BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯU QUANG HUY
KHẢO SÁT CƠ CẤU VÀ XU HƯỚNG NHẬP
KHẨU CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006-2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯU QUANG HUY
KHẢO SÁT CƠ CẤU VÀ XU HƯỚNG NHẬP
KHẨU CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006-2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Thị Hà
ThS. Chu Quốc Thịnh
Nơi thực hiện:
Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược Trường đại
học Dược Hà Nội
Phòng Quản lý giá thuốc
Cục Quản lý Dược - Bộ Y Tế
HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
1.3. Tổng quan về nghiên cứu định lượng tiêu thụ thuốc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.1. Nghiên cứu dựa trên chi phí. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.2. Nghiên cứu dựa trên số lượng đơn vị đóng gói. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.3. Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
1.3.4. Nghiên cứu dựa trên liều xác định hàng ngày . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
1.4. Các đề tài nghiên cứu liên quan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . . . . . . . . . . . . . . 16
2.1. Đối tượng nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3. Thiết kế nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.4. Nội dung nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.7. Trình bày và báo cáo kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
3.1. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010 . . . . . . . . . . . 21
3.1.1. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo KNNK . . . . . . . . . . . . . . . . 21
3.1.2. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo số lượng SĐK . . . . . . . . . 22
3.2. Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010 . . . . . 22
3.2.1. Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT theo KNNK. . . . . . . . . . 23
3.2.2. Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT theo số lượng SĐK . . . 24
3.3. Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT giai đoạn 2006-2010. . . . . . . . 26
3.3.1. Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT theo KNNK. . . . . . . . . . . . . 26
3.3.2. Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT theo số lượng SĐK . . . . . 28
3.4. Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT theo quốc gia xuất xứ giai đoạn 2006-2010 29
3.4.1. Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT từ các quốc gia theo KNNK . . . 30
3.4.2. Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT từ các quốc gia theo SL SĐK . . . 32
BÀN LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hệ thống phân loại dựa trên tính
chất hóa hoc, phương pháp điều
trị, bộ phận giải phẫu
ASR Age-Standardise Rate
Tỷ lệ chuẩn theo tuổi
BMI
Bussiness Monitor
International
Công ty khảo sát thị trường quốc
tế
CIF Cost, Insurance, Freight
Giá giao hàng đến cảng người
mua
DDD Defined Daily Dose
Liều xác định hàng ngày
ĐTƯT Điều trị ung thư
IARC
International Agency for
Reasearch of Cancer
Cơ quan quốc tế về nghiên cứu
ung thư
KNNK Kim ngạch nhập khẩu
NK Nhập khẩu
SĐK Số đăng ký
SL Số lượng
HC Hoạt chất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hiện là vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới. Theo ước tính của
Tổ chức y tế thế giới, vào năm 2008, trên toàn thế giới có 12,7 triệu trường hợp được chẩn
đoán mắc bệnh ung thư và có 7,6 triệu trường hợp tử vong vì ung thư [17]. Tại Việt Nam,
1.1.2. Tình hình bệnh ung thư trên thế giới
Ung thư là vấn đề sức khoẻ được quan tâm ở nhiều nước. Theo khuyến cáo của Tổ
chức Y tế Thế Giới (WHO) về mô hình bệnh tật trong thế kỉ 21: Các bệnh không lây
nhiễm trong đó có ung thư sẽ trở thành nhóm bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người
(chiếm 54% nguyên nhân gây tử vong), nhóm bệnh nhiễm trùng sẽ bị đẩy xuống hàng thứ
yếu (chỉ chiếm 16% nguyên nhân gây tử vong). Cùng với sự gia tăng kinh tế, lối sống thay
đổi, công nghiệp phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái ngày càng
trở nên trầm trọng. Bên cạnh đó, cơ cấu dân số già đi do tuổi thọ trung bình tăng trong khi
bệnh ung thư lại hay xảy ra ở nhóm tuổi già. Đó là những lý do giải thích vì sao bệnh ung
thư ngày càng tăng lên [1].
Đáng chú ý, ung thư là một trong 8 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới,
đứng trên cả HIV/AIDS, lao và các loại sốt rét. Năm 2008, ước tính có 12,7 triệu trường
hợp được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và có 7,6 triệu trường hợp tử vong vì ung thư trên
toàn thế giới. Trong đó, hơn 60% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập
thấp và trung bình- nơi vẫn còn đang thiếu thốn về các nguồn lực và hệ thống chăm sóc
sức khỏe để giảm nhẹ các gánh nặng bệnh tật [17].
Hơn nữa, gánh nặng về bệnh ung thư trên toàn cầu đang gia tăng ở một mức độ đáng
báo động. Dự báo đến năm 2030 sẽ có khoảng 21,4 triệu ca mắc ung thư mới và 13,2 triệu
người chết vì ung thư (tính đơn giản theo sự gia tăng và lão hóa của dân số) [14].
Ở vùng châu Á Thái Bình Dương, ung thư là một trong 3 nguyên nhân chính gây tử
vong. Tỉ lệ tử vong do ung thư lên tới 100/100.000 dân ở các nước Úc, Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc và Singapo. Châu Á –Thái Bình Dương với đặc thù dân cư đông đúc cũng
là khu vực có tỷ lệ bệnh nhân ung thư cao nhất với tỷ lệ mới mắc là 42,39% và tỷ lệ tử
vong là 46,68% [23].
Hình 1.1. Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong bệnh ung thư tại các khu vực trên thế giới
Theo số liệu của cơ quan quốc tế về nghiên cứu ung thư (International Agency for
Research of Cancer-IARC), năm 2008, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt và
ung thư đại trực tràng là những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Ung thư vú là loại
ung thư có tỷ lệ người mắc cao nhất trong khi ung thư phổi là loại ung thư có tỷ lệ tử vong
cao nhất (hình 1.2).
Mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quá trình điều trị. Các phương pháp
sẽ bổ sung cho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh, giải quyết một cách triệt
để nhất bệnh ung thư.
Các phương pháp điều trị ung thư (ĐTƯT) thường áp dụng hiện nay bao gồm [10]:
- Các phương pháp điều trị tại chỗ gồm có: phẫu thuật và xạ trị. Các phương pháp
này có khả năng điều trị triệt để khi bệnh còn ở giai đoạn sớm, tổn thương ung thư chỉ khu
trú ở tại chỗ hoặc tại vùng. Nếu ung thư đã có di căn xa, có thể vẫn phải dùng phẫu thuật
hay xạ trị để điều trị tạm thời hoặc giải quyết các triệu chứng.
- Các phương pháp điều trị toàn thân gồm có điều trị hóa chất (dùng các tác nhân
chống ung thư), điều trị nội tiết (dùng nội tiết tố hoặc kháng nội tiết tố) và điều trị miễn
dịch (làm tăng sức đề kháng của cơ thể để diệt tế bào ung thư). Các phương pháp này
được áp dụng điều trị ung thư có tính chất toàn thân hoặc đã lan rộng.
Trong đó, điều trị hóa chất là một phương pháp quan trọng. Bởi lẽ, hiện tại, ngay cả
ở những nước phát triển cũng có nhiều bệnh nhân ung thư khi đến khám bệnh đã ở giai
đoạn muộn, sau khi được điều trị bằng các phương pháp tại chỗ bao gồm phẫu thuật, tia
xạ, các ổ di căn xa vẫn tồn tại và hoàn toàn cần thiết phải được điều trị bằng phương pháp
toàn thân. Hóa chất không chỉ được sử dụng để điều trị ung thư mà còn để kéo dài sự sống
hoặc làm giảm bớt sự đau đớn cho bệnh nhân. Hiện nay, việc áp dụng điều trị hóa chất
trong ung thư đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Nhiều thuốc mới ra đời với xu hướng tác dụng
chống ung thư ngày càng hiệu quả và tác dụng phụ được hạn chế tối đa. Bên cạnh đó,
nhiều phác đồ phối hợp thuốc có hiệu quả cao được xây dựng để điều trị đặc hiệu cho từng
loại bệnh ung thư cụ thể [11], [24].
Phân loại theo mã ATC bậc 3, thuốc điều trị ung thư có các nhóm [27]:
Nhóm tác nhân alkyl hóa (L01A) (VD: cyclophosphamid, ifosfamid,
chlorambucil, )
Nhóm chất kháng chuyển hóa (L01B) (VD: methotrexat, capecitabin,
cytarabin, )
Nhóm alcaloid thực vật và các sản phẩm tự nhiên khác (L01C) (VD:
paclitaxel, docetaxel, vicristin, )
Nhóm kháng sinh gây độc tế bào và các chất liên quan (L01D) (VD:
35,1 4,37
9 Loét dạ dày tá tràng
28,5 3,55
10 Bệnh tự miễn
21,1 2,63
Tổng tất cả các nhóm
802,5 100,00
Cũng theo số liệu của IMS Health, từ năm 2006 đến năm 2010, doanh số của nhóm
thuốc điều trị ung thư liên tục tăng cả về giá trị và tỷ trọng trong toàn bộ doanh số của tất
cả các nhóm thuốc (hình 1.4).
Hình 1.4. Doanh số thuốc điều trị ung thư trên toàn thế giới giai đoạn 2006–2010 [19],
[21]
Lý do cho sự tăng trưởng của thị trường thuốc điều trị ung thư đó là: sự gia tăng sử
dụng phương pháp điều trị theo tuyến đích với các sản phẩm có giá trị cao và thời gian
điều trị cho bệnh nhân lâu hơn do các phương pháp điều trị kéo dài sự sống và có hiệu quả
hơn [18].
Chính vì vậy, IMS Health dự báo rằng sẽ không có nhóm thuốc nào có thể vượt qua
doanh số của thuốc điều trị ung thư cho tới năm 2020 [20].
1.2.2. Thị trường thuốc điều trị ung thư tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhu cầu về dược phẩm tăng 20% hàng năm. Chi phí bình quân cho
dược phẩm năm 2009 là 19,77 USD, cao hơn năm 2008 20% (16,45 USD) và gấp 3 lần
năm 2001 (6 USD). Theo thống kê của tổ chức BMI (Bussiness Monitor International),
năm 2010, Việt Nam đã chi khoảng 1,71 tỷ USD cho dược phẩm tăng 19,5% so với năm
2009 [12], [15].
Trước nhu cầu sử dụng thuốc của người dân ngày càng tăng đi đôi với nhu cầu sử
dụng các thuốc chất lượng cao thì ngành Dược cần không ngừng phát triển về quy mô và
chất lượng. Tuy nhiên, khả năng sản xuất thuốc trong nước chỉ đáp ứng được gần 50% nhu
cầu sử dụng thuốc của nhân dân, trong đó 90% nguyên liệu là nhập khẩu. Chính vì vậy,
thuốc nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống y tế ở nước ta [6].
Bảng 1.2. Giá trị và tỷ trọng thuốc nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010 [6]
STT Nhóm thuốc
Indon-
esia
Philip-
in
Việt
Nam
Thái
Lan
Malay-
sia
Singa-
po
ASEAN
1
Chuyển hóa,
dinh dưỡng
27 20
20
14 18 12 18
2 Kháng sinh 17 15
19
18 15 14 17
3 Tim mạch 9 17
16
16 18 13 16
4 Hô hấp 11 11
9
7 9 7 9
5 Thần kinh TW 10 8
tổng số đăng ký (thể hiện mức độ cạnh tranh) sẽ được đưa vào phân tích song song với
từng nội dung nghiên cứu. Các chỉ số này được rút ra dựa trên các nghiên cứu định lượng
về sử dụng, tiêu thụ thuốc. Do đó, chúng tôi thực hiện phần tổng quan này nhằm mô tả các
loại nghiên cứu và các chỉ số tương ứng các nghiên cứu về sử dụng/tiêu thụ thuốc.
1.3.1. Nghiên cứu dựa trên chi phí
Các nghiên cứu về chi phí thuốc đem lại thống kê ban đầu về tương quan giữa chi
phí sử dụng thuốc so với tổng chi phí y tế, đặc biệt trên quy mô quốc gia. Trên thực tế, khi
triển khai các nghiên cứu này, nhà nghiên cứu thường thực hiện so sánh giữa chi phí sử
dụng thuốc với thu nhập bình quân đầu người [22].
Nghiên cứu về chi phí có một số hạn chế như: không cung cấp chính xác về số
lượng thuốc được bán ra hay số lượng thuốc thực tế được người dân sử dụng, hơn nữa giá
thuốc khác nhau giữa các quốc gia gây ra những khó khăn trong việc so sánh chi phí tiêu
thụ thuốc giữa các quốc gia. Nghiên cứu dài hạn cũng gặp khó khăn do những biến động
về tiền tệ và những thay đổi trong giá thuốc [25].
1.3.2. Nghiên cứu dựa trên số lượng đơn vị đóng gói
Đánh giá sự tiêu thụ dựa trên số lượng đơn vị đóng gói (viên, lọ, ống, ) đưa ra
những đánh giá chính xác về tiêu thụ thuốc hơn là đánh giá theo chi phí. Nghiên cứu này
hay được sử dụng để đánh giá sử dụng thuốc trong cả một giai đoạn hoặc so sánh giữa các
quốc gia [22].
Hạn chế của nghiên cứu này đó là với cùng một hoạt chất theo thời gian và giữa các
quốc gia có thể có nhiều biệt dược với dạng bào chế, nồng độ hàm lượng và quy cách đóng
gói khác nhau, do đó gây khó khăn cho việc định lượng tiêu thụ. Tuy nhiên, nếu làm được
các nghiên cứu này sẽ cho thấy biến động về chủng loại biệt dược ứng với dùng 1 hoạt
chất, theo thời gian [22].
1.3.3. Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc
Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc có thể phản ánh mối quan hệ giữa người thầy thuốc
và bệnh nhân và sự thay đổi của mối quan hệ đó trong một giai đoạn thời gian. Hạn chế
của phương pháp này là không thể thực hiện được trừ khi sự khảo sát bao gồm cả những
chẩn đoán và những vấn đề liên quan khác. Không may là, những thông tin này thường rất
khó để có được vì một vài lý do hơn nữa sự khảo sát loại này có trở ngại là thường đắt
hình nhập khẩu thuốc thành phẩm trong năm 2007” đã được thực hiện. Bên cạnh những kết
quả thu được về tình hình nhập khẩu thuốc trong năm 2008, đề tài cũng đã xây dựng được
“chương trình quản lý thông tin thuốc nhập khẩu”. Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa có những
đánh giá về cơ cấu và các xu hướng nhập khẩu của các thuốc điều trị ung thư [9].
Năm 2011, tác giả Lê Thị Phương Hoa tiếp tục nghiên cứu đề tài “Phân tích thực
trạng nhập khẩu các thuốc kháng khuẩn trong giai đoạn 2006-2010” với những nội dung về
phân tích cơ cấu và xu hướng nhập khẩu của nhóm thuốc kháng khuẩn [8] .
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào đánh giá
thực trạng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư thông qua phân tích cơ cấu và xu hướng
nhập khẩu của các thuốc điều trị ung thư.
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các thuốc điều trị ung thư được nhập
khẩu vào Việt Nam giai đoạn 2006- 2010.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/2/2013 – 21/5/2013.
Địa điểm nghiên cứu:
Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược - Đại học Dược Hà Nội
Phòng Quản lý giá thuốc - Cục quản lý Dược - Bộ Y tế
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả
2.4. Nội dung nghiên cứu
Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các nhóm thuốc điều trị ung thư giai đoạn
2006- 2010
Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các hoạt chất điều trị ung thư giai đoạn
2006- 2010
Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư theo quốc gia
xuất xứ giai đoạn 2006- 2010
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu
Việc khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu được thực hiện cho 20 hoạt chất điều
trị ung thư thỏa mãn một trong hai yêu cầu:
- Nằm trong nhóm 20 hoạt chất có giá trị KNNK lớn nhất trong ít nhất 3 năm giai
đoạn 2006-2010
- Nằm trong nhóm 5 hoạt chất có giá trị KNNK lớn nhất trong ít nhất 1 năm giai
đoạn 2006-2010
Bảng 2.1. Các hoạt chất được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai đoạn
2006-2010
STT Hoạt chất Mã ATC
1 Anastrozol L02BG03
2 Bevacizumab L01XC07
3 Calci folinat V03AF03
4 Capecitabin L01BC06
5 Carboplatin L01XA02
6 Cisplatin L01XA01
7 Docetaxel L01CD02
8 Doxorubicin L01DB01
9 Epirubicin L01DB03
10 Gemcitabin L01BC05
11 Goserelin L02AE03
12 Ifosfamid L01AA06
13 Irinotecan L01XX19
14 Liposomal Doxorubicin L01DB01
15 Oxaliplatin L01XA03
16 Paclitaxel L01CD01
17 Rituximab L01XC02
18 Tamoxifen L02BA01
19 Trastuzumab L01XC03
20 Triptorelin L02AE04
Việc khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu theo xuất xứ được thực hiện cho 14
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010
3.1.1. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo KNNK
Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK của các thuốc điều trị ung thư giai đoạn 2006-2010
được thể hiện trong hình 3.1.
Hình 3.1. Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK các thuốc ĐTƯT
Hình 3.1 cho thấy:
Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị KNNK của các thuốc điều trị ung thư có xu
hướng tăng đáng kể. Cụ thể, giá trị KNNK của các thuốc điều trị ung thư đã tăng hơn 4 lần
từ 16,2 triệu USD (2006) lên 64,5 triệu USD (2010). Tỷ trọng giá trị KNNK của các thuốc
điều trị ung thư so với tổng KNNK của tất cá nhóm thuốc cũng có xu hướng tăng từ 3,15%
năm 2006 lên 5,54 % năm 2010.
3.1.2. Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo số lượng SĐK
Số lượng SĐK và số lượng hoạt chất (HC) của các thuốc điều trị ung thư được thể
hiện trong bảng 3.1.
Bảng 3.1. Số lượng SĐK và số lượng hoạt chất các thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Số lượng SĐK 136 148 164 191 180
Số lượng HC 44 49 48 52 55
Số lượng SĐK/Số lượng HC
3,09 3,02 3,42 3,67 3,27
Bảng 3.1 cho thấy:
Số lượng SĐK các thuốc điều trị ung thư có xu hướng tăng từ năm 2006 (136 SĐK)
đến năm 2009 (191 SĐK). Đến năm 2010, số lượng SĐK các thuốc điều trị ung thư có xu
hướng giảm xuống còn 180 SĐK.
Số lượng các hoạt chất ĐTƯT được nhập khẩu vào Việt Nam có xu hướng tăng (từ
44 hoạt chất năm 2006 lên 55 hoạt chất năm 2010). Bên cạnh đó, số lượng SĐK cho mỗi
hoạt chất trung bình từ 3-4 hoạt chất mỗi năm.
So sánh số lượng SĐK với giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK của các thuốc điều trị
ung thư trong giai đoạn 2006-2010 nhận thấy:
- Nhóm các tác nhân chống ung thư khác (L01X) có xu hướng tăng về tỷ trọng giá
trị KNNK so với tổng KNNK của tất cả các nhóm thuốc điều trị ung thư. Cụ thể, tỷ trọng