Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong năm 2006 vừa qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những
bước chuyển mình ấn tượng, thu hút sự quan tâm của mọi thành phần kinh tế
trong và ngoài nước. Hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng đã góp phần
không nhỏ vào sự phát triển thành công của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chào bán cổ phần ra công chúng là hình thức huy động vốn hiệu quả, là nguồn
cung loại hàng hóa cơ bản nhất cho thị trường chứng khoán và là cầu nối giữa
doanh nghiệp cổ phần và nhà đầu tư.
Luật chứng khoán 2006 ra đời đã tạo ra cơ chế điều chỉnh tương đối đồng
bộ về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy nhiên, một số hiện
tượng tiêu cực của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng trong thời gian
vừa qua cho thấy pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng còn nhiều bất
cập.
Từ thực tiễn nói trên, khóa luận tiến hành nghiên cứu pháp luật chào bán
cổ phần ra công chúng ở Việt Nam hiện nay, phân tích và đánh giá thực trạng để
từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về chào bán
cổ phần ra công chúng.
Kết cấu của khoá luận bao gồm ba phần: Lời nói đầu, Kết luận và Phần
nội dung gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật chào bán cổ phần ra công
chúng
Chương II: Thực trạng pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng ở
Việt Nam
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật chào bán cổ phần
ra công chúng.
Pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng - thực trạng và giải pháp hoàn
thiện
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cổ phiếu phụ thuộc vào hai yếu tố:
Một là, kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu
(còn gọi là tổ chức phát hành). Nếu tổ chức phát hành có kết quả kinh doanh tốt,
thu được lợi nhuận cao, trả cổ tức cao sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà đầu tư, khiến cổ phiếu của công ty có thể dễ dàng được mua bán trao đổi.
Ngược lại, nếu tổ chức phát hành kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến tình trạng
thua lỗ, nợ nần thì các nhà đầu tư không dám mạo hiểm bỏ vốn mua cổ phần của
công ty, dẫn đến cổ phiếu của công ty đó có tính thanh khoản thấp.
Hai là, quan hệ cung cầu trên thị trường cổ phiếu và thị trường chứng
khoán.Thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường mua bán các loại hàng hóa
khác đều chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường đặc biệt là quy luật cung
cầu. Giá của cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của bản thân tổ chức phát hành mà còn phụ thuộc vào nhu
cầu của nhà đầu tư. Điều này đặc biệt dễ nhận thấy khi thị trường chứng khoán
gặp biến động mạnh, các nhà đầu tư theo tâm lý chung sợ mất tiền nên ồ ạt bán
ra cổ phiếu. Cổ phiếu tràn ngập thị trường tạo nên nguồn cung quá lớn trong khi
số lượng nhà đầu tư muốn mua vào quá ít, tính thanh khoản của cổ phiếu lúc này
hạ xuống còn rất thấp. Ngược lại khi thị trường cổ phiếu khan hiếm hàng hóa,
nhu cầu của các nhà đầu tư rất lớn thì ngay cả những cổ phiếu có chất lượng
thấp cũng dễ dàng bán được với giá cao.
Thứ hai, Cổ phiếu có tính lưu thông. Tính lưu thông là khả năng chuyển
giao quyền sở hữu cổ phiếu cho người khác như một tài sản thực sự. Nếu như
tính thanh khoản giúp chủ sở hữu cổ phiếu chuyển đổi cổ phiếu thành tiền mặt
thì tính lưu thông đem lại cho người sở hữu nhiều khả năng sử dụng hơn như
cho, tặng, để thừa kế hay cầm cố tại ngân hàng để bảo đảm thực hiên nghĩa vụ
tài sản khác.
Thứ ba, Cổ phiếu có tính tư bản giả, có nghĩa là cổ phiếu là một loại giấy
tờ có giá trị như tiền. Tuy nhiên, bản thân cổ phiếu không có giá trị nếu nó
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông gồm: Tham gia Đại hội
đồng cổ đông và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng.
Cổ đông được chia cổ tức khi công ty làm ăn có lãi. Khi công ty giả thể phá sản,
cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn cổ phần đã góp vào công ty.
Cổ phần phổ thông được quy định tại Khoản 1 Điều 78 Luật doanh nghiệp
2005: Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ
thông là cổ đông phổ thông. Chi tiết quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông
được Luật doanh nghiệp 2005 qui định tại Điều 79 và Điều 80. Luật doanh
nghiệp 2005 cũng qui định quyền tự do chuyển nhượng của cổ phần phổ thông
trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập ( Khoản 5 Điều 84 ).
Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần mang lại cho người sở hữu một số quyền
ưu tiên so với cổ phiếu thường. Cổ phần ưu đãi được quy định tại Khoản 2 Điều
78 Luật doanh nghiệp 2005: “Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người
sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi”.
Không phải mọi nhà đầu tư đều có quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi. Tùy
từng loại cổ phần ưu đãi mà luật và điều lệ công ty cổ phần có quy định khác
nhau về điều kiện nắm giữ và chuyển nhượng cổ phần ưu đãi.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số
phiếu biếu quyết cao hơn số phiếu biểu quyết của cổ phần phổ thông. Số phiếu
biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ của công ty cổ phần quy
định. Chỉ có cổ đông sáng lập và tổ chức do Chính phủ ủy quyền (đối với công
ty nhà nước cổ phần hóa) mới được quyền nắm giữ cổ phiếu biếu quyết. Cổ
phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập cũng chỉ có hiệu lực trong ba năm
kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó cổ phần biểu quyết
của cổ đông sáng lập sẽ chuyển thành cổ phần phổ thông. Luật doanh nghiệp
2005 không có quy định về thời hạn hiệu lực của cổ phần ưu đãi biểu quyết do
tổ chức được Chính phủ ủy quyền nắm giữ, vì vậy có thể coi cổ phần ưu đãi biếu
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được khi công ty này muốn thay thế cổ phiếu ưu tiên đã phát hành bằng cổ phiếu
có lợi tức thấp hơn.
1.2. Chào bán cổ phần ra công chúng
1.2.1. Định nghĩa chào bán cổ phần ra công chúng
Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP định nghĩa phát hành chứng
khoán ra công chúng là việc chào bán một lượng chứng khoán có thể chuyển
nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ
chức phát hành (Khoản 7 Điều 3 Nghị định 144/2003/NĐ-CP)
Hiện nay, Luật chứng khoán 2006 đã có sự thay đổi về định nghĩa của
chào bán chứng khoán ra công chúng: Chào bán chứng khoán ra công chúng là
việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:
+ Thông qua phương tiện thông tin đại chúng kể cả internet;
+ Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên không kể
nhà đầu tư chuyên nghiệp;
+ Chào bán cho số lượng nhà đầu tư không xác định.
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, chào bán cổ phần ra công chúng
là hình thức huy động vốn bằng cách bán cổ phần rộng rãi cho công chúng đầu
tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân. Một công ty đại chúng (công ty có cổ
phần được chào bán ra công chúng) chỉ thực sự là đại chúng khi tỷ lệ cổ phần
do nhà đầu tư cá nhân chiếm số lượng đáng kể trong tổng số cổ phần được chào
bán của công ty.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng chỉ diễn ra trên thị trường sơ
cấp.
Hoạt động chào bán cổ phần là hoạt động duy nhất có thể thiết lập được
mối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có cơ hội
góp vốn vào công ty cổ phần: Các loại hình công ty khác ngoài công ty cổ phần
như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, nhà đầu tư muốn trở thành
chào bán cổ phần ra công chúng để thu hút vốn điều lệ và trở thành công ty đại
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chúng nhưng cũng có thể thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ hoặc chỉ dừng lại
ở phạm vi vốn trong cổ đông sáng lập.
+ Chào bán thêm cổ phần ra công chúng:
Công ty đại chúng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt muốn tăng vốn
điều lệ, mở rộng qui mô có thể chào bán thêm cổ phần ra công chúng. Trình tự
chào bán cổ phần thêm ra công chúng cũng giống như chào bán cổ phần lần đầu.
Tổ chức phát hành phải chứng minh được năng lực tài chính và năng lực quản trị
của mình trong hồ sơ chào bán cổ phiếu gửi lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước,
sau đó tiến hành hoạt động chào bán như chào bán cổ phần lần đầu. Đặc điểm
khác biệt của chào bán thêm cổ phần ra công chúng là tổ chức phát hành phải
dành quyền ưu tiên cho cổ đông của công ty để đảm bảo quyền lợi của họ không
thay đổi khi công ty thay đổi quy mô vốn điều lệ. Quyền ưu tiên được thể hiện
bằng quyền mua cổ phần do tổ chức phát hành cung cấp cho các cổ đông, theo
đó cổ đông được mua thêm một số lượng cổ phiếu mới theo giá nhất định trong
một thời hạn nhất định để đảm bảo tỷ lệ sở hữu đối với phần vốn điều lệ của
công ty. Cổ đông có thể sử dụng quyền ưu tiên của mình hoặc chuyển nhượng
cho người khác. Giá đăng ký mua cổ phiếu và thời hạn đăng ký mua cổ phiếu
trong quyền mua cổ phần do tổ chức phát hành quy định. Giá đăng ký mua cổ
phiếu luôn thấp hơn giá thị trường của cổ phiếu và thời hạn đăng ký ngắn chỉ từ
một đến sáu tuần.
Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng có quyền ưu tiên mua như cổ đông
phổ thông. Tổ chức phát hành có thể phát hành cho cổ đông ưu đãi chứng quyền
hoặc bảo chứng phiếu. Bảo chứng phiếu cũng quy định số lượng cổ phiếu phổ
thông được quyền mua nhưng có thời hạn dài hơn chứng quyền, hoặc thời hạn
vĩnh viễn.
Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phần ra công chúng để thay đổi cơ
cấu sở hữu mà không làm tăng thêm vốn điều lệ: Đây là trường hợp công ty đại
sự là cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu được chào
bán ra công chúng có toàn quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình (trừ
trường hợp cổ phiếu ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phiếu phổ thông của của cổ đông
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sáng lập khi chuyển nhượng phải tuân theo một số yêu cầu của pháp luật). Công
ty cổ phần chào bán riêng lẻ luôn bị giới hạn số lượng cổ đông duới một trăm
nhà đầu tư trừ nhà đầu tư chuyên nghiệp. Chính vì vậy, khi một cổ đông muốn
chuyển nhượng một phần cổ phần của mình họ không thể tự do chuyển nhượng
cho bất kỳ ai, mà phải đảm bảo sau khi chuyển nhượng công ty cổ phần vẫn giữ
đuợc số lượng cổ đông duới một trăm (trừ cổ đông là nhà đầu tư chuyên
nghiệp). Ngoài ra, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp cho cổ phiếu được
niêm yết và giao dịch trên thị trường tập trung khiến cho hoạt động mua bán cổ
phiếu dễ dàng và thuận tiện.
Thứ tư, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp tổ chức phát hành quảng bá
được tên tuổi, thương hiệu của mình. Để được cấp giấy chứng nhận chào bán cổ
phần ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn đuợc những điều kiện khắt
khe về công bố thông tin, chế độ kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước về
chứng khoán và thị trường chứng khoán. Do vậy, một công ty có cổ phiếu đuợc
chào bán rộng rãi mặc nhiên được đánh giá cao hơn các công ty khác cùng lĩnh
vực, ngành nghề không thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. Một công ty
đại chúng có kết quả kinh doanh tốt sẽ thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà
đầu tư, cổ phiếu của công ty lên giá và qua đó công ty được quảng bá bằng
chính cổ phiếu của mình.
1.2.5. Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng
Chào bán cổ phần ra công chúng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với
tổ chức phát hành mà cả với nhà đầu tư và toàn bộ nền kinh tế:
Đối với tổ chức phát hành, chào bán cổ phần ra công chúng là công cụ
huy động vốn hiệu quả và linh hoạt. Trước khi Việt Nam có thị trường chứng
khoán, các doanh nghiệp chỉ có thể vay vốn từ ngân hàng với lãi suất nhất định
Chào bán cổ phần ra công chúng là một bộ phận của chào bán cổ phần, là
hoạt động khởi điểm mở đầu cho mọi hoạt động của thị trường cổ phiếu. Cổ
phiếu được giao dịch trên thị trường có đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hay
không phụ thuộc phần lớn vào hoạt động chào bán.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để được chào bán cổ phiếu ra công chúng các công ty cổ phần phải thỏa
mãn một số điều kiện nhất định về vốn điều lệ, về kết quả kinh doanh trong một
thời gian cụ thể, cùng các quy định khắt khe về kế toán và kiểm toán. Sau khi
phát hành cổ phiếu ra ra công chúng các công ty này phải tiếp tục duy trì chế độ
báo cáo thông tin đầy đủ và minh bạch về những hoạt động của công ty cũng
như về tình hình tài chính dưới sự kiểm tra và giám sát của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Vì vậy, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ tăng
chất lượng và độ chính xác của các bản báo cáo tài chính, làm trong sạch môi
trường đầu tư và kinh doanh. Điều kiện, thủ tục chào bán cổ phiếu được lập theo
chuẩn chung do nhà nước quy định nên vừa đảm bảo tính chính xác cao vừa
thuận tiện cho việc so sánh đánh giá kết quả hoạt động của các công ty cổ phần.
2. Pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng
2.1. Các văn bản pháp luật quy định về chào bán cổ phần ra công chúng
Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy mới chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 20 tháng 7 năm 2000 nhưng đến nay đã có nhiều bước phát triển ấn tượng.
Song song với sự phát triển của thị trường chứng khoán và hoạt động chào bán
cổ phần ra công chúng, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã có nhiều thay đổi
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường.
Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 11 tháng 7 năm 1998 -
tiền thân của Nghị định 144/2003/NĐ-CP và Luật chứng khoán 2006 là văn bản
đầu tiên điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán trong đó có hoạt động
phát hành chứng khoán ra công chúng. Ra đời cùng với Nghị định 48/1998/NĐ-
CP là quyết định 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập hai trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tạo thị trường giao dịch tập
công chúng.
Bên cạnh đó, một văn bản rất quan trọng cũng điều chỉnh hoạt động chào
bán cổ phần ra công chúng của đối tượng doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là
Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 11 năm
2004 vẫn còn hiệu lực thi hành. Tổng hợp những văn bản pháp lý nói trên tạo
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thành hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần ra
công chúng ở Việt Nam.
2.2. Nội dung pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng
Luật chứng khoán 2006 ra đời đã luật hóa những quy định về chào bán cổ
phần ra công chúng, tạo điều kiện để hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
được thực hiện hiệu quả và thống nhất. Kết hợp với các quy định tại Nghị định
187/2004/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản dưới luật khác, pháp luật chào
bán cổ phần ra công chúng điều chỉnh những nội dung sau:
2.2.1. Chủ thể của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Chủ thể chào bán cổ phần ra công chúng là những công ty cổ phần được
phép của Ủy ban chứng khoán nhà nước sau khi đã đáp ứng đầy đủ các quy định
của pháp luật về điều kiện chào bán và trình tự thủ tục chào bán cổ phần ra công
chúng.
- Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là một pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành
lập và tồn tại độc lập với những chủ sở hữu công ty. Vốn của công ty được chia
nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành nhằm mục
đích huy động vốn của các nhà đầu tư từ mọi thành phần kinh tế. Các nhà đầu tư
khi mua cổ phần của công ty trở thành chủ sở hữu một phần vốn góp của công ty
gọi là cổ đông của công ty. Cổ đông được quyền tham gia quản lý kiểm soát
điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban
quản lý, Ban kiểm soát, Ban điều hành. Ngoài ra cổ đông được hưởng các khoản
lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ đóng góp (tỉ
chức tài chính nhà nước), công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch
toán độc lập của tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập, đơn
vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước.
Những doanh nghiệp do nhà nuớc nắm một trăm phần trăm vốn là đối
tượng cổ phần hóa được quy định trong danh mục cụ thể do Thủ tướng Chính
phủ ban hành.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.2. Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng
Tùy theo từng loại công ty cổ phần mà pháp luật đòi hỏi điều kiện khác
nhau đối với hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
+ Công ty cổ phần thành lập theo luật doanh nghiệp: Là công ty cổ phần
ngoài quốc doanh, điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng của loại hình công
ty cổ phần này hoàn toàn tuân theo Luật doanh nghiệp 2005 và Luật chứng
khoán 2006.
Điều kiện về tư cách của doanh nghiệp: là công ty cổ phần được thành lập
hợp pháp, có điều lệ công ty không trái với quy định của Luật doanh nghiệp
2005.
Điều kiện về vốn: Vốn điều lệ đã góp phải đạt mười tỷ đồng trở lên tính
theo giá trị sổ sách kế toán (Điểm a Khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 )
Điều kiện về tình hình hoạt động của công ty: Công ty phải có kết quả
kinh doanh tốt, có lãi trong năm liền trước năm đăng ký hồ sơ chào bán, không
có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán cổ phần ra công chúng.
Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn được Đại hội đồng cổ
đông thông qua.
+ Công ty nhà nước cổ phần hóa:
Đối với công ty nhà nước cổ phần hóa đăng ký chào bán cổ phiếu ra công
chúng thì phải thỏa mãn được các điều kiện quy định tai Nghị định
187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển các công ty nhà nước thành
công ty cổ phần:
phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.
- Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có): Cam kết bảo lãnh phát hành thực
hiện theo quy định của Bộ tài chính, nếu thực hiện bảo lãnh là tổ hợp các công
ty chứng khoán thì cam kết phát hành là của tổ chức bảo lãnh phát hành chính có
kèm theo hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh phát hành.
- Quyết định của Hội đồng quản trị công ty thông qua hồ sơ (Đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là quyết định của Hội đồng quản trị
doanh nghiệp liên doanh hoặc quyết định của chủ doanh nghiệp 100% vốn nước
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngoài). Trường hợp tổ chức phát hành là tổ chức tín dụng thì hồ sơ phải có văn
bản chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Văn bản xác nhận của tổ chức các nhân với một phần hoặc toàn bộ hồ sơ
đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng (trong trường hợp cần sự xác nhận của
cá nhân, tổ chức đó đối với thông tin trong hồ sơ).
Đối với trường hợp đặc biệt khi tổ chức phát hành là doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp thành
lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao, hồ sơ đăng ký chào
bán cổ phiếu ra công chúng tuân theo quy định chi tiết tại Thông tư số
17/2007/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành ngày 13 tháng 3 năm 2007 về
hướng dẫn hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.
Sau khi hoàn tất nội dung tổ chức phát hành gửi hồ sơ chào bán cổ phần
ra công chúng lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và trong vòng ba mươi ngày,
nếu không có gì thiếu sót Ủy ban sẽ cấp giấy chứng nhận chào bán cổ phần ra
công chúng cho tổ chức phát hành. Trường hợp hồ sơ không đạt yêu cầu Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước gửi trả lại cho tổ chức phát hành kèo theo văn bản nêu
rõ lý do hồ sơ không được chấp thuận.
Tổ chức phát hành sau khi được cấp giấy chứng nhận tiến hành hoạt động
phân phối cổ phiếu theo nguyên tắc công bằng công khai. Tiền mua cổ phiếu
được chuyển vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng cho đến khị hoàn tất việc
phức tạp, đòi hỏi nhiều kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn và dễ phát sinh những
rủi ro trong quá trình thực hiện. Do đó, để quá trình thực hiện hoạt động chào
bán cổ phần ra công chúng được an toàn, chặt chẽ và thống nhất cần có quy
phạm pháp luật điều chỉnh trình tự thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng.
Cuối cùng, để ngăn chặn, cảnh cáo và răn đe các cá nhân tổ chức có ý
định hoặc đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chào bán cổ
phần ra công chúng, pháp luật quy định những chế tài xử lý nghiêm minh.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN
RA CÔNG CHÚNG Ở VIỆT NAM
1. Chủ thể chào bán cổ phần ra công chúng
Pháp luật Việt Nam quy định những chủ thể được chào bán cổ phần ra
công chúng bao gồm công ty cổ phần và công ty nhà nước cổ phần hóa.
1.1. Công ty cổ phần
Huy động vốn bằng phương thức phát hành cổ phiếu là một quyền năng
cơ bản, đặc thù của công ty cổ phần, được quy định tại Khoản 3 Điều 77 Luật
doanh nghiệp 2005.
Căn cứ vào tư cách chủ thể chào bán cổ phần ra công chúng, công ty cổ
phần có những loại sau:
- Công ty cổ phần được thành lập mới theo Luật doanh nghiệp 2005 thực
hiện chào bán cổ phần ra công chúng để tạo lập vốn điều lệ:
Theo Luật doanh nghiệp 2005, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ
phần phổ thông được quyền chào bán. Đây là sự trở lại tiến bộ của quy định tại
Luật doanh nghiệp 1990 mà Luật doanh nghiệp 1999 đã bỏ qua. Số cổ phần
được quyền bán còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm kể
từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có hiệu lực. Như vậy công ty cổ
khác với công ty cổ phần thành lập theo Luật doanh nghiệp vì những lí do cơ
bản sau:
Thứ nhất, công ty nhà nước cổ phần hóa được thành lập theo Luật doanh
nghiệp nhà nước và đến trước khi thực hiện cổ phần hóa vẫn hoạt động theo
Luật doanh nghiệp nhà nước trừ những nội dung do Luật doanh nghiệp 2005
điều chỉnh (Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005).
Thứ hai, công ty nhà nước cổ phần hóa thực hiện hoạt động cổ phần hóa
và chào bán cổ phần ra công chúng theo chủ trương của Nhà nước. Luật doanh
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp 2005 quy định các doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quy định
của Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Mục đích của sự chuyển đổi doanh nghiệp
nhà nước thành công ty cổ phần khác với mục đích chuyển đổi của công ty trách
nhiệm hữu hạn thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp chuyển đổi thành
công ty cổ phần. Đó là để thực hiện mục tiêu thu hẹp tối đa diện nhà nước độc
quyền, xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả tăng gánh nặng cho
ngân sách, tạo điều kiện cho người lao động trong công ty tự mình chịu trách
nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ ba, công ty nhà nước thực hiện cổ phần hóa chịu sự điều chỉnh của
Luật chứng khoán 2006 và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP là nghị định của
Chính phủ quy định riêng về công ty nhà nước cổ phần hóa. Do đó, hoạt động cổ
phần hóa của công ty nhà nước cổ phần hóa cũng chịu sự điều chỉnh của hai văn
bản Luật nói trên.
Như vậy, công ty nhà nước cổ phần hóa tuy là công ty cổ phần song có tư
cách chủ thể khác hẳn với các công ty cổ phần được thành lập theo Luật doanh
nghiệp.
2. Điều kiện về chào bán cổ phần ra công chúng
2.1. Điều kiện về chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Đối với từng loại doanh nghiệp, điều kiện chào bán cổ phần lần đầu ra
bảo chất lượng của cổ phiếu được chào bán ra công chúng.
Thứ ba, có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ
đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Đại hội đồng cổ đông là cơ
quan có quyền quyết định cao nhất của công ty cổ phần, có quyền quyết định
những hoạt động quan trọng của công ty. Chào bán cổ phần nói chung và chào
bán cổ phần ra công chúng là hoạt động ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát
triển của công ty và lợi ích của toàn bộ cổ đông trong công ty. Vì vậy, phương
án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được phải do Đại hội đồng thông
qua mới có giá trị pháp lý.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.2. Công ty nhà nước cổ phần hóa
Điều kiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của các công ty nhà
nước cổ phần hóa không có những quy định cụ thể như đối với công ty cổ phần
thành lập theo Luật doanh nghiệp. Nguyên nhân là công ty nhà nước cổ phần
hóa thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước cho đến khi được
cổ phần hóa. Việc cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn tuân theo
quy định của Chính phủ mà cụ thể là theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP đối với
doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ vốn góp chi phối, còn đối với doanh nghiệp
100% vốn nhà nước thì thực hiện theo quy định đặc biệt của Chính phủ. Việc
thực hiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của các doanh nghiệp Nhà
nước cổ phần hóa nằm trong phương án cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cấp có thẩm quyền là cơ quan ra quyết định
cổ phần hóa doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhà nước nắm giữ phần vốn
góp chi phối là cơ quan chủ quản của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhà
nước nắm 100% vốn là Chính phủ.
2.2. Điều kiện về chào bán thêm cổ phần ra công chúng
Công ty đại chúng muốn chào bán thêm cổ phần ra công chúng phải đạt
đủ những điều kiện sau:
- Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành