BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Luật tài chính
PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA
CÔNG CHÚNG
Người hướng dẫn : Thạc sỹ Nguyễn Minh Hằng
Người thực hiện: Lê Kim Dung
Hà Nội 2007
Lời nói đầu:
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hai năm trở lại đây phát triển hết sức mạnh mẽ.
Hoạt động chào bán ra công chúng là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng
khoán diễn ra sôi động. Trong đó chào bán cổ phiếu ra công chúng thu hút được nhiều sự
quan tâm chú ý của không chỉ các nhà đầu tư mà của toàn xã hội
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3. Phương pháp nghiên cứu:
4. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm các phần sau đây:
Phần mở đầu:
Phần nội dung:
Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng
Chương II : Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về chào bán cổ phần ra công chúng:
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần ra công
chúng
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
2
Chương I
VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHÀO BÁN
CỔ PHẦN RA CÔNG CHÚNG
pháp của một chủ thể đối với một công ty cổ phần đã phát hành ra cổ phiếu
đó. Khi nói một người sở hữu cổ phiếu của một công ty tương đương với
người đó sở hữu cổ phần của chính công ty đó.
• Đặc điểm của cổ phiếu
Thứ nhất: Cổ phiếu có tính thanh khoản cao, nghĩa là khả năng chuyển
hóa thành tiền dễ dàng. Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua cổ phiếu của một công ty
sau đó dễ dàng bán đi để thu lại tiền đã đầu tư. Tuy nhiên tính thanh khoản
của cổ phiếu phụ thuộc vào hai yếu tố:
Một là, kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu
( hay còn gọi là tổ chức phát hành ). Nếu tổ chức phát hành có kết quả kinh
doanh tốt, thu được lợi nhuận cao , trả cổ tức cao sẽ thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà đầu tư, khiến cổ phiếu của công ty có thể dễ dàng được
mua bán trao đổi. Ngược lại, nếu tổ chức phát hành kinh doanh kém hiệu
quả dẫn đến tình trạng thua lỗ, nợ nần thì các nhà đầu tư không dám mạo
hiểm bỏ vốn mua cổ phần của công ty, dẫn đến cổ phiếu của công ty đó có
tính thanh khoản thấp.
4
Hai là, quan hệ cung cầu trên thị trường cổ phiếu và thị trường chứng
khoán.Thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường mua bán các loại hàng
hóa khác đều chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường đặc biệt là quy
luật cung cầu. Giá của cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân tổ chức phát hành mà còn
phụ thuộc vào nhu cầu của nhà đầu tư. Điều này đặc biệt dễ nhận thấy khi
thị trường chứng khoán gặp biến động mạnh, các nhà đầu tư theo tâm lý
chung sợ mất tiền nên ồ ạt bán ra cổ phiếu. Cổ phiếu lúc này tràn ngập thị
trường tạo nên nguồn cung quá lớn trong khi số lượng nhà đầu tư muốn mua
vào quá ít, tính thanh khoản của cổ phiếu lúc này hạ xuống còn rất thấp.
Ngược lại khi thị trường cổ phiếu khan hiếm hàng hóa, nhu cầu của các nhà
đầu tư rất lớn thì ngay cả những cổ phiếu có chất lượng thấp cũng dễ dàng
bán được giá cao.
Cổ phiếu ký danh: Là loại cổ phiếu có ghi rõ tên chủ sở hữu cổ phiếu trên
cổ phiếu, cổ phiếu này bắt buộc ở dạng chứng chỉ. Đặc điểm ký danh của cổ
phiếu khiến cho cổ phiếu có độ an toàn cao nhưng đem lại sự bất tiện trong
chuyển nhượng cổ phiếu vì đòi hỏi thủ tục phức tạp hơn so với cổ phiếu vô
danh.
Cổ phiếu ký danh: Cổ phiếu vô danh cũng ở dạng chứng chỉ nhưng không
ghi tên người sở hữu cổ phiếu trên đó. Người giữ trong tay cổ phiếu được
coi là chủ sở hữu cổ phiếu. Thủ tục chuyển nhượng cổ phiếu loại này rất
đơn giản, chỉ là mua bán trao tay.
Bút toán ghi sổ và chứng chỉ điện tử: Cổ phiếu này không ở dạng chứng chỉ
và người sở hữu cổ phiếu không nắm giữ cổ phiếu trong tay. Cổ phiếu ở
6
dạng bút toán ghi sổ ngày càng phổ biến vì có độ an toàn cao và đem lại
nhiều tiện lợi cho người sở hữu và tổ chức phát hành.
I.1.2 Phân loại cổ phần
Cổ phần được chia thành hai nhóm là cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông.
Mỗi loại cổ phần khác nhau mang lại cho người sở hữu những quyền và lợi
ích nhất định. Khả năng chuyển tự so chuyển nhượng cổ phần cũng tùy
thuộc từng loại cổ phần.
• Cổ phần phổ thông
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần phổ biến nhất và bắt buộc phải có đối với
công ty cổ phần. Tỷ lệ của giá trị vốn cổ phần phổ thông trên tổng giá trị vốn
cổ phần của công ty do điều lệ công ty quyết định. Người sở hữu cổ phần
phổ thông là cổ đông phổ thông. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm
giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty
trong tối thiểu ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông gồm: Tham gia Đại hội
đồng cổ đông và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội
đồng. Cổ đông được chia cổ tức khi công ty làm ăn có lãi. Khi công ty giả
quyền nắm giữ có hiệu lực vô thời hạn. Mục đích của cổ phần ưu đãi biểu
quyết là để bảo vệ quyền lợi cho cổ đông sáng lập trong thời gian hợp lý vừa
đủ để duy trì sự ổn định của công ty mà không hạn chế quyền của các cổ
đông khác; và duy trì quyền kiểm soát của Nhà nước đối với những công ty
8
cổ phần hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề quan trọng cần sự định hướng
của Nhà nước.
Cổ phần ưu đãi cổ tức: Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ
tức cao hơn mức trả cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng
năm. Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ
tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và phương
thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ
tức. Mục đích của cổ phần ưu đãi cổ tức là thu hút vốn điều lệ bằng tỷ lệ lợi
nhuận cao trên mỗi cổ phần, tuy nhiên cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức
không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, để cử người vào
Ban kiểm soát. Điều kiện này để dung hòa quyền và nghĩa vụ của cổ đông
nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức bằng cách không cho họ tham gia vào hoạt
động quản trị công ty.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ
khi nào theo yêu cầu của chủ sở hữu cổ phần hoặc theo các điều kiện ghi tại
cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi hoàn lại có lợi thế
về bảo toàn vốn nhưng cũng như cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức họ
không có quyền can thiệp vào các quyết định của công ty.
Cổ phần ưu đãi khác do công ty quy định: Ngoài các loại cổ phần ưu đãi nói
trên, tự công ty cổ phần có thể đưa ra thêm những loại cổ phần ưu đãi khác
để thu hút nhà đầu tư.
I.2 Chào bán cổ phần ra công chúng
I.2.1 Định nghĩa
Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP định nghĩa phát hành chứng
khoán ra công chúng là việc chào bán một lượng chứng khoán có thể chuyển
10
Trong hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng, tổ chức phát hành và nhà
đầu tư không trực tiếp liên hệ với nhau mà bắt buộc phải qua trung gian là
công ty chứng khoán thực hiện tổ chức đấu giá cổ phần hoặc công ty chứng
khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho doanh nghiệp. Tổ chức
phát hành không được phép tự mình bán cổ phiếu cho nhà đầu tư mà buộc
phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu
tư.
• Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
Cũng như hoạt động chào bán cổ phần nói chung chào bán cổ phần ra công
chúng là hoạt động thu hút đầu tư, tạo lập vốn điều lệ ban đầu hoặc tăng qui
mô vốn điều lệ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, ưu
điểm của chào bán cổ phần so với các hình thức huy động vốn khác như vay
vốn từ tổ chức tín dụng hay phát hành trái phiếu công ty là khoản thu được
từ chào bán cổ phiếu không cấu thành một khoản nợ mà công ty có trách
nhiệm hoàn trả, làm giảm áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công
ty. Đối với tổ chức phát hành, một đợt chào bán cổ phần ra công chúng
thành công có thể giúp hình ảnh, thương hiệu của công ty được phổ biến
rộng rãi, nâng cao uy tín của tổ chức phát hành. Đối với toàn bộ nền kinh tế,
hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng giúp cho khả năng luân chuyển
vốn hiệu quả, huy động được lượng vốn dư thừa trong xã hội.
I.2.2 Hình thức chào bán cổ phần ra công chúng
Theo quy định tại Điều 11 Luật chứng khoán 2006, hình thức chào bán cổ
phần ra công chúng bao gồm:Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng và
Chào bán thêm cổ phần ra công chúng.
• Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng
+ Chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành:
11
Công ty cổ phần được thành lập mới hoàn toàn huy động vốn điều lệ bằng
cách chào bán cổ phiếu ra công chúng: Các cổ đông sáng lập của công ty
mười tỷ đồng hoặc dưới mười tỷ đồng nhưng có nhu cầu. Ban quản chỉ đạo
cổ phần hóa thuê tổ chức trung gian hoặc trực tiếp đăng ký thực hiện đấu giá
với trung tâm giao dịch chứng khoán ( thành phố Hà Nội hoặc thành phố Hồ
Chí Minh ) Sau đó, ban chỉ đạo cổ phần hóa phối hợp với Trung tâm giao
dịch chứng khoán hoặc tổ chức tài chính trung gian thực hiện đấu giá cổ
phần.
Trong trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng mệnh giá cổ phần
bán ra trên một tỷ đồng nhưng nằm ở vùng sâu không lựa chọn được tổ chức
tài chính trung gian đảm nhận việc bán đấu giá, cơ quan quyết định cổ phần
hóa thông báo cho Bộ tài chính để lựa chọn phương thức đấu giá.
• Chào bán thêm cổ phần ra công chúng:
Công ty đại chúng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt muốn tăng vốn
điều lệ mở rộng qui mô có thể chào bán thêm cổ phần ra công chúng. Trình
tự chào bán cổ phần thêm ra công chúng cũng giống như chào bán cổ phần
lần đầu. Tổ chức phát hành phải chứng minh được năng lực tài chính và
năng lực quản trị của mình trong hồ sơ chào bán cổ phiếu gửi lên Ủy ban
chứng khoán Nhà nước, sau đó tiến hành hoạt động chào bán như chào bán
cổ phần lần đầu. Đặc điểm khác biệt của chào bán thêm cổ phần ra công
chúng là tổ chức phát hành phải dành quyền ưu tiên cho cổ đông của công ty
để bảo đảm quyền lợi của họ không thay đổi khi công ty chào bán thêm cổ
phiếu. Quyền ưu tiên được thể hiện bằng chứng quyền do tổ chức phát hành
cung cấp cho các cổ đông, theo đó cổ đông được mua thêm một số lượng cổ
phiếu mới theo giá nhất định trong một thởi hạn nhất định để đảm bảo tỷ lệ
13
sở hữu đối với phần vốn điều lệ của công ty. Cổ đông có thể sử dụng dụng
quyền ưu tiên của mình hoặc chuyển nhượng chứng quyền cho người khác.
Giá đăng ký mua cổ phiếu và thời hạn đăng ký mua cổ phiếu trong chứng
quyền do tổ chức phat hành quy định. Giá đăng ký mua cổ phiếu luôn thấp
hơn giá thị trường của cổ phiếu và thời hạn đăng ký ngắn chỉ từ một đến sáu
tuần.
chuyển nhượng (trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phiếu
phổ thông của của cổ đông sáng lập nếu chuyển nhượng phải tuân theo một
số yêu cầu của pháp luật ). Công ty cổ phần chào bán riêng lẻ luôn bị giới
hạn số lượng cổ đông duới một trăm nhà đầu tư trừ nhà đầu tư chuyên
nghiệp. Chính vì vậy, khi một cổ đông muốn chuyển nhượng một phần cổ
phần của mình họ không thể tự do chuyển nhượng cho bất kỳ ai, mà phải
đảm bảo sau khi chuyển nhượng công ty cổ phần vẫn giữ đuợc số lượng cổ
đông duới một trăm (trừ cổ đông là nhà đầu tư chuyên nghiệp). Ngoài ra,
chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp cho cô rphiếu được niêm yết và giao
dịch trên thị trường tập trung khiến cho hoạt động mua bán cổ phiếu dễ
dàngvà thuận tiện nhất.
Thứ ba, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp tổ chức phát hành quảng bá
được tên tuổi, thương hiệu của mình. Để được cầp giấy chứng nhận chào
bán cổ phần ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn đuợc những điều
kiện khắt khe về công bố thông tin, chế độ kiểm toán của các cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Do vậy, một công
ty có cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi mặc nhiên được đánh giá cao hơn các
công ty khác cùng lĩnh vực ngành nghề mà không thực hiện chào bán cổ
phiếu ra công chúng. Bên cạnh đó, nếu công ty làm ăn có hiệu quả cổ phiếu
15
của công ty đó sẽ lên giá và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, như vậy
là công ty đó đã được quảng cáo bằng chính cổ phiếu của mình.
1.2.4 Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng
Chào bán cổ phần ra công chúng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với tổ
chức phát hành mà cả với nhà đầu tư và tòan bộ nền kinh tế:
• Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng với tổ chức phát hành:
Để huy động vốn, doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn: vay vốn từ các tổ
chức tín dụng, phát hành trái phiếu hoặc phát hành cổ phiếu. Trước khi Việt
Nam có thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp chỉ có thể vay vốn từ