Nền công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Lời nói đầu
*
Tính cấp thiết của đề tài: Từ thực trạng này, đề tài muốn đa ra giải pháp để
phát triển ngành công nghiệp chế tạo ô tô phục vụ cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, đẩy mạnh quá trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới.
Đồng thời đa ra đợc phơng hớng phát triển của ngành trong thời gian tới tơng xứng với
tầm vóc của ngành công nghiệp chủ đạo của đất nớc trong thế kỷ 21.
Ngành công nghiệp chế tạo ô tô là ngành công nghiệp chủ yếu của hầu hết các
quốc gia. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo ô tô sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự
phát triển của nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Việt Nam với dân số 80 triệu ng-
ời và là một trong những quốc gia có mức tăng trởng kinh tế ổn định, đợc đánh giá là
thị trờng tiêu thụ ô tô đầy tiềm năng trong khu vực Đông Nam á. Đây chính là tiền đề
vững chắc cho sự phát triển của ngành công nghiệp này trong tơng lai.
Chúng ta bắt đầu có cái nhìn đúng đắn hơn về ngành công nghiệp chế tạo ô tô từ
đầu năm 1991. Điều này thể hiện bằng việc trong một thời gian ngắn đã có 12 liên
doanh lắp ráp sản xuất ô tô đợc cấp giấy phép và đi vào hoạt động. Song, sau hơn 10
năm nhìn lại, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận một thực tế là hoạt động công nghiệp
chế tạo ô tô của Việt Nam vẫn ở điểm xuất phát.
Đối tợng, phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu vai trò, sự
hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, những khó khăn tồn tại,
đồng thời tham khảo kinh nghiệm phát triển công nghiệp ô tô của một số nớc trong khu
vực và trên thế giới.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Phơng pháp nghiên cứu: Khoá luận sử dụng phơng pháp phân tích tổng hợp,
kết hợp với việc sử dụng có chọn lọc các số liệu thống kê từ báo chí, Internet để làm
sáng tỏ vấn đề.

động cơ hơi nớc. Chiếc xe vừa to vừa thô kệch lại tuôn ra nhiều khói nên đã không dợc
chấp nhận. Cho đến năm 1885 chiếc ô tô chạy bằng động cơ xăng đầu tiên ra đời do
một ngời Đức có tên là Karl Vesh phát minh. Chiếc ô tô chạy băng động cơ xăng này
đã thực sự trở thành phơng tiện mang tính thực dụng. Nhng thời đó, ô tô vẫn bị coi là
những cỗ máy thô kệch, là nỗi kinh hoàng của ngời đi đờng và nó không thể sánh đợc
với những cỗ xe ngựa sang trọng.
Gần 10 năm sau, năm 1892, tại một cuộc triển lãm ở Chicago (Mỹ) đã xuất hiện một
chiếc ô tô chạy bằng động cơ đốt trong, có bốn bánh và hàng loạt tính năng kỹ thuật
mới nh hệ thống đánh lửa bằng điện, bộ bơm dầu tự động. Phát minh này là của ông
Iacốplép, một kỹ s cơ khí quân đội Nga, và nó đã đợc thử nghiệm thành công. Chiếc xe
có thể chạy với tốc độ 20 km/h. Ngay sau đó, Nga hoàng đã ban sắc lệnh về quy chế và
các điều kiện để sử dụng các loại xe có dộng cơ tự vận hành ở nớc Nga. Điều đó có
nghĩa là xe ô tô, bằng hiệu quả thực tế của nó, đã trở thành loại phơng tiện của giai cấp
đặc quyền và những ngời giàu có. Đa số các nhà sản xuất ô tô thời kỳ đó đều muốn làm
sao sản xuất ra đợc nhiều xe có chất lợng cao mà giá thành thấp. Mục tiêu đó đã đợc
thực hiện và một kỷ nguyên mới của ô tô bắt đầu: Sản xuất dây chuyền và ô tô nhân
dân.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Bắt đầu từ nớc Đức, dấu hiệu đầu tiên của việc sản xuất những chiếc ô tô đặc biệt là ô
tô dành cho một ngờivà ngời sản xuất ra loại ô tô này là ông Damler Benz. Những
chiếc xe này có tên là Mano, đợc bán với giá mà với số tiền này vào thời đó ngời ta có
thể mua đợc một đàn ngựa và thuê rất nhiều ngời làm. Nh vậy, loại xe này là quá đắt
đối với giới bình dân, cho nên nó chỉ đợc sản xuất ít nhng với giá thành cao và đó cũng
là một cách để các nhà sản xuất ô tô làm giàu, còn việc sản xuất thật nhiều với giá thật
rẻ vẫn là điều khó khăn.
Vào năm 1902 ở Pháp, ô tô Popula ra đời, ngời ta gọi là xe nhân dân. Đây mới chỉ
là tên gọi, phải ba năm sau xe Popula mới thực sự đi vào đời sống của tầng lớp bình

thiện tại nhà máy cơ khí mang tên Piôt Alêchxây Evic và đó là cơ sở hình thành các xí
nghiệp liên doanh sản xuất ô tô đầu tiên. Năm 1945, nhà máy sản xuất ô tô Gaz đã tung
ra loại xe mới có tên Chiến thắng với động cơ gây đợc sự chú ý và giá rẻ. Năm 1960,
chính phủ Italia đã ký kết hiệp định với chính phủ Liên Xô (cũ) về việc sản xuất loại xe
ô tô rất nổi tiếng là Lada. Vào thập kỷ 70 ở Liên xô, ngành công nghiệp ô tô phát triển
mạnh, mỗi ngày bình quân có khoảng vài trăm chiếc ô tô đợc xuất xởng và mỗi năm lại
có một kiểu ô tô mới ra đời.
Trở lại trớc chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Texas miền Tây Nam nớc Mỹ khi
những mỏ dầu đợc khai thác với quy mô lớn làm giá xăng dầu giảm mạnh thì lợng xe
hơi ngày càng tăng lên và dần tiến vào xã hội. Lúc này quy trình sản xuất xe hơi đã trở
nên u việt, nớc Mỹ đã biến thành xã hội phát triển với đủ loại xe hơi. Trong những năm
từ 1939 đến 1945 chiến tranh thế giới nổ ra thì những nhà máy ô tô đợc biến thành nơi
sản xuất quân trang hoặc chế tạo vũ khí. Sau chiến tranh, ngành công nghiệp ô tô lại
một lần nữa lên ngôi. Kỹ thuật cơ bản về sản xuất ô tô đã đợc hoàn thiện hơn, xe hơi
của Mỹ đã cạnh tranh mạnh mẽ với các loại xe khác nhờ trong xe có điều hoà nhiệt độ
và kèm theo hàng loạt chức năng khác. Những kỹ thuật lắp ráp xe hơi bắt đầu phát triển
cao không cần đến sự can thiệp của con ngời, ô tô đợc sản xuất hàng loạt.
Cùng thời gian đó, Nhật Bản, một nớc bại trận nhng đã phát triển kinh tế với một
tiềm lực phi thờng. Ngời Nhật Bản sang Mỹ để học kinh nghiệm chế tạo ô tô và họ đã
thành công, trở thành một trong những nớc có ngành công nghiệp ô tô phát triển nhất
thế giới.
Ngày nay, sản xuất ô tô đã trở thành một ngành công nghiệp chủ yếu của thế giới.
Công nghiệp ô tô đợc đánh giá là bộ mặt cho nền công nghiệp mỗi quốc gia. Tổng số ô
tô trên thế giới hiện nay khoảng 660 triệu xe. Số lợng này hầu nh không tăng giảm
trong nhiều năm gần đây và sản lợng ô tô thế giới gần nh ổn định quanh con số khoảng
50 -52 triệu xe/năm, tập trung vào 3 trung tâm công nghiệp lớn là Bắc Mỹ, Tây Âu và
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
2.2. Về công nghệ kỹ thuật
Đây là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại. Một sản phẩm ô tô đợc
tung ra trên thị trờng là sự kết hợp của hàng nghìn, hàng vạn chi tiết các loại, không
giống nhau. Mỗi chi tiết đều có những tiêu chuẩn kỹ thuật riêng và đợc chế tạo theo
phơng pháp riêng ở những điều kiện khác nhau nhng vẫn đảm bảo tính đồng bộ của sản
phẩm. Khi công nghiệp ô tô phát triển, xuất hiện nhiều chi tiết vợt quá khả năng thao
tác của con ngời, yêu cầu phải có sự trợ giúp của máy móc kỹ thuật. Máy móc kỹ thuật
càng hiện đại càng giảm bớt sự nặng nhọc và nguy hiểm; nhng điều quan trọng hơn là
dới sự điều khiển của con ngời, những máy móc hiện đại có thể chế tạo và lắp ráp các chi
tiết thành sản phẩm cuối cùng với xác suất sai sót không đáng kể.
2.3. Về lao động
Hiện nay, ngành sản xuất ô tô không còn sử dụng một số lợng lớn lao động nh thời
kỳ trớc và nh một số ngành sản xuất vật chất khác (lơng thực, dệt may, khai khoáng,
) do đã áp dụng nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Trong phần lớn các nhà máy
lắp ráp ô tô trên thế giới, ngời ta ít thấy bóng dáng con ngời, công việc sản xuất đều do
các rôbôt đảm nhận, con ngời chỉ điều khiển máy móc chính. Do vậy, số lợng lao động
làm việc trong ngành không cao. Thêm vào đó, để có thể sử dụng thành thạo các máy
móc hiện đại, những ngời công nhân phải có tay nghề cao, đợc đào tạo bài bản, đòi hỏi
có chi phí lớn và thời gian dài cho đào tạo. Mặc dù u thế của các nớc đang phát triển là
có nguồn nhân công dồi dào với tiền công thấp nhng hạn chế lớn trong u thế này lại là
chất lợng nguồn lao động không cao.
Vì vậy, có thể khẳng định ngành không tận dụng đợc nhiều lợi thế so sánh về nguồn
lao động của các nớc đang phát triển (dồi dào về số lợng, chi phí nhân công thấp).
Thêm vào đó có thể thấy đợc đây là một khó khăn lớn cho các nớc đang phát triển
trong quá trình xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô bởi đây là một ngành
khá mới mẻ, kiến thức nghề nghiệp và kinh nghiệm của ngời công nhân còn non.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
7

8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
4.Tình hình sản xuất và tiêu thụ ô tô trong những năm qua
Trong vòng khoảng 20 năm trở lại đây, sản lợng ô tô thế giới gần nh ổn định và
chỉ dao động quanh con số 52 đến 58 triệu chiếc một năm. Tổng số ô tô trên toàn thế
giới hiện nay vào khoảng 660 triệu chiếc tức là bình quân cứ 8 ngời có 1 chiếc ô tô.(1)
Công nghiệp ô tô là ngành sản xuất đợc toàn cầu hoá sớm nhất và hiện nay, l-
ợng cung đã vợt xa lợng cầu. Năng lực sản xuất của toàn thế giới hiện nay d thừa
khoảng 21%. Ngành công nghiệp ô tô cũng là ngành công nghiệp tiếp cận nhanh nhất
và sớm nhất các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, từ công nghệ tin học, điều
khiển học, đến ngành vật liệu mới, tự động hoá sản xuất thông qua hệ thống máy móc
hiện đại.
Bảng 1: Sản lợng ô tô trên toàn thế giới theo các năm
(Đơn vị tính: triệu chiếc)
Năm
Khu vc
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tây Âu 15,114 15,781 16,169 16,975 18,111 17,017 16,840
Bắc Mỹ 15,755 15,264 15,392 15,786 15,801 17,538 17,810
Nhật Bản 10,554 10,197 10,346 10,976 10,086 9,895 10,145
Châu á(trừ
Nhật Bản) 5,465 6,317 7,121 6,476 5,439 6,870 6,759
Đông Âu 1,890 2,000 2,084 2,381 2,453 2,412 2,762
Các khu
Vực khác 2,720 2,750 3,021 3,481 3,107 2,672 4,125
Tổng 51,498 52,309 54,133 56,075 54,997 56,404 58,441
Nguồn:Economist Intelligence Unit (EIU-Tổ chức trí tuệ kinh tế học) 12/2006.
(1):Buôn bán ô tô toàn cầu giảm mạnh- Thời báo kinh tế ngày 7/9/2006
Đến nay, sản phẩm ô tô là một sản phẩm mang tính quốc tế. Các quốc gia đảm

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Tây Âu 13,558 14,709 14,878 15,992 17,167
Bắc Mỹ 16,480 17,013 17,419 18,028 19,659
Nhật Bản 6,848 7,061 6,725 5,874 5,861
Châu á(trừ Nhật
Bản) 6,117 6,363 6,049 4,518 6,163
Đông Âu 1,843 2,089 2,301 2,225 2,320
Các khu vực khác 4,073 4,271 4,645 4,019 3,542
Tổng 48,919 51,506 52,017 50,656 54,712
Nguồn: Economist Intelligence Unit (EIU)12/20006
Các nhân tố ảnh hởng đến tình hình sản xuất và tiêu thụ ô tô trên thế giới trong
những năm qua:
*Sự phát triển của các nền kinh tế:
Các khu vực có sản lợng ô tô sản xuất ra lớn đều là những khu vực có nền kinh
tế phát triển trên thế giới. Qua các bảng số liệu trên chúng ta dễ dàng nhận ra đó là các
cờng quốc nh Mỹ, Nhật Bản, các nớc Tây ÂuĐây là các quốc gia và khu vực mà
nền kinh tế của họ có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp ô tô. Với các nớc
này, ngành công nghiệp ô tô là bộ mặt của ngành công nghiệp nói chung. Bởi lẽ ngành
công nghiệp ô tô là khách hàng của hầu hết các ngành công nghiệp khác, một ngành
sản xuất thu hút đợc lực lợng lao động khổng lồ.
Mặt khác, tại các quốc gia này, ngời ta luôn cố gắng tạo ra một môi trờng cạnh
tranh lành mạnh, sự công bằng cho các nhà sản xuất. Điều này giúp các nhà sản xuất
yên tâm, khuyến khích họ kinh doanh đúng luật, tạo ra các sản phẩm mới ngày càng
tân tiến phục vụ cho nhu cầu ngày càng đa dạng của con ngời.
*Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ:
Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô cần thiết phải có sự phát triển tơng
xứng của các ngành công nghiệp phụ trợ nh ngành công nghiệp cơ khí, ngành công
nghiệp hoá chất, ngành điện tử
Sự phát triển của các ngành này là hậu thuẫn để ngành công nghiệp ô tô luôn sử

thế giới.
5.1.Malaysia: Bảo hộ và thành công.
Ngành công nghiệp ô tô Malaysia hình thành qua hai giai đoạn:
* Giai đoạn thứ nhất : từ giữa những năm 60, họ nhập khẩu xe dạng CKD và
kéo theo sự phát triển của các cơ sở lắp ráp trong nớc. Đến những năm đầu của thập kỷ
80, Malaysia đã có 15 công ty lắp ráp xe bao gồm cả các công ty của Châu Âu và Nhật
Bản.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
* Giai đoạn thứ hai : bắt đầu từ năm 1983 bằng việc hình thành dự án sản xuất
xe du lịch quốc gia Proton và Perodua.
Một điểm rất đáng chú ý là sự bảo hộ rất cao của chính phủ đối với ngành công
nghiệp ô tô trong nớc. Malaysia áp dụng thuế suất nhập khẩu rất cao đối với xe nhập
khẩu nguyên chiếc(CBU): từ 140% đến 300%; xe nhập dới dạng CKD: từ 42% đến
80%. Do sự bảo hộ này mà Proton đã trở thành nhãn hiệu ô tô số một tại thị trờng
Malaysia và cả tại thị trờng các nớc ASEAN. Xe Proton và Perodua gần nh độc chiếm
thị trờng ô tô Malaysia (đến 90% thị phần), chỉ còn lại 10% thị phần chia cho 25 nhà
sản xuất khác tại nớc này. (3)
Từ tháng 7 năm 1998, Malaysia bắt đầu triển khai chơng trình chế tạo xe tải
nhẹ(van) quốc gia mang tên Inokom Permas dựa trên mẫu xe Renault do một liên
doanh chế tạo trong đó phía Malaysia nắm 68% vốn. Sản lợng ô tô quốc gia của
Malaysia hiện nay rất lớn so với các nớc trong khu vực Đông Nam á.
Bảng 3 :Sản lợng ô tô sản xuất trong nớc của Malaysia qua các năm
Năm Sản lợng Tốc độ tăng(%)
2004 126.400 100
2005 250.620 198
2006 253.900 101
Nguồn: Báo Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 22-1-2007.

tổng số điểm yêu cầu bắt buộc. Khi tỷ lệ sản xuất nội địa khoảng 45% thì Bộ Công
nghiệp Thái Lan xem xét, điều chỉnh lại điểm. Năm 1989, Chính phủ cải tiến sản xuất
xe tải pick_up 1 tấn và bắt buộc sản xuất động cơ loại xe này trong nớc.
Đến nay, đã có 14 nhà sản xuất ô tô thế giới có mặt tại Thái Lan, gồm những
hãng hàng đầu thế giới nh: BMW, Mercedes-Benz, General Motors, Ford, Volvo,
Peugeotvới năng lực sản xuất hơn một triệu xe mỗi năm, cùng với hơn 800 nhà sản
xuất phụ tùng đã giải quyết công ăn việc làm cho 200.000 nhân công.
Lợng ô tô tiêu thụ tại Thái Lan cao nhất là vào năm 1996 với 590.000 chiếc. Sau
đó, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã khiến Thái Lan tụt xuống hạng 3 sau
Malaysia và Indonesia. Lợng ô tô xuất khẩu của Thái Lan năm 1999 là 125.700 chiếc,
năm 2000 là 180.000 chiếc. Kim ngạch xuất khẩu phụ tùng cũng không ngừng tăng:
năm 1997 đạt 165,7 triệu đô la; năm 2000 tăng lên 562 triệu đô la. Thị trờng xuất khẩu
lớn nhất là Nhật Bản, Malaysia, Nam Phi.(4)
5.3.Hàn Quốc:
Mặc dù ra đời sau hàng chục năm so với Nhật Bản nhng ngành công nghiệp
ô tô Hàn Quốc đã có những bớc phát triển mạnh mẽ và ngoạn mục. Với 20 năm, từ con
số không, Hàn Quốc đã xuất khẩu hàng loạt ô tô với chất lợng cao cạnh tranh với cả xe
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status