LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp tăng cường công tác
bảo vệ môi trường trong quản lý khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh” là công
trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả, ý kiến nêu trong luận
văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây. Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Đỗ Văn Chung LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả Luận văn xin bày tỏ sự cảm ơn chân
thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Uân vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác
giả trong quá trình thực hiện luận văn tại trường Đại học Thuỷ lợi.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo đã tận
tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và toàn thể cán bộ, nhân viên trường Đại học
Thuỷ lợi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và
nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình học.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, đồng nghiệp, các cơ quan
hữu quan, bạn bè và gia đình đã động viên, quan tâm, giúp đỡ tạo điều kiện cho
tác giả hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này.
Bảng 2.1: Thống kê thị trường xuất khẩu than 7 tháng đầu năm 2013 48
Bảng 2.2: Khối lượng các chất thải rắn (đất đá thải, m
3
) của các mỏ lộ thiên
vùng Quảng Ninh trong các năm gần đây 55
Bảng 2.3: Mức độ tạo bụi của các hoạt động khai thác than 57
Bảng 2.4: Tình hình quản lý phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp 66
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết tắt đầy đủ
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CHLB Cộng hòa Liên bang
CP
Chính phủ
CP Cổ phần
dB Đơn vị hàm loga
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND Hội đồng nhân dân
KH Kế hoạch
NĐ Nghị định
NEDO
Cơ quan Phát triển năng lượng công nghiệp
NQ Nghị quyết
1.1.3. Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu
phát triển bền vững 9
1.2. Vai trò, nội dung và công cụ quản lý nhà nước về môi trường 14
1.2.1. Vai trò của quản lý môi trường 14
1.2.2. Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường 18
1.2.3. Các công cụ quản lý môi trường 19
1.3. Vai trò của Ngành công nghiệp khai thác than ở nước ta 26
1.3.1. Đóng góp vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia 26
1.3.2. Đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 28
1.4. Tác động môi trường của hoạt động khai thác than 28
1.5. Vai trò, nội dung của công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than
32
1.5.1. Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong khai thác than 32
1.5.2. Nội dung của công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than 34
1.5.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bảo vệ môi trường trong
khai thác than 35
1.6. Những kinh nghiệm về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản nói
chung, khai thác than nói riêng trên thế giới và bài học cho Việt Nam 38
1.6.1. Những kinh nghiệm về bảo vệ môi trường trong khai thác
khoáng sản trên thế giới 38
1.6.2. Những kinh nghiệm quốc tế, rút ra bài học cho Việt Nam về bảo
vệ môi trường trong khai thác khoáng sản nói chung, khai thác than
nói riêng 40
Kết luận Chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG KHAI THÁC THAN TẠI TỈNH QUẢNG NINH TRONG
NHỮNG NĂM QUA 43
2.1. Sơ lược về tình hình khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh 43
2.1.1. Vài nét về tỉnh Quảng Ninh 43
3.5. Các giải pháp hỗ trợ 101
3.5.1. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 101
3.5.2. Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ ngành than 101
3.5.3. Giải pháp về trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng 102
Kết luận Chương 3 103
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và
Nhà nước đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển nhanh
chóng và mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển kinh tế là các vấn đề môi trường diễn
ra ngày càng phức tạp. Nguy cơ ô nhiễm môi trường đang ở tình trạng báo động
ở những quốc gia đang phát triển, nơi nhu cầu cuộc sống ngày càng xung đột
mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con
người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc dù đã có nhiều
tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song
chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ
lúc nào như than đá, dầu mỏ, Quá trình khai thác, chế biến và đốt cháy các
nhiên liệu hoá thạch thường có ảnh hưởng tác động rất lớn đến môi trường. Nếu
như quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình khai thác than
lại gây ô nhiễm, suy thoái và có những sự cố môi trường diễn ra ngày càng phức
tạp đặt con người trước những thảm hoạ ghê gớm của thiên nhiên kết cục này sẽ
ảnh hưởng trở lại tới phát triển kinh tế của con người.
bền vững trong khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình, với mong muốn đóng góp những kiến thức và hiểu biết của
mình trong công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội của địa phương.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận và những kết quả đánh giá thực trạng công tác bảo vệ
môi trường trong khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
, Luận văn nghiên
cứu một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than
nhằm phát triển bền vững sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh.
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a. Cách tiếp cận
Dựa trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý môi
trường, phát triển bền vững, yêu cầu về bảo vệ môi trường trong khai thác tài
nguyên thiên nhiên và các hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý
môi trường để xem xét, nghiên cứu giải quyết vấn đề.
b. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài, Luận văn áp dụng các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra khảo sát; Phương pháp thống kê; Phương
pháp hệ thống hóa; Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp phân tích tổng
hợp; Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy; Phương pháp
chuyên gia.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác bảo vệ môi trường trong khai
thác than tại tỉnh Quảng Ninh, những nhân tố ảnh hưởng và những giải pháp
nhằm tăng cường hiệu quả công tác này.
b. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than tại
triển bền vững trong khai thác than.
Chương 2: Thực trạng công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than tại
tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong
quản lý khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.
1
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG KHAI THÁC THAN
1.1. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về môi trường
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: “Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và
sinh vật”.
Theo định nghĩa trên thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ
với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với nhau tạo thành trung
tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác của môi trường.
Như vậy bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi
trường của nó. Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và
nghiên cứu bảo vệ nó là môi trường sống bao quanh con người.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác
động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả không khí, động,
thực vật, đất,nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
thư thái về tinh thần thoả mãn những nhu cầu tâm lý.
Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên những tác động xấu đến môi
trường, làm cho môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ, bị ô nhiễm
nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn của hành tinh chúng ta. Vì vậy, vấn đề môi
3
trường và phát triển đã trở thành vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta. Ở nước
ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết
giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong
thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Theo khoản 3 Điều 3 Luật
Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt
động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu
đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thối,
phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.
Theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, các nguyên
tắc bảo vệ môi trường bao gồm:
- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo
đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia
phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu;
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm
của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là
chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi
trường;
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn;
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có
trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo
quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Phát triển bền vững
5
gán tội là chống lại các thành tựu phát triển kinh tế đã hiện hình trước mắt và
luôn luôn được tụng xưng, ca ngợi theo cách hiểu của tăng trưởng kinh tế.
- Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ: Đây là nguyên tắc cốt lõi của
phát triển bền vững, yêu cầu rõ ràng ràng, việc thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện
nay không được làm phương hại đến các thế hệ tương lai thoả mãn nhu cầu của
họ. Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả các
nguyên tắc khác của phát triển bền vững.
- Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ: Con người trong cùng thế hệ
hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách bình đẳng trong khai thác các nguồn
tài nguyên, bình đẳng chung hưởng một môi trường trong lành và sạch sẽ.
Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối quan hệ giữa các nhóm người trong
cùng một quốc gia và giữa các quốc gia. Nguyên tắc này ngày càng được sử
dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế. Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia,
nó cực kỳ nhạy cảm đối với các nguồn lực kinh tế - xã hội và văn hoá.
- Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền: Các quyết định cần phải được soạn
thảo bởi chính các cộng đồng bị tác động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và
gần gũi nhất với họ. Các quyết định cần ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế,
mức địa phương hơn là mức quốc gia. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát
sự uỷ quyền của các hệ thống quy hoạch ở tầm quốc tế, nhằm cổ vũ quyền lợi
của các địa phương về sở hữu tài nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về
các giải pháp riêng của họ, áp lực ngày càng lớn đòi hỏi sự uỷ quyền ngày càng
tăng. Tuy nhiên, cần phải hiểu cho đúng rằng địa phương chỉ là một bộ phận của
các hệ thống rộng lớn hơn chứ không được thực thi chức năng một cách cô lập.
Thường thì các vấn đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa
phương, ví dụ như sự ô nhiễm “ngược dòng" của nước láng giềng hay cộng đồng
lân cận. Trong trường hợp đó, nguyên tắc uỷ quyền cần được xếp xuống thấp
hơn các nguyên tắc khác.
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền: Người gây ô nhiễm phải
6
cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập
nâng cao hiểu biết, Những cái đó không gì khác là các yếu tố môi trường.
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức
lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con
người. Hay nói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra
nhiều thảm họa cho con người (thiên tai) và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu
con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân
bằng tự nhiên.
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu
ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Quá trình sản
xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn).
Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái,
hoặc gây ra các sự cố về môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội
loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu
không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất
thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường.
Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân
cũng như của cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát
triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát
triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
8
Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu
thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, chất thải. Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành
lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để kinh tế - xã hội phát triển. Bảo vệ
môi trường là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả
hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai. Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi
ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi
trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về
kinh tế, xã hội, thể chất, trí tuệ con người ), thì sự phát triển đó không có ích gì.
Nếu hôm nay thế hệ chúng ta không quan tâm tới, không làm tốt công tác bảo vệ
môi trường, làm cho môi trường bị hủy hoại thì trong tương lai, con cháu chúng
ta chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ.
Như vậy, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ tương
tác rất chặt chẽ, thường xuyên, phụ thuộc và quy định lẫn nhau. Cách mạng khoa
học và kỹ thuật thúc đẩy mối quan hệ tương tác đó. Xã hội cần hướng tới một sự
phát triển bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường lấy con người làm trung tâm.
1.1.3. Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu phát
triển bền vững
Trong vài thập niên gần đây, ở khắp nơi trên thế giới, tình trạng ô nhiễm
môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường và những biến đổi bất lợi
của thiên nhiên đang hằng ngày, hằng giờ ảnh hưởng tới chất lượng sống của con
người. Việt Nam là quốc gia đang phát triển cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề
môi trường, như: Cạn kiệt tài nguyên, mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu,
nước biển dâng, ô nhiễm môi trường sống. Vấn đề bảo vệ môi trường được coi là
một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Vì vậy, vấn đề này đã
được văn kiện các kỳ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam liên tục đề cập đến. Văn
kiện đã định ra các quan điểm, giải pháp phù hợp, kịp thời, đặc biệt Đại hội
10
Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhận định: “Môi trường ở nhiều nơi
đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử
dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp”. Vì vậy, bảo vệ
môi trường ngày càng trở thành một trong những chính sách quan trọng của
Đảng và Nhà nước.
soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng
sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại
bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”.
Những giải pháp chiến lược then chốt được lựa chọn bao gồm: Tăng
cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức sử dụng tiết
kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Tăng
cường quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; Đổi mới,
hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực
cho quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Coi trọng hợp tác, hội nhập quốc
tế về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Một số kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế của hệ thống chính sách
pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản:
1. Những kết quả đạt được
+ Hệ thống pháp luật về tài nguyên khoáng sản đã xác lập các yêu cầu về
bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Bên cạnh những cơ chế
quản lý nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn tài nguyên
khoáng sản và giám sát đối với quá trình khai thác, chế biến khoáng sản, pháp
luật về khoáng sản nói riêng và pháp luật về môi trường nói chung đều có riêng
những quy định về vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản. bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã được quy định
12
cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Khoáng sản năm 2010 và
các văn bản hướng dẫn thi hành cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.
Các văn bản này đã quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; các
hành vi bị cấm; các biện pháp chế tài xử lý vi phạm; các công cụ quản lý; hệ
thống các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
+ Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản đã
phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng, cụ thể cho các cơ quan
kinh tế này cũng đòi hỏi những yêu cầu đặc thù khác nhau, trong khi chưa có
những quy định đặc thù để giải quyết xung đột về môi trường giữa hoạt động
khoáng sản với các hoạt động khác. Các văn bản hiện nay chưa làm rõ căn cứ để
lựa chọn khi có xung đột về môi trường giữa khai thác khoáng sản với các ngành
kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp, du lịch. Việc thiếu những tiêu chí cần thiết
làm cơ sở pháp lý cho sự lựa chọn khiến cho các quyết định đưa ra có thể dựa
trên những ý chí chủ quan nhất định và gây ra những tranh cãi về bảo vệ môi
trường, bảo vệ nguồn tài nguyên dự trữ.
- Ngoài ra, các quy định hiện hành cho thấy có sự mất cân đối giữa yêu
cầu về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và yêu cầu cũng
như cơ chế đảm bảo cho việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản.
Trong khi, vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản có
những yêu cầu rất cụ thể về công nghệ sử dụng; trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân liên quan; nộp phí môi trường; ký quỹ phục hồi môi trường thì yêu cầu
đối với việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản không có nhiều
cơ chế pháp lý để ràng buộc. Ngay chính trong cơ chế quan trọng nhất là cấp
phép khai thác cũng như thu thuế tài nguyên cũng chưa được xây dựng dựa trên
một quan điểm tài nguyên khoáng sản là tài sản của quốc gia, khả năng khai thác
là có hạn và là tài nguyên không thể tái tạo.
- Về chế tài xử lý, mặc dù Nghị định số 150/2004/NĐ-CP ngày 29/7/2004