VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MA THỊ THU
CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Hoàng Văn Tú
Hà Nội, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu "Chính sách giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh
Tuyên Quang" của Luận văn này là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng, tìm tòi và
sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người
hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Văn Tú. Tôi xin cam đoan số liệu và
kết quả nghiên cứu trong của công trình là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khoa học khác trong cùng lĩnh vực, phạm vi.
Những lời khai trên đây hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu trách
nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Ma Thị Thu
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám
đốc, các thầy, cô Khoa Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội đã tạo
điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS. Hoàng Văn Tú,
của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, là sản phẩm vận dụng các quy phạm pháp luật
vào đời sống thực tiễn, là công cụ để giữ gìn sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc
gia. Ở nước ta, "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế XHCN" là một nguyên tắc quan trọng của Nhà nước được Hiến pháp và
pháp luật thừa nhận. Để thực hiện nguyên tắc đó, việc giáo dục pháp luật (GDPL)
nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức pháp luật cho nhân dân nói chung và mọi
tầng lớp nhân dân tỉnh Tuyên Quang nói riêng là vấn đề cấp thiết bởi những lý do
sau:
Thứ nhất: Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, Đảng và Nhà nước
rất coi trọng việc giáo dục pháp luật trong nhân dân. Pháp luật giáo dục công dân
"tôn trọng và chấp hành Hiến pháp, pháp luật" và đảm bảo con người được phát
triển toàn diện về thể chất, đạo đức, trí tuệ, tinh thần, cống hiến và hoàn thiện ý thức
công dân, tuân thủ luật pháp. Chính vì vậy, hệ thống pháp luật phải không ngừng
được hoàn thiện và được thực hiện nghiêm chỉnh, pháp chế XHCN được củng cố và
tăng cường, mọi tổ chức, công dân trong xã hội phải có hiểu biết, có ý thức và tinh
thần tôn trọng pháp luật, xử sự theo yêu cầu, quy định của pháp luật.
Thứ hai: Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN ở nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trên nhiều
lĩnh vực, vẫn còn nhiều vấn đề xã hội đặt ra phải giải quyết, trong đó có vai trò,
năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Giáo dục nâng cao trình độ văn
hoá toàn diện, trang bị kiến thức pháp lý nhất định cho mọi người dân đặc biệt quan
trọng và cần thiết, bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận và phát triển, mọi công dân có
điều kiện, cơ hội tham gia, đóng góp tích cực và lành mạnh vào các quan hệ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2
Thứ ba: Đất nước ta đã và đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Mở
cửa hội nhập quốc tế một mặt đã tạo ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách
thức. Vì vậy, tổ chức thực hiện chính sách giáo dục pháp luật (CSGDPL), trang bị
kiến thức pháp luật (trong nước và quốc tế), hình thành văn hoá pháp lý cho mọi
mới, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển trong thời gian tới cần thiết phải
nghiên cứu, hoàn thiện, đổi mới phương thức, biện pháp đẩy mạnh CSGDPL, nâng
cao trình độ ý thức pháp luật cho mọi người dân.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Chính sách giáo dục pháp luật
từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn Thạc sĩ Chính sách công là yêu cầu
khách quan, cấp thiết cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Chính sách giáo dục
pháp luật từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang” cho thấy các nhà khoa học tiếp cận theo
nhiều cách, với những cấp độ khác nhau:
Nhóm thứ nhất, gồm các công trình nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý
luận về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật như các sách tham khảo, chuyên
khảo: “Bàn về giáo dục pháp luật” của PTS Trần Ngọc Đường và Dương Thị
Thanh Mai (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); “Xây dựng ý thức pháp luật và
lối sống theo pháp luật” của TSKH. Đào Trí Úc (Hà Nội, 2002); “Nghiệp vụ phổ
biến, giáo dục pháp luật” do Bộ Tư pháp biên soạn (Nxb Thanh niên, 1998); “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi
mới”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp năm 2004; “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về chính sách giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”,
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, MS 92-98-223-ĐT của Viện Nghiên cứu khoa
học pháp lý, Bộ Tư pháp; “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật Việt Nam” của
Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, 2004). Các công trình này đã
tập trung nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp
luật, về GDPL và đề cập đến một số biện pháp để xây dựng ý thức pháp luật, lối
sống theo pháp luật. Những vấn đề lý luận cơ bản nhất về GDPL như quan niệm về
CSGDPL theo các góc độ rộng và hẹp, chủ thể, đối tượng GDPL, mục đích của
CSGDPL đối với quá trình hình thành ý thức pháp luật của con người. Nhìn chung,
ở các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận cơ
bản về CSGDPL và đề cập một số biện pháp hình thành ý thức và lối sống theo
pháp luật. Tuy chưa thực sự sâu sắc, song các công trình nghiên cứu đã bước đầu
trị, xây dựng được một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, biện pháp GDPL
cho mọi đối tượng trong xã hội và mỗi địa phương. Về chủ trương, quan điểm của
Đảng, Nhà nước về GDPL là nhất quán. Tuy nhiên việc triển khai thực hiện thuận
lợi hay khó khăn ở mỗi địa phương có thể khác nhau tuỳ thuộc nhiều vào đặc điểm,
tình hình kinh tế - xã hội mỗi địa bàn.
Những nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên
cứu, sách chuyên khảo, luận án, bài báo trong chừng mực nhất định đã góp phần
làm sáng tỏ vấn đề lý luận thực tiễn quan trọng về GDPL nói chung. Tuy nhiên, đây
là một đề tài luận văn nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn
5
nhằm hoàn thiện CSGDPL nói chung và đặc biệt đối với địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khắc phục hạn chế trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3. 1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là nhằm hoàn thiện CSGDPLcho
mọi đối tượng nhân dân nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, Đề tài luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về CSGDPL ở Việt Nam
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Tập trung phân tích làm sáng tỏ các khái niệm, đặc
điểm, nội dung và vai trò quan trọng của CSGDPL đối với mọi tầng lớp nhân dân;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện CSGDPL cho mọi đối tượng nhân
dân tỉnh Tuyên Quang; trên cơ sở đó tìm ra những mặt được, chưa được, nguyên
nhân, bài học kinh nghiệm của thực trạng đó và những yêu cầu đặt ra đối với
CSGDPL cho mọi đối tượng nhân dân trên địa bàn Tuyên Quang hiện nay;
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện CSGDPL
cho mọi tầng lớp nhân dân nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng đáp ứng yêu
cầu đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần vào sự phát triển
chung của đất nước.
này. Các nhận định, đánh giá về thực trạng, kết luận và kinh nghiệm được đúc rút sẽ
góp phần cung cấp luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện các giải pháp thực hiện
CSGDPL của tỉnh Tuyên Quang trong tình hình mới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương, 9 tiết như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách giáo dục pháp luật
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh
Tuyên Quang
Chương 3. Phương hướng hoàn thiện chính sách giáo dục pháp luật ở tỉnh
Tuyên Quang hiện nay
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1.1. Khái niệm về chính sách pháp luật
Khái niệm CSPL cho đến nay ở nước ta vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy
đủ và có hệ thống. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm CSPL:
Khi tìm hiểu về CSPL thì trước hết cần phải nắm rõ chính sách là gì? Chính
sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là
được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị, đạo đức và pháp
quyền. Theo Từ điển tiếng Việt "chính sách" được hiểu là "sách lược và kế hoạch
cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế mà đề ra chính sách…"[50, tr. 1].
Theo chúng tôi, chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem
xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn
như chính trị hay pháp quyền như đã đề cập ở trên.
Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì
theo chúng tôi, chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những
mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí
pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính
hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh. Song quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, do đó GDPL là nhất quán, Nhà nước ban hành
CSPL và tổ chức tuyên truyền, GDPL để nhân dân hiểu biết pháp luật, tôn trọng
pháp luật và tự giác thực hiện pháp luật.
Chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với
bộ máy quyền lực công - Nhà nước. Nguyên tắc tổ chức thực thi quyền lực chính trị
là "Đảng đề ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể chế hóa đường lối, chính sách
của Đảng thành pháp luật". Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch
định chính sách của Đảng cầm quyền. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính sách
là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là tổ chức duy nhất có quyền đưa ra chính sách đúng
đắn. Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, xây
dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng chính do Nhà nước xây dựng và
ban hành chính sách. Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa
chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn
thiện chính sách. Và vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất gần gũi và
có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế độ Nhà nước
pháp quyền.
CSPL trong Nhà nước pháp quyền là sự phản ánh tính chính đáng, tính hợp
pháp của quyền lực Nhà nước, giải quyết mâu thuẫn giữa chính sách (chính trị), đạo
đức xã hội, tính chính đáng của Nhà nước. Nhà nước ban hành chính sách thông
9
qua các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ ngành thực hiện chức
năng quản lý nhà nước. Chính sách pháp luật gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết,
Nghị định, Quyết định, Thông tư. Pháp luật và chính sách có mối quan hệ hữu cơ,
chính sách là cơ sở, nền tảng để chế định, xây dựng nên pháp luật và đều do Nhà
nước ban hành, tổ chức thực hiện, bảo đảm điều kiện thực hiện. CSPL một mặt nó
thể hiện chính sách đã được dựa vào pháp luật, mặt khác, pháp luật được sử dụng
với tư cách là công cụ, phương tiện của quyền lực và của quản lý đời sống xã hội.
Do đó, CSPL là chiến lược hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực điều chỉnh
pháp luật cũng như phản ánh các lợi ích của xã hội trong việc phân bổ lại các lĩnh
hội không có cái gọi là “GDPL” và do vậy cũng không có cơ quan, đơn vị, tổ chức
hay cá nhân nào có chức năng CSGDPL.
Các quan niệm nói trên đều mang tính một chiều, chưa thấy hết được đặc thù,
sự tác động của CSGDPL. Bởi lẽ, bản thân pháp luật mới chỉ là văn bản, quy phạm
pháp luật, là mô hình ở dạng “tiềm năng”. Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống
thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: ban hành, tuyên truyền giáo
dục, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, trong cơ chế đó có yếu tố con người là cơ
bản. Khi tham gia các quan hệ pháp luật, con người phải suy nghĩ, lựa chọn cách xử
sự thể hiện qua hành vi. Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều
yếu tố chủ quan và khách quan. Việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ là điều
kiện cần nhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật.
Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ý thức đó phải
được hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách
quan và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân. Vấn đề đặt ra là
làm thế nào để hiểu rõ và có quan điểm đúng đắn về CSGDPL.
CSGDPL trong thực tiễn hiện nay theo quan niệm chung của nhiều nhà khoa học
đều tán thành theo nghĩa hẹp của giáo dục. Cơ sở của việc xây dựng khái niệm CSGDPL
xuất phát từ nghĩa hẹp của giáo dục còn được xác định qua các yếu tố sau đây:
Một là, khái niệm CSGDPL theo nghĩa hẹp còn có ý nghĩa trong việc phân
biệt phạm trù CSGDPL với phạm trù ý thức pháp luật. Hai phạm trù này có quan hệ
mật thiết với nhau nhưng không phải là một. Hoạt động CSGDPL đó chính là sự tác
động của nhân tố chủ quan mà trước hết là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có
chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thể. Còn sự hình thành ý thức pháp luật
là sản phẩm của điều kiện khách quan. Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa
quan trọng ở chỗ tạo ra khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của hoạt động
CSGDPL. Thực tiễn đã chỉ ra rằng nếu buông trôi, thả lỏng việc triển khai thực hiện
11
CSGDPL thì các nhân tố tiêu cực như: hiện tượng vi phạm pháp luật, phạm tội chưa
được xử lý nghiêm minh; hiện tượng nhận hối lộ, tham nhũng, lãng phí trong đội
ngũ CB, CC có thể tác động phản giáo dục rất mạnh lên nhận thức, tình cảm, lòng
của CSGDPL thể hiện ở mục đích, nội dung và hình thức, phương pháp. Nét đặc thù
của CSGDPL khác tương đối với các dạng giáo dục khác ở chỗ:
- CSGDPL có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm hình thành tri
thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật;
- CSGDPL có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ
bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một Nhà nước nói riêng về
hai hiện tượng nhà nước và pháp luật. Trong đó, pháp luật thực định hiện hành của
Nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng;
- Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp
giáo dục cũng có thể khái quát các nét đặc thù của CSGDPL. Chẳng hạn, CSGDPL
so với các dạng giáo dục khác, đó là quá trình tác động liên tục, thường xuyên, lâu
dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục. Vì
vậy, CSGDPL trở thành sợi dây gắn kết xuyên suốt qua các tế bào của xã hội, từ gia
đình, nhà trường, xã hội, các tập thể, các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
chính trị - xã hội. Nhân tố con người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạo
trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáo
dục (đối tượng). Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ chức, có định
hướng các thông tin pháp luật. Vì vậy, sự hiểu biết về trình độ, đặc điểm nhân thân
của người được giáo dục là đòi hỏi hàng đầu đối với người giáo dục. Người thực
hiện CSGDPL cần phải nắm vững tri thức pháp luật, biết cách chuyển tải nó và hơn
thế nữa phải là tấm gương, hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật.
Với khái niệm CSGDPL nêu trên, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc
trang bị tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm và thói quen pháp luật cho mọi công
dân là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, đoàn thể, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội và toàn hệ thống chính trị xã hội.
CSGDPL là một trong những mắt xích quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong
việc tăng cường pháp chế XHCN, là cách thức cơ bản nhất đưa tri thức pháp luật
đến với người dân, giúp mọi công dân hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ, thực
hiện pháp luật, sử dụng và áp dụng pháp luật, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ với
pháp luật trong đời sống, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong công cuộc
ở mỗi cá nhân. Tri thức pháp luật giúp con người điều khiển, kiềm chế hành vi của
mình trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý, tri thức pháp luật đã nhận thức được. Các
hành vi phù hợp với pháp luật chỉ được hình thành trên cơ sở nhận thức đúng, có
niềm tin và có tình cảm đúng đắn đối với pháp luật.
14
Thứ hai, hình thành, bồi dưỡng tình cảm và phát triển lòng tin đối với pháp
luật cho mọi công dân, mọi người dân.
Niềm tin vào pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi.
Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở, nền tảng để hình thành động cơ của hành vi
hợp pháp. Trong cuộc sống, cũng có những trường hợp có người có kiến thức, tri thức
pháp luật nhưng không có lòng tin vào pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên pháp luật, lợi
dụng kẽ hở của pháp luật để trục lợi. Khi con người tin vào tính công bằng của những
đòi hỏi của quy phạm luật thì không cần một sự tác động bổ sung nào của Nhà nước để
thực hiện những đòi hỏi đó, khi ấy họ tự có hành vi, lối ứng xử, thói quen xử sự hợp
pháp, hợp lý. Có lòng tin vào tính công bằng của pháp luật, con người sẽ có hành vi
phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cách độc lập, tự nguyện. Niềm tin pháp luật
được xây dựng trên các cơ sở sau:
- Giáo dục tình cảm công bằng. Nói đến pháp luật là nói đến sự công bằng.
Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá các quy
phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về tính công bằng của
pháp luật, tính công bằng giữa con người với pháp luật để từ đó tự đánh giá hành vi
bản thân và biết điều chỉnh trong quan hệ với người khác, quyền và nghĩa vụ chính
mình bằng các quy phạm pháp luật;
- Giáo dục tình cảm trách nhiệm. Đó là giáo dục ý thức về nghĩa vụ pháp lý.
Giáo dục tình cảm trách nhiệm nhằm hình thành ý thức tuân thủ pháp luật một
nguyên tắc xử sự của công dân trong các mối quan hệ với nhau, với cộng đồng xã
hội và với các cơ quan Nhà nước. Giáo dục tình cảm trách nhiệm làm cho người
được giáo dục nhận thức được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình phải dựa
trên cơ sở pháp luật và trong khuôn khổ pháp luật cho phép;
- Giáo dục ý thức đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi
Việc CSGDPL cho mọi tổ chức, công dân được thể hiện thông qua các nội
dung cơ bản dưới đây:
Một là, tổ chức thực hiện CSGDPL một cách có tính hệ thống. Các chương
trình, nội dung tập trung giới thiệu, hướng dẫn và giải thích rõ các quan điểm, chủ
trương về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và các văn bản quy phạm pháp
luật mới, văn bản pháp luật hiện hành, các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp
đến đời sống cán bộ, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, pháp luật về các
lĩnh vực chuyên ngành, về lao động, việc làm, hội nhập kinh tế quốc tế, về thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tệ nạn xã hội, an toàn giao thông, vệ
sinh an toàn thực phẩm; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Phát huy vai trò của các
luật gia, cán bộ công đoàn, cán bộ Đoàn TNCSHCM, đội thanh niên tình nguyện để
16
thực hiện GDPL thông qua phong trào các đoàn hội, liên đoàn, tổ chức tình nguyện,
các phương tiện thông tin đại chúng, khai thác tài liệu pháp luật. Câu lạc bộ pháp
luật, xét xử lưu động phù hợp với từng nhóm đối tượng người dân, đoàn viên, thanh
thiếu niên và từng địa bàn cư trú, tính chất công việc, học tập, lao động, ngành
nghề, đặc điểm lứa tuổi, tâm lý và nhu cầu của đối tượng, phối hợp với các cơ quan
nhà nước và các tổ chức liên quan trong thực hiện CSGDPL cho nhân dân;
Hai là, cơ quan, tổ chức có chức năng liên quan các cấp cấp chịu trách nhiệm
giáo dục mọi công dân trong xã hội tuân thủ và chấp hành pháp luật.
Đã là pháp luật, pháp chế đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế,
xã hội, CB, CC, VC, mọi công dân phải triệt để tuân thủ và chấp hành thường
xuyên, nghiêm túc. Việc xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật là quan trọng nhưng
quan trọng và khó khăn hơn chính là việc tổ chức thực hiện, đưa pháp luật vào cuộc
sống, biến pháp luật thành hoạt động thực tiễn của nhân dân. Vì vậy, sau khi Nhà
nước ban hành pháp luật thì các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng liên quan
phải tổ chức thực hiện pháp luật, làm tốt vai trò này cũng chính là quá trình củng
cố, tăng cường pháp chế XHCN. Pháp luật phải được tuân theo và chấp hành
thường xuyên, nghiêm chỉnh trong cuộc sống, do đó, biện pháp có ý nghĩa quyết
định là phải tổ chức thực hiện, nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý, năng lực
hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Và "điều kiện
quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng
cường pháp chế XHCN, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức
pháp luật của nhân dân" [10, tr. 296].
1.2.2. Vấn đề, mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách giáo dục pháp luật
CSGDPL là việc sử dụng những hình thức khác nhau để tác động có hệ thống
và thường xuyên lên ý thức của con người nhằm trang bị cho họ những kiến thức
nhất định, để từ đó họ có những nhận thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và xử
sự theo yêu cầu của pháp luật. Nhận thức pháp luật bao hàm nhiều vấn đề hợp
thành, đó là kiến thức cơ bản về pháp luật hiện hành, những yêu cầu nghiêm ngặt
của pháp luật đối với mọi công dân trong xã hội, về giải quyết các vấn đề xã hội nảy
sinh, về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ, về hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội.
Những vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tạo nên mội dung cơ bản của
hoạt động CSGDPL.
Vấn đề đặt ra trong CSGDPL là hình thành và bồi dưỡng kiến thức pháp luật
cho mọi người dân, đảm bảo công dân đạt được trình độ hiểu biết nhất định về pháp
18
luật, từ đó, tự điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong mọi quan hệ xã hội. Sự
trưởng thành của mỗi cá nhân là quá trình tiếp nhận và xử lý các mối quan hệ của
xã hội, sử dụng pháp luật điều chỉnh hành vi bởi bản chất của pháp luật gắn liền với
Nhà nước và quyền lực Nhà nước.
Mục tiêu cơ bản của CSGDPL là nhằm hình thành ý thức pháp luật, là một
trong những hình thức ý thức xã hội được hình thành và phát triển trong mối quan
hệ, phối hợp với kết quả thực hiện CSGDPL. Nếu ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội nói chung thì ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, tình cảm
của con người thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng,
đúng đắn hay không đúng đắn của CSPL hiện hành, pháp luật trong quá khứ và
pháp luật hiện tại cần phải có tính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự
của con người trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức.
tự nhiên và đời sống xã hội". Phương pháp CSGDPL được quan niệm là cách thức,
biện pháp được chủ thể sử dụng để truyền đạt nội dung pháp luật tác động đến đối
tượng nhằm mục đích nâng cao nhận thức, tình cảm và lòng tin cũng như thói quen
xử sự theo pháp luật. Đó là các biện pháp, cách thức đặt vấn đề, tiếp cận vấn đề,
giải thích làm rõ các nguyên tắc, nội dung pháp luật, lý giải các hiện tượng pháp lý
một cách dễ hiểu có sức thuyết phục. Phương pháp phổ biến thường được dùng
GDPL hiện nay là: phương pháp thuyết phục, trực quan, kiểm tra đánh giá, tạo tình
huống cụ thể, phương pháp nêu gương, bắt buộc xử phạt, đối thoại, tranh luận…
Tùy thuộc khả năng tiếp nhận của đối tượng mà chủ thể GDPL lựa chọn phương
pháp phù hợp để thực hiện GDPL đạt hiệu quả có chất lượng.
Các phương pháp thực hiện CSGDPL quan hệ mật thiết và tác động, hỗ trợ
cho nhau, do đó không xem nhẹ hay coi trọng phương pháp nào và cũng không thể
áp dụng một phương pháp giáo dục chung cho nhiều đối tượng khác nhau về trình
độ, tuổi tác, nghề nghiệp, tâm lý… mà phải căn cứ vào đối tượng, vùng miền cụ thể.
Để pháp luật đến với từng đối tượng một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận thì cần có
phương pháp thực hiện CSGDPL đúng đắn; phải hiểu rõ đối tượng cần CSGDPL là
ai, trình độ nhận thức đến đâu, điều kiện, hoàn cảnh sống, mức độ quan tâm đến
pháp luật, yêu cầu áp dụng pháp luật trong cuộc sống. Ở nước ta, các phương pháp
thực hiện CSGDPL sau đây đã mang lại hiệu quả thiết thực:
- Phương pháp giảng dạy: Để thực hiện tốt phương pháp này cần phải kết hợp
phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại, cụ thể:
+ Phương pháp thuyết trình (phương pháp độc thoại): Đây là phương pháp đặc
thù trong quá tình thực hiện CSGDPL mà chủ thể của CSGDPL thuyết trình toàn bộ
nội dung bài giảng cho đối tượng được tiếp thu CSGDPL nghe;
20
+ Phương pháp đàm thoại: Đó là việc đạt các câu hỏi trong quá trình trình bày
nội dung của CSGDPL. Phương pháp này giúp đối tượng được tiếp thụ CSGDPL
suy nghĩ, nhớ bài và dễ vận dụng;
+ Phương pháp nêu vấn đề: Là phương pháp mà chủ thể CSGDPL đưa ra các
tình huống gần sát với nội dung được CSGDPL, giúp đối tượng sáng tạo, tự giải