Luận văn thạc sĩ công tác xã hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp luật từ thực tiễn tỉnh quảng ninh - Pdf 39

VIỆN HÀN
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ

ĐỖ THỊ

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM VI
PHẠM PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG

Chuyên ngành: Công tác xã
Mã số: 60 90 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC TS. HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI,


LỜI CAM
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.HÀ THỊ THƯ
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận
văn này trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm
2016 Học viên

Đỗ Thị


cho trẻ vi phạm pháp luật .......................................69 3.5. Chủ động bố trí kinh phí
địa phương hằng năm để đảm bảo thực hiện tốt các hoạt động công tác xã hội


DANH MỤC CÁC
Bảng

2.1:

Các

hành

động

sai

lệch



trẻ

đã

từng

thực

hiện........................... 38 Bảng 2.2: Các hoạt động giải trí nhóm mà trẻ nói

luật

...... 41

Biểu

đồ

2.3:

Hình

thức

truyền

thông............................................................... 43 Biểu đồ 2.4: Các kỹ năng
xã hội trang bị cho trẻ vi phạm pháp luật.............. 48 Biểu đồ 2.5: Các nghề
mà trẻ được hỗ trợ kết nối dạy và tạo việc làm .......... 54 Biểu đồ 2.6: Trình
độ chuyên môn của Nhân viên công tác xã hội................ 56 Biểu đồ 2.7:
Đánh giá năng lực làm việc của nhân viên công tác xã hội ....... 57 Biểu đồ
2.8: Tỷ lệ kinh phí hoạt động............................................................. 59 Biểu


MỞ
ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là những con người chưa trưởng thành về mặt thể chất, tâm
lý và xã hội, dễ bị tổn thương do những tác động của môi trường sống, cần
được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng
công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Để thúc đẩy việc thực hiện

đây không có hoặc ít thấy trong độ tuổi chưa thành niên thì nay có xu
hướng gia tăng như: buôn bán, tàng trữ, sử dụng ma túy; xâm phạm sức
khỏe và tính mạng con người.
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề mới ở Việt Nam
mặc dù nó có nguồn gốc và lịch sử phát triển hơn một thế kỷ qua trên thế
giới. Với bản chất là hướng đến sự trợ giúp con người trong cuộc sống,
nhất là những đối tượng thuộc nhóm bất lợi hoặc dễ bị tổn thương bằng
các hình thức can thiệp dựa trên góc độ tâm lý hay các mô hình can thiệp
từ cá nhân, đến nhóm và cộng đồng, công tác xã hội thể hiện được vai trò
quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là trong xã hội hiện đại, xã hội
công nghiệp, cũng như trong xã hội lấy vấn đề phúc lợi, công bằng làm
định hướng phát triển. Tuy nhiên, hiện nay những nghiên cứu về hoạt động
công tác xã hội còn khá mới mẻ, đặc biệt chưa có nhiều công trình nghiên
cứu đến hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp luật.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ
em vi phạm pháp luật từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm nghiên cứu
cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước
ngoài
Tình trạng vi phạm pháp luật là một dạng đặc biệt của các hiện tượng
sai trái trong xã hội, có tính nguy hiểm cho xã hội cao nhất. Nó không chỉ


Hiện tượng trẻ em vi phạm pháp luật là một thực tế tồn tại trong tất
cả các quốc gia. Nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu vấn đề người
chưa thành niên vi phạm pháp luật và giáo dục lại đối tượng này. Từ
những năm đầu thế kỷ XX, nhà giáo dục vĩ đại Nga A.X.Macarenco đã
có những cống hiến rất lớn về vấn đề giáo dục trẻ em hư, phạm pháp trên
cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Trong quá trình làm việc với những

thực trạng tình hình tội phạm thanh thiếu niên Trung Quốc trong những
năm 90 và đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tệ nạn này [30].
(4) Trong cuốn “Phạm nhân vị thành niên: luật, chính sách và
thực hành”, các tác giả đã đề cập đến vấn đề phạm nhân và cảnh sát, chuyển
đổi từ quá trình phạm tội, tòa án vị thành niên và quá trình kết án ở Anh
[21].
(5) LA.Dvojmennyj, V.A.Lelekov đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của
gia đình đến tình trạng phạm tội của lứa tuổi vị thành niên ở Nga [10].
(6) Tác giả Rita Reddy đã nghiên cứu về chiến lược và kinh
nghiệm phòng ngừa trẻ em lang thang, phạm pháp trong khu vực Đông
Nam Á. Tác giả tập trung đề cập về vấn đề luật pháp, giới thiệu các kinh
nghiệm can thiệp của cộng đồng một số nước khu vực Đông Nam Á như:
Thái Lan, Philippine, Malaysia [24].
(7) Trong bài viết “Những nguyên nhân xã hội của tội phạm vị
thành niên ở Hồng Koong” tác giả đã trình bày nghiên cứu của mình
về những nguyên nhân xã hội dẫn đến tình trạng phạm tội của vị thành niên
[20]...
Như vậy, ở rất nhiều nước trên thế giới vấn đề trẻ em vi phạm
pháp luật, đặc biệt là trẻ vị thành niên được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều
góc độ khác nhau. Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu kể trên, tôi thấy
các hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: Nghiên cứu tình hình
vi phạm pháp luật nói chung và tình hình trẻ vị thành niên vi phạm


lý vị thành niên phạm tội và nghiên cứu hệ thống các biện pháp phòng
ngừa, hạn chế tình trạng phạm tội của trẻ em, đặc biệt là trẻ vị thành niên.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, từ sau khi nước ta dành được độc lập (1945), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề: “phải giáo dục lại nhân dân chúng ta...”.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục lại trẻ em hư, người

một bức tranh khái quát về tình hình thanh thiếu niên vi phạm pháp luật,
nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên và đề xuất
những biện pháp phòng ngừa hiện tượng này.
Năm 1985, Phân viện Khoa học giáo dục tại Thành phố Hồ Chí
Minh đã thực hiện “Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ chưa ngoan và
trẻ phạm pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh” [19]. Các tác giả đã khái quát
về thực trạng trẻ phạm pháp và trẻ chưa ngoan ở Thành phố từ năm
1977-1985, nêu lên những nguyên nhân của thực trạng và các biện pháp
ngăn chặn và giáo dục lại chưa ngoan, phạm pháp.
Năm 2000, Tổng cục Cảnh sát tiếp tục “Nghiên cứu các giải
pháp phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật” nhằm đề ra các giải pháp đồng
bộ, có tính khả thi trong việc giảm tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật,
góp phần thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thời kỳ
2000-2010.
Năm 2010, ông Đàm Hữu Đắc - Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng chủ trì một đề tài nghiên cứu về “Thực trạng
vấn đề tệ nạn xã hội và công tác phòng chống tệ nạn xã hội trong thời kỳ đổi
mới”. Mặc dù đề tài chỉ tập trung vào hai dạng tệ nạn xã hội là ma túy
và mại dâm, nhưng nhóm nghiên cứu đã phác họa được những nét khái
quát về nguyên nhân và thực trạng vấn đề thanh niên và trẻ vị thành niên


trong đề tài là những lời cảnh tỉnh thiết thực với các nhà quản lý, giáo
dục, phòng chống và ngăn chặn tình hình trẻ vi phạm pháp luật.
Năm 2012, tác giả Đặng Lệ Thu và một nhóm nghiên cứu thuộc
Học viện cảnh sát đã tiến hành một đề tài nghiên cứu can thiệp “Định
hướng nghề nghiệp cho học sinh trường giáo dưỡng số 2 - Yên Mô Ninh Bình - Thực trạng và giải pháp”. Nhằm tìm hiểu về thực trạng công
tác định hướng nghề nghiệp và đào tạo nghề cho học sinh trong các
trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an hiện nay. Tác giả đã tiến hành khảo
sát với phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 196 học sinh (trên
15 tuổi) đang học tập, tu dưỡng tại trường và tham gia trực tiếp vào hoạt

xã hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp luật, từ đó đưa ra các biện pháp
thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp luật.
Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu, từ
đó xây dựng cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp cho
trẻ em vi phạm pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này.
Khảo sát và đánh giá thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật tại
tỉnh Quảng Ninh hiện nay; Các hoạt động của công tác xã hội tới nhóm trẻ
này và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này.
Đề xuất biện pháp thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với
trẻ em vi phạm pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm
đối với trẻ em vi phạm pháp luật từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh.


4.2 Khách thể nghiên
Đề tài nghiên cứu khách thể chính đó là trẻ em. Ngoài ra, còn có
các cán bộ làm công tác Lao động - Thương binh và Xã hội, cộng tác viên
công tác xã hội.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác xã
hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp luật từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh
qua 4 hoạt động: Hoạt động giải trí nhóm; Hoạt động giáo dục nhóm;
Hoạt động phát triển kỹ năng xã hội cho nhóm; Hoạt động hỗ trợ dạy
nghề và kết nối việc làm.
Phạm vi về khách thể: Nghiên cứu trên 100 trẻ em, có độ tuổi từ 14 18 tuổi; 30 cán bộ có liên quan tới trẻ đang làm việc tại các phường, xã.
Phạm vi về thời gian, địa bàn: Từ tháng 02/2016 - 6/2016 tại
Thành phố Hạ Long và Thị xã Đông Triều.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên

thái độ và cách ứng xử của trẻ để có cái nhìn khách quan, sinh động về vấn
đề nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Là phương pháp điều tra
xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho
nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một không gian, thời gian
nhất định. Sử dụng phương pháp này, có thể thu thập được một lượng
thông tin lớn mang tính đại chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông
tin.
Trong khuôn khổ luận văn và thực hiện đề tài, tôi có xây dựng
một bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi với các chỉ báo, con số định lượng để
thu thập thông tin từ trẻ về hành vi và mức độ vi phạm pháp luật; Thực
trạng các hoạt động xã hội liên quan đến việc trợ giúp cho trẻ vi phạm pháp


từ phương pháp này sẽ đem lại kết quả chính cho nghiên cứu.Cơ cấu bảng
hỏi gồm 4 phần:
+ Phần 1: Phần thông tin cá
nhân + Phần 2: Thông tin về
nhu cầu
+ Phần 4: Phần trả lời câu hỏi (Trong đó, số lượng câu hỏi là 28 câu)
Số lượng phiếu phát ra: 130 phiếu; Số lượng phiếu thu về: 130
phiếu
Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin cụ
thể của xã hội học, thông qua những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại
giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc
sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua
chính ngôn ngữ của người ấy.
Phỏng vấn sâu được tiến hành với cán bộ huyện/thành phố bao
gồm: Cán bộ lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể như: Chủ
tịch/phó Ủy ban nhân dân, Tư pháp, Công an,… nhằm tìm hiểu sâu những


Chương
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT
1.1 Trẻ em vi phạm pháp luật: khái niệm và đặc
1.1.1. Một số khái
niệm - Khái niệm trẻ
em
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11
của Việt Nam “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam
dưới 16 tuổi”. Theo Luật trẻ em số 102/2016/QH13 ngày 05/4/2016 quy
định: “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi”. Nhưng theo Điều 1 trong
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng với trẻ em đó quy định
tuổi thành niên sớm hơn” [2].
Từ điển xã hội họ - G.Endruweit và G. Trommsdorff - Nhà xuất bản
thế giới: Trẻ em vi phạm pháp luật là những hành động, hành vi làm
trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội. Những hành vi hành động này có
tác động có hại cho xã hội và con người [5].
Một khái niệm khác: Trẻ em vi phạm pháp luật là những người có
hành vi vi phạm các quy định của pháp luật ở các mức độ khác nhau.
Trẻ vi phạm pháp luật có thể bị xử lý theo Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính hoặc theo Bộ luật Hình sự phù hợp với Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em trong độ tuổi từ 14
-18 (gọi là người chưa thành niên) sẽ bị xử phạt hành chính về các vi
phạm hành chính có chủ ý và người chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên sẽ bị


lệnh xử lý vi phạm hành chính, số 44/2002/PL-UBTVQH10, ngày

triển nên hình thành nhóm bạn để chơi bời, học tập.
Ngoài các đặc điểm chung nói trên, trẻ em vi phạm pháp luật còn
có thêm một số đặc điểm tâm lý như: Tính ích kỷ, tính thiếu kiên định, tính
phủ định, tính dối trá, tính ưa tâng bốc, tính thô lỗ, tính vô kỷ luật.
* Nhu cầu của trẻ em vi phạm pháp luật.
Trước hết là nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ
sinh, đảm bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ;
Thứ hai, nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về mặt thể chất và
tinh thần của trẻ;
Nhu cầu được giải trí vui chơi (nhu cầu phát triển), học tập, thông
qua những hoạt động này đưa trẻ được hòa mình vào xã hội tự khẳng định
mình;
Nhu cầu được tôn trọng, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn,
ở bạn bè và ở cha mẹ. Sự tôn trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị lực của
trẻ;
Nhu cầu cao nhất của trẻ là tự khẳng định mình, chứng minh rằng
mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc.
Tuy nhiên, đối với trẻ vi phạm pháp luật thì cần thêm một số nhu
cầu như sau:
Nhu cầu được tham vấn, tư vấn: Thực tế khi tiếp xúc với nhóm trẻ
em vi phạm pháp luật cho thấy, phần lớn các em bị tổn thương về nhiều
mặt. Các em thiếu tình yêu thương và sự chăm sóc của cha mẹ, gia đình, dẫn
tới sự lệch lạc trong cấu trúc nhân cách, rối nhiễu tâm trí, rối loạn hành vi…
Hầu hết các em đều có nhu cầu được chia sẻ tâm tư nguyện vọng và vượt
qua những trở ngại tâm lý. Do đó, hoạt động tư vấn, tham vấn kịp thời có
thể giúp các em vượt qua khủng hoảng tâm lý, giúp các em nhìn nhận rõ


ngăn chặn, phòng ngừa những rối loạn hành vi trong các em như: giận
dữ, đánh nhau, bỏ ăn hay tự sát…

thân.
* Nguyên nhân dẫn đến trẻ em vi phạm pháp luật: Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến trẻ em vi phạm pháp luật, tuy nhiên ở đây tác giả chỉ
nêu ra ba nhóm nguyên nhân chính như sau:
- Nguyên nhân từ phía gia đình
Theo khảo sát cho thấy, những tác động từ gia đình khiến trẻ em hư,
vi phạm pháp luật là rất lớn. Có thể là do bố mẹ không thực sự gương
mẫu, thường xuyên vi phạm pháp luật, sống trái với những chuẩn mực xã
hội; hoặc một số khác thì quá mải mê làm ăn, quá đề cao lợi ích kinh tế
nên hướng trẻ em tới lối sống thực dụng, vì tiền v.v... Chưa thành công
trong việc giáo dục con cái là nỗi khổ tâm lớn nhất của các bậc cha mẹ.
Thực tế thì những trẻ lang thang và vi phạm pháp luật xuất phát nhiều từ
các gia đình quá chiều chuộng con cái. Trong các nguyên nhân của yếu tố
gia đình tác động khiến cho trẻ vi phạm pháp luật được biểu hiện ở các
mặt như: Cha mẹ không quan tâm đến việc giáo dục con cái; Cha mẹ, gia
đình là những gương xấu cho con cái noi theo; Không khí đạo đức trong
gia đình không thuận lợi; Cha mẹ không thống nhất được phương pháp
giáo dục con cái; Cha mẹ chưa nắm được phương pháp giáo dục con cái;
Cha mẹ chưa hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ…
Như vậy, gia đình là nơi gần gũi nhất với trẻ. Tuy nhiên, đây cũng
là nơi phát sinh ra các yếu tố tạo cho trẻ cơ hội tham gia vào các tệ nạn xã
hội. Vì vậy, các bậc cha mẹ cần phải có thái độ ứng xử hợp lý trong gia đình
để trẻ noi theo.
Nhà trường là nơi góp phần quan trọng trong việc giáo dục và rèn
luyện con người. Tuy nhiên, giáo dục trong nhà trường hiện nay còn đặt ra
nhiều bất cập: Chỉ chú trọng tới việc dạy chữ, chạy theo thành tích với


mà chưa thật sự chú ý đến việc giáo dục pháp luật, đạo đức nhân cách cho
học sinh, đặc biệt là việc trang bị những kiến thức, kỹ năng sống cho

khép mình vào thế giới nội tâm, có em lại muốn tự khẳng định mình,
không muốn phụ thuộc và rất dễ dàng bị tác động, rủ rê, lôi kéo của các đối
tượng xấu. Các em thường dễ dàng hành động mà không có sự cân nhắc,
tính toán. Chính sự vận động tâm lý đó đã chiếm một phần lớn các yếu tố
khác nhau dẫn đến con đường vi phạm pháp luật.
* Hậu quả của trẻ em vi phạm pháp luật
Việc trẻ vi phạm pháp luật để lại hậu quả nghiêm trọng không chỉ
cho bản thân các em mà còn cho cả gia đình, nhà trường và xã hội. Trước
hết, đối với bản thân trẻ phạm tội, sau khi có hành vi vi phạm sẽ phải
chịu nhiều hình thức xử phạt và ảnh hưởng lớn đến đạo đức, nhân cách
của trẻ, kìm hãm sự phát triển của trẻ, gây cho trẻ bị khủng hoảng tâm
lý, tự ti, xa lánh bạn bè và xã hội. Mặt khác, khi đã vi phạm pháp luật
thì tương lai của trẻ sau này cũng bị ảnh hưởng do những tiền án và tiền
sự mà trẻ đã có. Còn đối với gia đình của trẻ có hành vi vi phạm pháp
luật cũng bị ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và chịu nhiều tác động của
dư luận xã hội… Đối với xã hội, trẻ em là tương lai của đất nước nhưng
nếu trẻ vi phạm pháp luật thì đồng nghĩa với đất nước sẽ mất đi một phần
nguồn lực, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, nếp sống văn minh.
1.2. Lý luận về công tác xã hội nhóm đối với trẻ em vi phạm pháp
luật 1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội nhóm
Theo các tác giả Toseland và Rivas (1998) có nhiều cách tiếp cận
với Công tác xã hội nhóm và mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và
những ứng dụng thực hành cụ thể. Vì vậy, các tác giả này đưa ra một định
nghĩa bao quát được bản chất của Công tác xã hội nhóm và tổng hợp
những điểm riêng biệt của các cách tiếp cận với Công tác xã hội nhóm


hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu
nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu về tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status