, đặc điểm ADR của
từng quốc gia [23],[34]. 14
Năm 2012 trung tâm WHO-UMC đã đề xuất phương pháp nhằm đánh giá
chất lượng nội dung thông tin trong báo cáo, tuy nhiên phương pháp này vẫn có
những hạn chế nhất định[48]. Năm 2013 trung tâm WHO-UMC tiếp tục đề xuất
phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo mang tên VigiGrade, so với phương pháp
năm 2012, vigiGrade thể hiện những điểm mạnh nhất định về mức độ toàn diện, sự
đơn giản trong cách tính toán và tính ứng dụng cao[11]. Trong nghiên cứu này,
phương pháp vigiGrade đã được sử dụng để đánh giá chất lượng báo cáo ADR.
Trong phương pháp vigiGrade, sự đầy đủ và phù hợp của thông tin trong báo
cáo vẫn đóng vai trò quan trọng như phương pháp đánh giá được đề xuất bởi trung
tâm WHO-UMC năm 2012 nhưng có sự mở rộng số lượng tiêu chí. Một thuật toán
cũng được sử dụng để tính điểm báo cáo bằng cách gán trọng số với trường dữ liệu cụ
thể trong báo cáo. Điểm xuất phát cho mỗi trường dữ liệu trong báo cáo là 1, căn cứ
theo mức độ đầy đủ và phù hợp của thông tin trong trường dữ liệu này, điểm số sẽ
được giảm đi tương ứng với trọng số (Cách đánh giá chi tiết xin xem phụ lục 2) [40].
Phương pháp có ưu điểm là đã bổ sung được một trường thông tin quan trọng
liên quan đến liều sử dụng của thuốc nghi ngờ và cách tính điểm đơn giản hơn so
liên hệ dễ dàng và nhanh chóng hơn cũng đã được đề xuất từ các kết quả nghiên
cứu.Các cách báo cáo đề nghị để thực hiện báo cáo ADR bao gồm: điện thoại, fax
hoặc công nghệ thông tin trên internet (web trên toàn thế giới hoặc e-mail),hay để
tạo thuận lợi cũng như nhắc nhở nhân viên y tế làm báo cáoADR như poster,
leaflet[41].
Gửi phản hồi chi tiết kết quả thẩm định mối quan hệ nhân quả giữa thuốc-
ADR cũng như cung cấp các thông tin liên quan đến phản ứng cho các bác sĩ đã
thực hiện báo cáo hoặc thông qua hoạt động tư vấn của đơn vị Thông tin thuốc khi
xảy ra ADR trên người bệnhlà các biện pháp đã chothấy hiệu quả làm tăng số lượng
báo cáo ADR được gửi đi [42]. Xuất bản định kỳbản tin thông tin thuốc/ADR trong
đó tóm tắt các báo cáo ADR xảy ra tại bệnh viện,tổ chức hội chẩn và giao ban
chuyên môn về các trường hợp đặc biệt theo sự quan tâm của từng chuyên khoa
cũng là những biện pháp giúp tăng cường hoạt động báo cáo ADR[41].
1.2.4.3. Phát triển hoạt động thông tin và hỗ trợ cho báo cáo ADR 16
Tạo điều kiện cung cấp thông tin và hỗ trợ khi có nghi ngờ về ADR trên từng
người bệnh cụ thể là một biện pháp được đề xuất bởi một số bác sĩ. Theo đó dược sĩ
hoặc cán bộ cảnh giác dược trong bệnh việncó thể cung cấp thông tin liên quan đến
phản ứng đã được báo cáo, đưa ra ý kiến tư vấn chuyên môn về điều trị và sử dụng
thuốc đồng thời cung cấp kết quả đánh giá mối quan hệ nhân quả và nguyên nhân
gây ADR[41].
Thông tin liên quan đến ADR có thể được gửi đến cho người báo cáo qua thư
hoặc thưđiện tử. Việc gửi email bao gồm thông tin về ADR cho cán bộ y tế cũng
giúp tăng tỷ lệ báo cáo. Phương pháp này có tính khả thi cao do ít tốn kém,dễthực
hiện và quản lý, tuy nhiên vẫn có hạn chế liên quan đến thói quen chung của cán bộ
y tế chỉ đọc lướt thưđiện tử [31].
1.3.Một vài nét vềdự án “Hỗ trợ hệ thống Y tế” -Hợp phần 2.1 "Tăng cường
- Biên soạn tài liệu đào tạo để trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên môn về
Cảnh giác Dược, đào tạo kỹ năng thực hành tại cơ sở: theo dõi, báo cáo ADR, giám
sát và đánh giá các hoạt động CGD và an toàn thuốc cho cán bộ y tế các tuyến.
- Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức và kỹ năng Cảnh giác Dược cho cán bộ
y tế tại 31 tỉnh/thành phố và 29 bệnh viện trọng điểm.
- Tăng cường các hoạt động trao đổi, phản hồi thông tin về báo cáo ADR tới
cán bộ y tế và cơ sở khám, chữa bệnh tham gia báo cáo: phản hồi cho cán bộ y tế
tham gia báo cáo, báo cáo tình hình phản ứng có hại hàng quý và báo cáo tổng kết
năm gửi tới hơn 1000 bệnh viện và Sở Y tế trong cả nước, phát hành bản tin Cảnh
giác Dược, tờ rơi, tờ gấp về sử dụng thuốc hợp lý an toàn [4],[18].
Trong giai đoạn 1 (2012-2013) các mục tiêu đề ra của dự án, các chỉ số
chính bao gồm số lượng báo cáo ADR và tỉ lệ số báo cáo ADR được thẩm định và
phản hồi đã được hoàn thành vượt mức đã cam kết. Đây là lý do Nhà tài trợ tiếp tục
hỗ trợ dự án triển khai các hoạt động trong giai đoạn 2 (2014-2016). Kết quả của dự
án giai đoạn 1 đã góp phần tích cực trong việc xây dựng hệ thống Cảnh giác Dược
tại Việt Nam, (1) tăng cường năng lực của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc
và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc, (2) xây dựng hệ thống báo cáo tự nguyện
phản ứng có hại của thuốc, (3) xây dựng và phát triển chương trình theo dõi tích cực
hay giám sát chủ động biến cố bất lợi trong các chương trình mục tiêu Quốc gia, (4)