VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH DŨNG
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƢỚC
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN DANH SƠN
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 ..................................................................................................................... 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ........................................ 7
MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM ...................................................................................... 7
1.1. Các khái niệm .............................................................................................. 7
1.3. Chủ thể và đối tượng chính sách bảo vệ môi trường ................................. 12
1.4. Mục tiêu và công cụ của chính sách bảo vệ môi trường ............................ 14
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách bảo vệ môi trường .................... 17
CHƢƠNG 2 ................................................................................................................... 23
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TẠI .................................... 23
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
CP
Chính phủ
ĐDSH
Đa dạng sinh học
ĐTM
Tác động môi trường
KCN
Khu công nghiệp
KH&CN
Khoa học và công nghệ
KH&KT
Khoa học và kỹ thuật
PTBV
Phát triển bền vững
Bình Phước là tỉnh mới thành lập so với nhiều tỉnh thành khác trong cả nước
nhưng trong thời gian qua do có sự quan tâm và đầu tư nên hoạt động quản lý bảo
vệ môi trường trên địa bàn tỉnh có những bước phát triển mới và đạt được nhiều kết
quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về môi
trường cũng còn tồn tại một số hạn chế nhất định như:
Nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát, quan trắc, thanh
tra, giám sát về môi trường trong tỉnh hiện nay tuy đã được tăng cường về số lượng
nhưng vẫn còn thiếu so với nhu cầu thực tế. Đồng thời, trên địa bàn tỉnh đội ngũ cán
bộ làm công tác quản lý cũng như tư vấn về môi trường còn quá ít; các nhà khoa
học, các tổ chức triển khai và ứng dụng kỹ thuật môi trường trên địa bàn tỉnh hầu
như không có. Chính vì thiếu về nguồn nhân lực quản lý môi trường nên không thể
thực hiện và giải quyết triệt để các vấn đề vướng mắc. Bên cạnh đó, các trang thiết
bị máy móc đầu tư cho công tác quan trắc, giám sát, kiểm soát ô nhiễm chưa được
đầu tư trang bị đầy đủ nên việc triển khai các công tác trên gặp rất nhiều khó khăn.
Việc giải ngân ngân sách sự nghiệp môi trường cho các chương trình, kế
hoạch, dự án bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh còn rất chậm và gặp rất nhiều khó
khăn vướng mắc về hồ sơ, thủ tục. Hàng năm, toàn tỉnh chi ngân sách cho công tác
bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt chỉ tiêu 1% ngân sách của địa phương.
Nhận thức về bảo vệ môi trường, chấp hành các quy định bảo vệ môi trường
trong cộng đồng dân cư và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ còn chưa cao.
Nguyên nhân chủ yếu là do công tác giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức của
1
cộng đồng chưa được chú trọng đúng mức, chưa được tổ chức thực hiện đúng cách
nên hiệu quả chưa cao. Các thông tin về môi trường, các chính sách, các quy định,
văn bản pháp luật chưa được cung cấp và phổ biến thường xuyên đến cộng đồng
dân cư. Điều này dẫn đến tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa
bãi, nạn săn bắt động vật rừng, khai thác gỗ, tàn phá rừng vẫn thường xuyên xảy ra,
rác thải trên địa bàn tỉnh còn bị người dân vứt bỏ bừa bãi ra đường phố, đổ ra sông,
trường từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” để làm luận văn thạc sỹ chính sách công, là
một yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài:“ Chính
sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn tỉnh Bình Phước“ cho thấy đây là vấn đề mới
mẻ, một số nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu, hội thảo, luận văn
tiến sỹ, thạc sỹ cùng nhiều văn bản Quyết định đã quan tâm, nghiên cứu và tiếp cận
theo nhiều cách với những cấp độ khác nhau như:
- Trần Thị Thùy Dung (2015), Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ
thực tiễn Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sỹ, ngành Chính
sách công, Học viện Khoa học xã hội.
- Đặng Thị Hà (2014), Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở
thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ, ngành Chính sách công, Học viện Khoa học
xã hội.
- Nguyễn Lệ Quyên (2012), Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố
Đà Nẵng”, Luận văn thạc sỹ, ngành kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quy
Nhơn.
- Vũ Hải Trang, Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà
nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do
tác động của rác thải công nghệ”, Luận văn thạc sỹ,Trường đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
- Bài viết “Vai trò của hoạt động tuyên truyền trong quản lý nhà nước và tài
nguyên môi trường” của Tiến sỹ Lương Hồng Hải; Tạp chí Khoa học công nghệ, số
02, năm 2013, Đại học tài nguyên và môi trường, Đà Nẵng.
3
- Mai Lan Oanh, Quảng Ninh phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên và
môi trường, Tạp chí Khoa học và công nghệ, số 01, năm 2011.
- Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Bình Phước
- Thời gian nghiên cứu: 2010-2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí
Minh để nghiên cứu các chủ thể và đối tượng chính sách BVMT. Luận văn sử dụng
cách tiếp cận từ trên xuống (đường lối, chủ trương, mục tiêu phát triển,…) kết hợp
với tiếp cận từ dưới lên (huy động sự tham gia của cộng đồng, quản lý dựa vào cộng
đồng,…). . Đồng thời dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh về các quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường được thể hiện
trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Pháp luật của Nhà nước để xem xét các
nội dung có liên quan đến chính sách BVMT tại tỉnh Bình Phước.
- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm các phương pháp thông
dụng trong nghiên cứu như: thống kê, so sánh, tổng hợp. Đồng thời luận văn cũng
sử dụng phương pháp nghiên cứu bàn giấy là thu thập các tài liệu, văn bản quy
phạm pháp luật về CSBVMT, trong đó:
+ Tài liệu thứ cấp: chủ yếu sử dụng số liệu từ báo báo tổng kết, đánh giá của
các sở, ban ngành của Tỉnh Bình Phước (sở Tài nguyên và Môi trường, sở Khoa học
và công nghệ, ...) cũng như các báo cáo của UBND tỉnh.
+ Tài liệu sơ cấp: sử dụng số liệu thông tin tự thu thập qua phỏng vấn sâu
một số cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Về mặt lý luận
Nhận thức sâu sắc vai trò của môi trường đối với sự phát triển bền vững giữa
kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Cung cấp luận cứ khoa học cho việc nhận
thức, quán triệt sâu rộng quan điểm bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng,
toàn dân, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân và
trên cơ sở đó cụ thể hóa chính sách và tổ chức thực hiện chính sách BVMT một
cách hiệu quả hơn.
* Về mặt thực tiễn
cũng có thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm,
tiếng ồn v.v.. Xét về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc
là toàn bộ hành tinh của chúng ta. Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới
vật chất làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014, môi
trường: “là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự
tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [21, tr.16]. “Môi trường” cũng có
thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay
một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Như vậy,
chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm:
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên, gồm cả sinh vật và phi sinh vật như không
khí, nước, đất, động vật, thực vật và sự tương tác giữa các yếu tố đó; Những tài sản
mà là một phần của di sản văn hóa; Các đặc điểm khía cạnh của cảnh quan.
Các nhà sinh thái học đã chỉ ra rằng, toàn bộ môi trường sống của chúng ta
(không khí, nước, đất đai) và tất cả các loài sinh vật có mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau. Khi có bất kỳ một thành tố nào của môi trường bị tổn hại sẽ dẫn đến ảnh
hưởng đến các thành tố khác và kéo theo là ảnh hưởng đến môi trường sống, sức
khỏe của con người, và chúng ta không bao giờ có thể lường trước được hậu quả.
7
Như vậy, môi trường gồm nhiều thành tố hợp thành, nhưng môi trường cần
được hiểu một cách tổng hợp, toàn diện như một thề hoàn chỉnh, không thề tách rời
các bộ phận
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí,
đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội... đó là hệ sinh thái – nhân văn.
Trong hệ sinh thái – nhân văn tồn tại và hoạt động rất nhiều mối liên hệ nhiều chiều,
nhiều hướng, nhiều cường độ.
thể coi môi trường tự nhiên cung cấp một loại tài nguyên đặc biệt - thông tin về sự
sống.
1.1.2. Bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy
thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Nguyên tắc về bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi
trường năm 2014 thì các nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm:
- Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân.
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội,
bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng
phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường
trong lành.
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm
thiểu chất thải.
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và
toàn cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên
phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.
9
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng
lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường
phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp
giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển kinh tế - xã hội, thực trạng môi trường đang nảy sinh nhiều hệ lụy phức tạp,
trong đó, vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường đang có xu hướng gia tăng, ngày
một gay gắt, đe dọa trực tiếp tới các thành quả về phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy
vấn đề chính sách bảo vệ môi trường ở đây chính là:
- Áp lực môi trường đe dọa tới sự phát triển bền vững, đó là các áp lực lên
môi trường do các hoạt động sản xuất và dân sinh đang ngày càng rõ nét như: trồng
trọt, lâm nghiệp; chăn nuôi; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản; chế biến nông sản thực
phẩm; hoạt động dân sinh; hoạt động phát triển công nghiệp và các ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu…
- Việc phát triển các khu công nghiệp ở nước ta diễn ra khá nhanh, công tác
quản lý, BVMT tại các khu công nghiệp đã có những chuyển biến tích cực, tuy
nhiên, vẫn còn tồn tại tình trạng nhiều khu công nghiệp đang hoạt động chưa có hệ
thống xử lý nước thải tập trung, chưa xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn đạt yêu
cầu, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đời sống của người dân
- Mặt khác, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư xây dựng các dự
án mới chỉ chú trọng tới lợi nhuận mà bỏ qua một số điều kiện về công tác BVMT,
như không đánh giá tác động môi trường, không chú trọng việc xây dựng hệ thống
xử lý nước thải. Ô nhiễm môi trường không khí ở khu vực đô thị cũng ngày càng
gia tăng, chủ yếu từ phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng và chất thải sinh
hoạt.
Nguyên nhân của vấn đề chính sách
Một là, công tác hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của
đất nước, nhiều văn bản, chính sách pháp luật còn trùng tréo, mâu thuẫn gây khó
khăn trong quá trình thực hiện.
11
trường trong cả nước.
phủ
KT-XH trên cả
nước
Thực hiện chức - Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị
năng quản lý quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo
Bộ Tài nhà nước về nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
nguyên các lĩnh vực: dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ
và Môi đất đai; tài và quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo
trƣờng nguyên nước; chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật về
tài
nguyên BVMT.
khoáng sản, địa - Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương
12
Mức
độ
Rất
quan
tâm
Rất
quan
tâm
chất;
môi
trường…; quản
Các bộ, chức triển khai
hiện
ngành thực
đường lối, chủ
địa
phƣơng trương từ cấp
Trung ương.
trình phát triển các ngành, lĩnh vực về BVMT.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
thuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin,
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
tài nguyên và môi trường.
- Xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm để
thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương phân bổ nguồn kinh phí xây
dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp môi trường và
các nguồn kinh phí khác để đầu tư cho công
tác bảo vệ môi trường, tập trung ưu tiên đầu tư
và nghiên cứu đầu tư các dự án trọng điểm
- Thực hiện chế độ tài chính đối với chính sách
BVMT, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, đào
tạo…
- Cân đối ngân sách hàng năm cho hoạt động
của Đề án, Chương trình quy hoạch xây dựng
thực hiện chính sách BVMT
- Tổ chức tốt hệ thống thông tin về kết quả
vùng biển và vùng trời
Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà
máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn.
Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô
nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn,
khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần
tiêu chuẩn cho phép. Vì lẽ đó, xây dựng chính sách bảo vệ môi trường có ý nghĩa
vai vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
1.4. Mục tiêu và công cụ của chính sách bảo vệ môi trƣờng
1.4.1. Mục tiêu của Nhà nước về bảo vệ môi trường
Mục tiêu bảo vệ môi trường quốc gia được xác định gắn với các quan điểm
về bảo vệ môi trường trong phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã xác định
các quan điểm sau về bảo vệ môi trường:
- Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại, là bộ phận cấu thành
không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội, chiến lược phát triển bền
vững; Bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ
mai sau; Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
- Phát triển phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thân
thiện với môi trường; Khuyến khích phát triển kinh tế phù hợp với đặc tính sinh thái
của từng vùng, hướng tới nền kinh tế xanh.
- Ưu tiên phóng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, coi trọng tính hiệu quả, bền
vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Chú trọng bảo tồn
đa dạng sinh học, từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; tăng
cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi
người dân phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của
các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa trung ương và địa phương; Kết hợp phát huy
14
15
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình đề án phát triển kinh tế xã hội.
Việc tạo hành lang pháp lý và các điều kiện cần thiết để ban hành các văn bản,
chính sách cần phải được khảo sát, đánh giá chi tiết và đồng bộ. Đẩy mạnh xã hội
hóa công tác bảo vệ môi trường, trong đó đẩy mạnh hình thức hợp tác công tư cho
lĩnh vực xử lý chất thải; cần có các biện pháp gắn kết giữa quản lý nhà nước với
công tác nghiên cứu và đào tạo để phát triển tốt nguồn nhân lực trong lĩnh vực môi
trường và bảo vệ môi trường.
Ban hành cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu
khoa học và công nghệ phục vụ công tác BVMT, tập trung nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ xử lý chất thải, sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi
trường, các mô hình phát triển kinh tế xanh.
- Công cụ tổ chức
Các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hôi cần phải
coi bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Các hoạt
động bảo vệ môi trường và hiệu quả của các hoạt động đó phải được coi là một
trong những chỉ số quan trọng, có tính pháp lý, để đánh giá mức độ hoàn thành
nhiệm vụ nói chung của mọi tổ chức trong hệ thống.
Thường xuyên coi trọng công tác thanh tra và kiểm tra việc thực hiện pháp
luật về bảo vệ môi trường; tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng tổ chức và
cán bộ thanh tra môi trường ở trung ương và địa phương. Trong đó, cần có cơ chế
liên kết và phối hợp tốt, có sự chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn giữa các cơ quan
trung ương với nhau, giữa các cơ quan trung ương và các địa phương và giữa các
địa phương có liên quan.
Mặt khác trong mỗi tổ chức cần tăng biên chế cán bộ quản lý môi trường cấp
quận/huyện, biên chế cán bộ quản lý môi trường ở cấp phường/xã và sớm có hình
thức đào tạo phù hợp cho cán bộ quản lý môi trường cấp phường/xã, vì môi trường
là lĩnh vực quá rộng, hết sức cần thiết cho hiện tại và lâu dài. Đồng thời, nâng cao
môi trường nói riêng có nhiều và được phân chia thành các nhóm khác nhau. Ở đây
sử dụng cách phân chia thành: nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan.
1.5.1. Nhóm yếu tố chủ quan
a) Hệ thống chính trị
17
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của
việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính
trị xã hội của quốc gia đó. Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ
hơn nữa. Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị. [8,
tr.90].
- Văn hóa chính trị
Theo GS. Hoàng Chí Bảo: “Văn hóa chính trị là chất lượng tổng hòa của tri
thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạo thành ý thức chính trị của công dân, thúc đẩy
họ hướng tới những hành động tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị, xã hội…”
Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính
sách bảo vệ môi trường nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị
của những nhà hoạch định chính sách đặc biệt là chính sách bảo vệ môi trường được
xem là vấn đề văn hóa và đạo đức. Bảo vệ môi trường còn liên quan cả đến phát
triển bền vững bao hàm cả 3 yếu tố phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công
bằng xã hội.
- Hiến pháp
Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng
chính sách công. Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính
sách công phải tuân theo. Do đó, chính sách bảo vệ môi trường cũng được xây dựng
và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp. Những quy định của chính
sách bảo vệ môi trường cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được vượt qua
khỏi những quy định của pháp luật.
- Thể chế chính trị
coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, là cơ sở cho các hành động, hành vi cũng như
tuân thủ các quy định pháp luật, chính sách về bảo vệ môi trường.
c) Năng lực của bộ máy quản lý, trong đó năng lực, trình độ nghiệp vụ của
cán bộ quản lý có vai trò quyết định.
Nếu các cấp chính quyền chưa hoặc chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm
đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường thì thường dẫn đến buông lỏng quản
lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường hạn
19
chế thường dẫn đến không chỉ làm cho các chính sách về bảo vệ môi trường bất cập
so với thực tiễn đòi hỏi mà còn làm cho chính sách chậm hoặc khó đi vào cuộc
sống, thậm chí cản trở thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường.
1.5.2. Nhóm yếu tố khách quan
- Do điều kiện tự nhiên
Trong thời gian gần đây thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên
phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển
kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công
tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều
ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và
ngày càng nghiêm trọng. Ô nhiễm do điều kiện tự nhiên diễn ra trên địa bàn tỉnh là
do sự bào mòn hay sụt lở núi đồi, đất ven bờ sông làm dòng nước cuốn theo các
chất cơ học như bùn, đất, mùn, cát,... hoặc do sự ô nhiễm khói bụi từ các vụ cháy
rừng, hỏa hoạn, do lưu lượng nước không đồng đều cụ thể:
Tỉnh Bình Phước có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ khoảng
0,7 - 0,8 km/km2. Trên địa bàn tỉnh có 4 con sông lớn chảy qua với tổng lượng
nước là 7.182 triệu m3, lưu lượng dòng chảy là 228 m3/s. Tuy nhiên, sông suối trong
vùng có lòng sông hẹp, dốc, lũ lớn trong mùa mưa và khô kiệt trong mùa khô, mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và chiếm 85 – 90% tổng lượng mưa cả năm, trong khi
trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm
cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội,
thể chất, trí tuệ con người...), thì sự phát triển không phải là bền vững, thậm chí còn
có thể triệt tiêu cả sự phát triển.
- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và tăng trưởng kinh tế
Quá trình CNH - HĐH có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới
đối với việc BVMT. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu đưa nước
ta đ lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, xã hội, y tế, giáo
dục...đã đạt được thì việc phát triển nóng của nền kinh tế trong những năm gần đây
đã gây ra không ít tác động tiêu cực đến môi trường như: tài nguyên thiên nhiên bị
cạn kiệt, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường..., điều đó đã và đang ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người.
21