Tiểu luận Kinh tế phát triển
I. Giới thiệu về Vinashin
1. Lịch sử hình thành
Ngành công nghiệp Tàu thủy Việt Nam khởi nguồn từ những năm 1958 -
1960, với tên ban đầu là cơ khí thủy, trực thuộc Cục Cơ khí - Bộ Giao thông
Vận tải. Sự hình thành và phát triển của Ngành gắn liền với đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trên Đất
nước Việt Nam.
Trong giai đoạn 1975 – 1985: các cơ sở đóng tàu của Việt Nam vừa ít ỏi
lại vừa thoát khỏi chiến tranh. Chúng ta vừa phải phục hồi vừa phải xây dựng
lại vừa phải tổ chức sản xuất, đơn vị chủ quản cấp trên là Cục Cơ khí vừa làm
chức năng quản lý nhà nước vừa làm chức năng quản lý doanh nghiệp.
Giai đoạn 1986 – 1995: lực lượng cơ khí thủy trong Cục Cơ khí được
tách ra tổ chức hoạt động dưới dạng Liên hiệp các xí nghiệp, giai đoạn này
ngành Đóng tàu dần dần được hồi sinh nhưng chưa có định hướng phát triển
rõ ràng, năng lực sản xuất hạn chế, tàu lớn nhất đóng được có trọng tại
khoảng 3.800 tấn.
Ngày 31/01/1996: Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam được
thành lập trên cơ sở sắp xếp lại các cơ sở đóng tàu trong cả nước, giai đoạn
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã
có những quyết định số 1420/QĐ – TTg ngày 21/11/2001 và Quyết định
1055/QĐ – TTg ngày 21/11/2002 về việc phê duyệt Đề án phát triển Tổng
Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam và quy hoạch tổng thể ngành Công
nghiệp ngành tàu thủy Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 với mục tiêu chính là
xây dựng và phát triển Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam lớn
mạnh, có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại trở thành nòng cốt của của
ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của Đất nước.
Để tổ chức và hoạt động cũng như đầu tư phát triển có hiệu quả hơn, Thủ
tướng Chính phủ đã có quyết định số 60/2003/QĐ-TTg ngày 04/11/2003 về
việc thí điểm Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam chuyển sang hoạt
phòng tập đoàn có: 14 Ban chuyên môn nghiệp vụ và 32 Phòng thuộc các Ban
nghiệp vụ.
Một số chi nhánh còn lại của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt
Nam, Tập đoàn đã chuyển thành Công ty TNHH một thành viên hoạt động
theo Luật doanh nghiệp. Sau khi các dự án đầu tư này đi vào hoạt động có
Học viên: Trần Anh Dũng Lớp: Cao học Kinh tế phát triển
Trang: 2
Tiểu luận Kinh tế phát triển
hiệu quả, tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, Tập đoàn sẽ nhượng lại
một phần vốn điều lệ của các công ty này để chuyển thành các công ty cổ
phần, thu hồi vốn đầu tư.
b, Ngành nghề kinh doanh chính và ngành nghề kinh doanh có liên quan
của Tập đoàn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Kinh doanh tổng thầu đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ, thiết bị và
phương tiện nổi; Chế tạo kết cấu dàn khoan; Thiết kế thi công công trình
thuỷ, nhà máy đóng tàu, phá dỡ tàu cũ;
- Sản xuất các loại vật liệu, thiết bị cơ khí, điện, điện lạnh, điện tử phục
vụ công nghiệp tàu thuỷ; Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cơ khí, phụ tùng, phụ
kiện tàu thuỷ và các loại hàng hoá liên quan đến ngành công nghiệp tàu thuỷ;
- Lập dự án, chế thử, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Công nghiệp Tàu thuỷ; Tư
vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ; Đào tạo, cung ứng xuất khẩu lao động trong
ngành công nghiệp tàu thuỷ;
- Dịch vụ, khách sạn, cung ứng hàng hải; Dịch vụ Logistic, tàu mẫu,
quảng cáo; Tổ chức, khai thác thực nghiệm năng lực các phương tiện vận tải
thuỷ mới sản xuất; Vận tải biển;
- Sản xuất, mua bán thép đóng tàu, thép cường độ cao; Sản xuất, lắp ráp
động cơ Diezel, động cơ lắp đặt cho tàu thuỷ; Sản xuất, lắp ráp trang thiết bị
nội thất tàu thuỷ; Mua, bán, vận tải dầu thô, sản phẩm dầu khí;
- Lắp ráp, phục hồi, sửa chữa, xuất nhập khẩu và mua bán vật tư, thiết bị
giao thông vận tải (trừ vật tư thiết bị, phương tiện giao thông vận tải cấm xuất
126,5 tỷ đồng, năm 2006 là 503,3 tỷ đồng, năm 2007 là 858,8 tỷ đồng, năm
2008 là 645,1 tỷ đồng); đến hết năm 2009 đã đóng góp vào ngân sách nhà
nước trên 3.300 tỷ đồng.
Tập đoàn đã có bước phát triển đáng kể về năng lực đóng và sửa chữa
tàu biển; đến năm 2008, có đội ngũ lao động gần 70 nghìn người, trong đó,
trình độ đại học và trên đại học hơn 12 nghìn, công nhân kỹ thuật trên 55
nghìn. Tính đến đầu năm 2009, Tập đoàn đã có số đơn đặt hàng đóng tàu với
tổng giá trị gần 12 tỷ USD.
Tập đoàn đã hoàn thành đóng và bàn giao được 279 tàu trị giá trên 1,8 tỷ
USD, bao gồm: 59 tàu trọng tải 6.500 và 15.000 tấn, 9 tàu 22.500 và 34.000
Học viên: Trần Anh Dũng Lớp: Cao học Kinh tế phát triển
Trang: 4
Tiểu luận Kinh tế phát triển
tấn, 9 tàu 53.000 tấn, 6 tàu container, 1 tàu chở ô tô 4.900 xe, 1 kho nổi chứa
xuất dầu thô 150.000 tấn với trang thiết bị hiện đại và nhiều loại tàu khác.
Trong số tàu trên, đã xuất khẩu 155 tàu, trị giá trên 1,1 tỷ USD.
Từ cuối năm 2008, Vinashin gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh bị
đình trệ, không thu xếp được vốn để thực hiện các hợp đồng đã ký. Tập đoàn
lâm vào tình trạng thua lỗ (năm 2009 lỗ 1.600 tỷ đồng).
Thực trạng này có nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng nặng nề của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều chủ tàu đã
hủy hợp đồng (từ đơn hàng có giá trị gần 12 tỷ USD xuống chỉ còn trên 2 tỷ).
Song nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, trước hết là do việc cố ý làm
trái, báo cáo không trung thực và yếu kém của lãnh đạo Tập đoàn trong quản trị
doanh nghiệp, quản lý tài chính và đầu tư, phát triển thêm quá nhiều doanh
nghiệp và ngành nghề kinh doanh…Trong khi đó, một số cơ quan chức năng
thuộc Chính phủ chưa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý của
chủ sở hữu đối với Tập đoàn.
Khi được báo cáo tình hình quản lý yếu kém và sai trái của lãnh đạo
Vinashin, Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ chức năng, Bộ quản lý ngành liên tục