Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà Nội - Pdf 29

Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
Lời mở đầu
Hệ thống các Ngân hàng thương mại nước ta băt đầu đổi mới theo cơ
chế thị trường từ năm 1986, theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước. Sau
20 năm đổi mới, tình hình chung của các Ngân hàng vẫn là nguồn vốn chưa
lớn, các nghiệp vụ kinh doanh chưa đa dạng. Chủ yếu vẫn là hoạt động tín
dụng. Đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các Ngân hàng thương mại.
Trong khi đó, hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh đã ảnh hưởng rất nhiều đến
hoạt động của các Ngân hàng. Rủi ro là bạn đồng hành của các Ngân hàng
thương mại. Vì vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để đảm bảo an toàn vốn cho
Ngân hàng và hạn chế rủi ro đối với hoạt động tín dụng để mang lại hiệu quả
sử dụng vốn của Ngân hàng là tối ưu nhất.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà
Nội là một chi nhánh của NHNN&PTNT Việt Nam đóng trên địa bàn Thành
phố Hà Nội. Với đặc thù riêng của hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu
là hoạt động tín dụng, thu lãi từ nghiệp vụ tín dụng chiếm hơn 90% tổng thu
nhập của ngân hàng. Công tác đảm bảo tiền vay của ngân hàng trở thành công
tác quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sự an toàn nguồn vốn, an toàn tín dụng
của ngân hàng.Trong khi đó, công tác đảm bảo tiền vay của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà nội còn nhiều bất cập. Vì
vậy hoàn thiện công tác đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Chi nhánh nam Hà Nội trở thành vấn đề cần thiết.
Đó là những lý do để em chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác
bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi
nhánh Nam Hà Nội” để làm báo cáo chuyên đề thực tập.
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công tác bảo đảm tiền vay.
Chương 2: Thực tế công tác bảo đảm tiền vay tại Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà

1.2.1 Đối với cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng
mà theo đó nghĩa vụ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện
bằng tài sản cầm cố, thế chấp.
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
Trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tài sản, công tác đảm bảo
tiền vay được tiến hành đồng thời với tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách
hàng, gồm các bước sau:
1.2.1.1 Tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
Cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng tại phòng tín
dụng của ngân hàng, hoặc tại địa phương nơi ngân hàng có giao dịch với
khách hàng.
1.2.1.2 Xác định đối tượng vay vốn, mục địch vay vốn của khách hàng
Cán bộ tín dụng căn cứ vào lời khai của khách hàng mà xác định xem
khách hàng thuộc đối tượng vay vốn nào. Nếu là khách hàng vay có đảm bảo
bằng tài sản và có mục đích vay vốn thỏa mãn yêu cầu của ngân hàng thì tiến
hành xác định loại tài sản đảm bảo. Để có các thông tin này, cán bộ tín dụng
phải tiến hành hỏi khách hàng các câu hỏi như: vay để làm gì, số tiền vay bao
nhiêu, tài sản đảm bảo là gì.
1.2.1.3 Xác định hình thức đảm bảo
Cán bộ tín dụng phải lấy được thông tin từ khách hàng là dùng tài sản
nào làm đảm bảo, thông qua đó mà xác định là phương thức đảm bảo của
khách hàng là cầm cố,thế chấp hay là bảo lãnh của bên thứ ba.
* Nếu khách hàng đảm bảo tiền vay bằng một trong những tài sản sau:
+ Tiền Việt Nam, ngoại tệ.
+ Máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý,
đá quý.
+ Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

tài sản đó. Ví dụ như sổ đỏ, đăng kí xe gắn máy, sổ lương… là những giấy tờ
chứng minh cho quyền sở hữu tài sản khách hàng vay. Ngân hàng không thể
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
bán được các giấy tờ đó vì chúng là những giấy tờ không có giá trị khi không
kèm theo tài sản.
* Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba.
Trong trường hợp khách hàng vay vốn mà đảm bảo việc trả nợ là của
người thứ ba thì đó được coi là bảo lãnh của bên thứ ba. Trong trường hợp
này thì người thứ ba cam kết với ngân hàng sẽ thực hiện thay cho bên có
nghĩa vụ nếu khi đến hạn quy định người được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp một cá nhân hoặc
pháp nhân bảo lãnh cho một hoặc nhiều bên vay vốn cùng một lúc thì tổng số
tiền cho vay bảo lãnh không vượt quá theo quy định của pháp luật. Nếu cá
nhân và pháp nhân bảo lãnh cho một bên vay vốn thì mỗi bên bảo lãnh thực
hiện một phần gốc, lãi, tiền phạt và ký một hợp đồng bảo lãnh độc lập.
Trường hợp này, cán bộ tín dụng phải xác định được bên thứ ba có đủ điều
kiện bảo lãnh hay không.
* Trường hợp khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản
đảm bảo:
Chi nhánh được quyền lựa chọn áp dụng việc bảo đảm tiền vay bằng tài
sản hình thành từ vốn vay nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn
vay đáp ứng được các điều kiện quy định của việc bảo đảm bằng tài sản hình
thành từ vốn vay. Ngoài ra, Chi nhánh được quyền cho vay có bảo đảm bằng
tài sản hình thành từ vốn vay khi Chính Phủ chỉ định cho vay đối với khách
hàng vay và đối tượng cho vay trong một số trường hợp cụ thể. Đối với đối
tượng khách hàng này, cán bộ tín dụng phải xác định loại tài sản hình thành từ
vốn vay có được phép làm tài sản đảm bảo không.
1.2.1.4 Xác nhận các giấy tờ chứng minh cho tài sản đảm bảo.
Sau khi xác định được các loại tài sản nào nằm trong phạm vi đảm bảo

Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định các nội dung sau: quyền sở hữu tài
sản đảm bảo của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh. Tài sản hiện không có
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
tranh chấp hay đang tranh chấp. Tài sản được phép giao dịch hay không, nếu
là loại tài sản hiếm thì cần có các giấy tờ chứng minh tính hợp pháp hợp lệ
của tài sản đó kèm theo các giấy tờ về bảo hiểm. Tài sản đảm bảo phải là tài
sản dễ chuyển nhượng
* Viết báo cáo thẩm định:
Sau khi thẩm định các nội dung trên cán bộ tín dụng viết báo cáo thẩm
định thông báo kết quả đạt được. Báo cáo thẩm định là căn cứ để xác định các
thông tin về tài sản đảm bảo. Thông qua đó mà xác định mức cho vay hợp lí.
Cũng như các thông tin khác về người vay, về độ tín nhiệm, về dự án.
1.2.2 Đối với cho vay bảo đảm bằng uy tín của người vay ( tín chấp).
Cho vay có bảo đảm bằng uy tín của người vay là việc cho vay vốn của
tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam
kết bảo đảm bằng tài sản. Hình thức cho vay không có bảo đảm này rất hạn
chế, và chỉ áp dụng đối với một số các trường hợp sau:
- Đơn vị trực tiếp cho vay được quyền chủ động lựa chọn khách hàng đủ
điều kiện để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Đơn vị trực tiếp cho vay được áp dụng cho vay không có bảo đảm bằng
tài sản trong trường hợp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có quy định về cho
vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng vay và nhu cầu vay
vốn cụ thể.
Ngân hàng cho vay không được cho vay không có tài sản bảo đảm đối
với các đối tượng:
+ Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm tra tại tổ chức tín dụng,
kết toán trưởng, thanh tra viên.
+ Doanh nghiệp có một trong những đối tượng là thành viên hội đồng
quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc của tổ chức tín

xét mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng và các chủ nợ khác từ trước
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
đến nay, đơn vị có thái độ tôn trọng, thực hiện đầy đủ các cam kết giữa hai
bên hay không.
Nếu khách hàng có đủ điều kiện để vay “tín chấp” thì tổ chức tín dụng
phải quy định mức dư nợ tối đa đối với một khách hàng vay và ngân hàng
Nhà nước Việt nam quy định mức cho vay “tín chấp” cho một tổ chức tín
dụng trong từng thời kỳ. Như vậy cán bộ tín dụng căn cứ vào các quy định đó
mà tiến hành cho vay hay không cho vay đối với các đơn vị vay vốn không có
tài sản đảm bảo.
1.2.3 Đối với cho vay theo chỉ định của chính phủ
Cho vay theo chỉ định của Chính phủ là việc các tổ chức tín dụng nhà
nước cho vay không có bảo đảm đối với khách hàng vay để thực hiện các dự
án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, trọng điểm của nhà nước, ch-
ương trình kinh tế xã hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được
hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định tại
các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ.
Trong trường hợp này, khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả đ-
ược nợ thì Chính phủ sẽ xử lý tổn thất cho các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên
Chính phủ chỉ xử lý tổn thất khi người vay không trả được nợ theo các
nguyên nhân sau:
- Do thiên tai hoả hoạn và các biến cố rủi ro khách quan khác.
- Khách hàng vay là tổ chức kinh tế bị giải thể theo quyết định của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc bị tuyên bố phá sản mà sau khi xử lý theo
quy định của pháp luật vẫn không trả đủ nợ cho tổ chức tín dụng.
- Nhà nước thay đổi chủ trương, chính sách dẫn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của khách hàng vay gặp khó khăn và không trả được nợ.
Trường hợp này, cán bộ tín dụng tiến hành cho vay theo chỉ định của
chính phủ. Không cần thực hiện các thủ tục về bảo đảm tiền vay như các

Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
tại thời điểm xác định, có tham khảo giá quy định của nhà nước (nếu có), giá
mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và các yếu tố về giá. Chi phí thuê do
khách hàng vay, bên bảo lãnh trả.
Giá trị tài sản bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất:
+ Đất do Nhà Nước giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng để sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở, đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng hợp pháp; đất do Nhà nước giao có thu tiền đối với tổ
chức kinh tế; đất mà tổ chức kinh tế nhượng quyền sử dụng hợp pháp thì giá
trị quyền sử dụng thế chấp, bảo lãnh do chi nhánh NHNo và khách hàng vay,
bên bảo lãnh thoả thuận theo giá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó
tại thời điểm thế chấp.
+ Đất do Nhà nước cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế thuê mà bên
thuê đã trả tiền thuê đất cho thời gian thuê hoặc cho nhiều năm, thì giá trị
quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh gồm tiền đền bù thiệt hại, giải phóng
mặt bằng khi được Nhà nước cho thuê đất (nếu có), tiền thuê đất đã trả cho
Nhà nước sau khi trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng.
+ Trường hợp thế chấp, bảo lãnh giá trị quyền sử dụng đất mà người thuê
đất được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của luật pháp, thì giá trị
quyền sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh tính theo giá trị thuê đất trước khi
được miễn, giảm.
1.2.6 Xác định mức cho vay dựa trên tài sản đảm bảo
Sau khi chấp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, cán bộ tín dụng tiến
hành xác định mức cho vay đối với khách hàng như sau:
1.2.6.1 Đối với các loại tài sản cầm cố
+ Tài sản cầm cố là giấy tờ có giá:
Mức cho vay tối đa = Số tiền gốc + Lãi chứng từ có giá- Số lãi phải trả
cho ngân hàng trong thời gian xin vay.
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B

+ Uỷ quyền bán đấu giá tài sản cho trung tâm bán đấu giá hoặc doanh
nghiệp bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
+ Uỷ quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức có chức năng mua bán tài sản
để bán.
+ Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho
bên bảo đảm.
- Các đơn vị trực tiếp cho vay có quyền chuyển quyền thu hồi nợ hoặc uỷ
quyền cho bên thứ ba xử lí tài sản bảo đảm. Bên thứ ba phải là tổ chức có tư
cách pháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lí tài sản bảo
đảm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp được các đơn vị trực tiếp
cho vay chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba có quyền thực hiện các
biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lí tài sản bảo đảm như các đơn vị trực tiếp
cho vay uỷ quyền. Xử lí tài sản thì bên thứ ba được xử lí tài sản bảo đảm
trong phạm vi được uỷ quyền.
- Việc xử lí tài sản bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục
đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của các đơn vị
trực tiếp cho vay và khách hàng và tiết kiệm chi phí.
- Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bảo đảm khởi tố về hành vi phạm
tội không liên quan đến việc vay vốn của các đơn vị trực tiếp cho vay hoặc
không liên quan đến nguồn gốc hình thành tài sản bảo đảm thì tài sản bảo
đảm của người đó không bị kê biên và được xử lí theo quy định tại thông tư
03/2001/TTLT/NHNN–BTD–BCA–BTC–TCĐC (trừ trường hợp được chỉ
định khác).

1.2.8 Giám sát,kiểm tra tài sản bảo đảm
Sau khi nhận tài sản đảm bảo, ngân hàng thường xuyên, định kì kiểm
tra, giám sát việc sử dụng tài sản đảm bảo của khách hàng.
Đối với các tài sản đảm bảo là các tài sản cầm cố, thì việc kiểm tra,
giám sát là hết sức quan trọng và cần thiết. Bởi vì, các tài sản cầm cố thì
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B

Nội nằm trên địa bàn quận Thanh Xuân, một trong những quận có tốc độ
phát triển nhanh của thành phố Hà Nội. Tình hình Kinh tế_Chính trị_Xã hội
trên địa bàn liên tục tăng trưởng ổn định trong 3 năm qua, có chiều hướng
thuận lợi đối với các hoạt động của ngân hàng. Sản xuất, xuất khẩu trên địa
bàn đều tăng; môi trường đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã được cải thiện với các chính sách và biện pháp của nhà
nước được cởi mở, thông thoáng hơn. Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp
tăng 16%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá đạt 3.334 tỷ, tăng 7,5%. Cơ cấu
kinh tế nói chung cũng như cơ cấu trong nội bộ từng ngành tiếp tục dịch
chuyển theo hướng tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển
kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Kinh tế Nhà n-
ước trên địa bàn tiếp tục được đổi mới, sắp xếp và họat động có hiệu quả hơn,
kinh tế tập thể, tư nhân, hộ gia đình đã có bước phát triển mới, đóng góp vào
sự tăng trưởng chung của kinh tế địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm
cho người lao động, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo. Có được những kết quả
trên, hoạt động của các ngành tài chính ngân hàng, kho bạc có vai trò rất lớn,
đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn cho sản xuất và phát triển kinh tế
nhiều thành phần của địa phương. Bên cạnh đó, Quận đã tập trung đẩy mạnh
xây dựng cơ bản, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường. Vì vậy đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân đã được nâng lên, an ninh trật tự được
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
đảm bảo. Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm, là năm cả nước thi
đua lập thành tích chào mừng Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ X. Kinh tế
Việt Nam tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, bão lũ tàn phá,
dịch cúm gia cầm, nhưng vẫn ổn định về chính trị và phát triển mạnh về kinh
tế, tốc độ tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,5%. Năm 2005 cũng là năm giá cả,
lãi suất của thế giới và trong nước có nhiều biến động như giá xăng dầu tăng,
giá cà phê, sắt thép, giá vàng, lãi suất USD, lãi suất huy động vốn.
2.1.2. Tổng quan về NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội.

Nguồn vốn huy động chủ yếu là tiền gửi tiết của các tổ chức tín dụng,
sau đó là tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Trên địa bàn hành chính hạn hẹp có
nhiều ngân hàng tham gia huy động vốn như: Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng
nông nghiệp, Ngân hàng ngoại thương, các phòng giao dịch của các Ngân
hàng TMCP…các ngân hàng này có địa điểm huy động vốn liền kề các điểm
huy động vốn của chi nhánh, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ. Các Ngân hàng
đã đưa ra nhiều chiến dịch để huy động vốn, như chương trình tiết kiệm 3 chữ
A của NHNo&PTNT Việt Nam, Tiền gửi tiết kiệm với lãi suất cao của các
Ngân hàng TMCP. Đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trong huy động vốn. Tuy
nhiên dưới sự chỉ đạo sát sao và điều hành trực tiếp của Ban giám đốc, sự
phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, chi nhánh luôn làm tốt công tác chính
sách khách hàng. Do vậy không những giữ vững mà còn phát triển thêm
khách hàng trong huy động vốn. Cơ cấu nguồn vốn đã có sự thay đổi theo
hướng tích cực, tiền gửi của các TCTD giảm còn 13%, tiền gửi của dân cư
tăng lên đến 31%, tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn tăng lên. Năm 2005 tất
cả các đơn vị trực thuộc đều làm tốt công tác huy động vốn, bình quân nguồn
vốn của 1 chi nhánh cấp 2 đạt 650 tỷ đồng, 1 phòng giao dịch đạt hơn 70 tỷ
đồng. Chi nhánh đã thực hiện chương trình hành động tăng trưởng và ổn định
nguồn vốn: xác định nguồn vốn luôn là nền tảng mở rộng kinh doanh và luôn
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
là nguồn thu chủ yếu của chi nhánh. Vì vậy cần : Duy trì ổn định các nguồn
vốn lớn, tiếp thị mở rộng khách hàng, phát triển thêm các nguồn vốn rẻ, các
nguồn vốn dài hạn, ổn định, chủ động, đa dạng hoá các hình thức huy động
vốn hướng tới khách hàng dân cư, các dự án vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 1. Cơ cấu nguồn vốn huy động
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Số

Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn huy động
Mặc dù trên địa bàn có cạnh tranh gay gắt và vị trí giao dịch chua
thuận tiện, nhưng nguồn vốn của chi nhánh vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh và
ổn định, tốc độ tăng trưởng bình quân một năm là 174%, là một trong những
đơn vị dẫn đầu trong việc hoàn thành vuợt mức chỉ tiêu nguồn vốn của đề án
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
phát triển kinh doanh của NHNNo&PTNTVN trên địa bàn đô thị loại I
( 2002-2005). Cơ cấu nguồn vốn đã có sự thay đổi theo hớng tích cực,
TGTCTD giảm còn 13%, tiền gửi dân cư tăng lên đến 31%, tỷ trọng nguồn
vốn trung dài hạn tăng lên. Năm 2005 tất cả các đơn vị trực thuộc đều làm tốt
công tác huy động nguồn vốn, bình quân nguồn vốn của 1 chi nhánh cấp 2 đạt
650 tỷ đồng, 1 phòng giao dịch đạt hơn 70 tỷ đồng.
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn.
Thực hiện mục tiêu chung của toàn ngành “ tiếp tục duy trì tăng trưởng
hợp lí, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời, nâng cao chất lượng
dịch vụ ngân hàng đủ năng lực cạnh tranh, tập trung đầu tư đào tạo nguồn
nhân lực, đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng phù hợp với hiện đại hoá, đủ
năng lực hội nhập. Nâng cao năng lực tài chính và phát triển thương hiệu trên
cơ sở đẩy mạnh và kết hợp với văn hoá doanh nghiệp”.
Ngoài các doanh nghiệp là khách hàng thuờng xuyên của ngân hàng
như công ty thực phẩm Miền Bắc, Công ty dịch vụ kĩ thuật dầu khí, Tổng
công ty Sông Đà, Công ty Ginexim Hà Nội, Công ty xuất nhập khẩu với
Lào...thì chi nhánh cũng đã phát triển thêm nhiều khách hàng là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, khẳng định một cách chắc chắn đuờng lối chiến l-
uợc là phát triển theo xu huớng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tăng c-
uờng, tập trung phát triển khu vực khách hàng là những doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Năm 2003 chi nhánh tiếp tục triển khai, rút kinh nghiệm để hoàn thiện
các đề án cho vay đối với cán bộ công nhân viên thông qua tổ chức công đoàn

thấy việc Chi nhánh đã không thu hút được các khách hàng vay phục vụ đầu
tư dài hạn. Không có được tỷ lệ dư nợ trung và dài hạn đảm bảo mức trung
bình của hệ thống. Tuy nhiên trong năm tới, khi các dự án đầu tư trung và dài
hạn giải ngân thì khả năng tỷ trọng loại cho vay này của Chi nhánh sẽ tăng
lên. Như dự án Thuỷ điện Bắc Bình hạn mức 100 tỷ, nhiệt điện Hải Phòng
hạn mức là 250 tỷ, Thuỷ điện Cửa Đạt là 197 tỷ….
Về dư nợ ngắn hạn, tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn giảm qua các năm
nên tương ứng với nó là tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tăng lên. Mức tăng tuyệt đối
là từ 157 tỷ năm 2001 lên 267 tỷ năm 2002, sang năm 2003 thì số dư đã là
398 tỷ, đến năm 2004 con số này đã là 581 tỷ. Và đạt con số ấn tượng 805 tỷ
vào năm 2005. Điều này cho thấy Chi nhánh đã được sự tín nhiệm của khách
hàng vay vốn ngắn hạn, phục vụ cho các nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn. Vì
vậy mà chi nhánh đã có được sự tăng trưởng dư nợ ngắn hạn tăng dần đều qua
các năm trong điều kiện nhiều Ngân hàng thương mại đều có nhiều chính
sách ưu đãi trong cho vay nhằm thu hút khách hàng. Mặc dù vậy, tốc độ tăng
năm 2005 là 28% cao hơn mức tăng chung của hệ thống, nhưng vẫn thấp hơn
mức tăng của nguồn vốn. Dư nợ bình quân tính trên một cán bộ đạt 9,9 tỷ tuy
nhanh nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu kinh doanh của chi nhánh.

Bảng 3: Cơ cấu dư nợ theo đối tượng cho vay tại địa phương
Đơn vị tính: tỷ đồng
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
Số
tiền
T/T Số tiền T/T Số tiền T/T Số tiền T/T
Tổng dư nợ 478 100% 610,277 100% 873,764 100% 1119.14 100%
Dư nợ DNNN 398 83,26% 522 85,53% 672,287 76,84%

Công ty XNK bao bì Hà nội, Công ty xuất nhập khẩu với Lào…
Dư nợ đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh mặc dù chiếm tỷ trọng
nhỏ nhưng cũng đã tăng dần, khẳng định một cách chắc chắn đường lối chiến
lược là phát triển theo xu hướng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tăng
cường, tập trung phát triển khu vực khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ,
cho thấy ngân hàng đang có xu hướng quan tâm hơn đối với thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh, tỷ trọng dư nợ đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
mặc dù tăng không đều qua các năm, nhng số tương đối qua các năm đều
tăng. Năm 2002 là 80 tỷ, sang năm 2003 là 88,277 tỷ, đến năm 2004 là
201,477 tỷ và đến năm 2005 đạt đến 242,864 tỷ. Có được thành tích này là
nhờ Chi nhánh đã tăng cường cho vay đối với cán bộ công nhân viên của
Trung tâm chuyển tiền bu điện, và của Sở thú Hà Nội.
1.3.3. Các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà Nội.
Bên cạnh hoạt động đầu t tín dụng, ngân hàng đã thực hiện những hoạt
động kinh doanh mới. Từ năm 2003 chi nhánh đã triển khai, ứng dụng một số
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng như:
* Thực hiện thành công chương trình giao dịch một cửa ( Ngân hàng bán
lẻ) theo chủ trương của Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc. Tiếp cận
chuẩn bị triển khai chơng trình WB ở Hội sở và chương trình Ngân hàng bán
lẻ tới 100% chi nhánh, phòng giao dịch của chi nhánh.
* Áp dụng thí điểm hình thức huy động tiết kiệm gửi góp để huy động
nguồn tiền gửi nhàn rỗi của dân cư.
* Thực hiện thí điểm hợp đồng huy động vốn và cho vay đối với các tổ
chức tài chính trên địa bàn.
Bùi Đại Nghĩa Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Thu Hà
* Tiếp tục thực hiện mô hình cho vay tiêu dùng đối với CBCNV thông
qua tổ chức công đoàn tại các DNNN
* Cung ứng dịch vụ giải ngân phục vụ các dự án đầu tư nước ngoài; làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status